Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Qua Phong Khê

Vũ Bình Lục | Thứ Năm, 21/12/2017 21:02 GMT +7

(vanhien.vn): Một bài thơ hay của Trần Lôi.

Phiên âm:

QUÁ PHONG KHÊ

 

Lãng Bạc ta diên trụy,

Phong Khê trúc kiển thành.

Nhất thời cân quắc trận,

Đẩu nhĩ lập công danh.

 

Dịch nghĩa:

QUA ĐẤT PHONG KHÊ

 

Trông hồ Lãng Bạc than thở rơi diều,

Ở đất Phong Khê xây đắp thành kén.

Đội quân khăn yếm một thời,

Lập nên công danh vang dội.

 

DỊCH THƠ

Bản dịch của Tuấn Nghi và Phạm Đức Duật:

 

Lãng Bạc diều rơi xuống,

Phong Khê đắp Kiển Thành.

Một thời khăn yếm đấy,

Vang dội lập công danh.

 

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

 

Trông Lãng Bạc, than diều rơi,

Phong Khê thành Kén đắp bồi vững sao.

Công danh thua kém ai nào,

Đội quân khăn yếm má đào liệt oanh !

 

Chưa biết Trần Lôi sinh và mất năm nào, quê quán và hành trạng ra sao. Cũng mới chỉ biết ông sống vào khoảng cuối đời Trần. Tác phẩm của ông cũng chỉ còn lại 1 bài thơ được chép trong sách Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.

Bài thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, gọn và chắc. Tuy nhiên, chỉ với bốn câu thơ ngũ ngôn mà trải ra tình ý thật sâu rộng.

Hai bà Trưng khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của giặc phương Bắc vào năm 40 sau công nguyên, đánh chiếm 65 thành trì của giặc, giải phóng toàn bộ đất đai của nước Nam Việt. Nước Nam Việt, do Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) lập nên, sau khi ông đã dẹp được An Dương Vương Thục Phán, kẻ đã cướp nước Văn Lang của vua Hùng rồi dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Triệu Vũ Đế đóng đô ở Phiên Ngung, nay thuộc tỉnh Quảng Đông bên Tàu. Nước Đại Việt ta hồi đó là một phần của nước Nam Việt, bao gồm cả miền đất từ sông Dương Tử trở về phía Nam, nay gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và bán đảo Hải Nam của Trung Quốc. Dãy núi Ngũ Lĩnh là biên giới hiểm trở phân chia nước Nam Việt ta và nhà Hán bên Tàu. Hai Bà Trưng đánh đuổi được tên Thái thú Tô Định, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc Hà Nội), cai quản toàn bộ đất đai rộng lớn của nước Nam Việt cũ. Tuy nhiên, cũng chỉ được 3 năm, nhà Hán sai Mã Viện đem quân hùng tướng mạnh lại sang đánh cướp. Hai bà Trưng thua trận. Nước ta lại rơi vào vòng đô hộ của giặc Tàu. Mã Viện sau đó cho xây thành hình con kén (Kiển Thành) ở Phong Khê, chia nước ta thành quận huyện. Nước ta biến thành quận Giao Chỉ. Mã Viện đặt thêm hai huyện mới trong quận Giao Chỉ là Vọng Hải và Phong Khê. Huyện Phong Khê hồi ấy gồm cả tỉnh Phúc Yên ngược lên vùng Tam Giang phía tây nước ta và huyện Đông Anh của thành phố Hà Nội ngày nay. Các cụ ta xưa lấy Triệu Vũ Đế làm triều đại đầu tiên, tiếp nối triều đại các vua Hùng dựng nước là có lý do lịch sử của nó.

Diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có câu: “Đô thành đóng cõi Mê Linh / Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”. Lĩnh Nam là cả vùng đất phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, tức toàn bộ đất Lưỡng Quảng và bán đảo Hải Nam nay thuộc Trung Quốc. Tiến sĩ Vũ Quỳnh đời Hậu Lê biên soạn sách LĨNH NAM CHÍCH QUÁI, tức các chuyện ma quái ở đất Lĩnh Nam, tức nước Nam Việt của người Bách Việt ta ở thời Triệu Vũ Đế. Thế nên Nguyễn Trãi viết trong BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO rằng: “Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập / Cùng Hán, Đường Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương / Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau / Song hào kiệt đời nào cũng có !”. Bắc đây chỉ người Hán. Nam đây chỉ nước Nam Việt, đất đai của người Bách Việt (hàng trăm tộc Việt), mà nước ta ngày nay chỉ là một trong số hàng trăm tộc Việt mà thôi.

Tác giả Trần Lôi viết:

Trông hồ Lãng Bạc than thở rơi diều,

Ở đất Phong Khê xây đắp thành Kén.

Hồ Lãng Bạc là hồ nào vậy? Đó chính là một trong mấy cái tên của Hồ Tây Hà Nội bây giờ, tùy theo đặc điểm lịch sử mà đặt. Ví như là hồ Dâm Đàm (tức hồ sương mù, gắn với câu chuyện đời Lý Nhân Tông, Thái sư Lê Văn Thịnh hóa hổ. Ví như hồ Kim Ngưu (Trâu vàng), hồ Xác Cáo, đều gắn với những truyền thuyết dân gian. Chính Mã Viện đem quân sang xâm lược nước ta, đã từng than thở khi hắn đứng trước hồ Lãng Bạc rộng mênh mông thời ấy: “Ngước trông thấy diều bay / Lớp lớp rơi xuống nước (Ngưỡng thị phi diên, điệp điệp trụy thủy chung). Câu này ý nói đất Nam Việt hiểm trở, hồ Lãng Bạc rộng lớn, đến nỗi con diều cũng không bay qua được, phải rơi thẳng xuống nước. Trần Lôi mượn tích này đưa vào thơ của mình, để nói cái sự rộng mênh mông của hồ Lãng Bạc, thật là tinh tế. Mã Viện xây thành Kén (thành tròn như tổ kén) ở Phong Khê. Thành Kén (Kiển thành) mà Mã Viện cho xây dựng nay thuộc đất Mê Linh, kinh đô cũ của triều đại Hai Bà Trưng (40-43 Sau Cn). Đấy là tình ý của hai câu thơ đầu, mới chỉ là kể đấy thôi.

Hai câu thơ cuối, ca ngợi công lao của Hai Bà Trưng. Đội quân của Hai Bà chủ yếu là đàn bà, khăn yếm má đào, nhưng đã làm nên một câu chuyện chưa từng có trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm lừng lẫy và vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta vậy !

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}