Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sinh vật cảnh:

 

Quan hệ hợp tác công tư trong đổi mới sáng tạo nông nghiệp (Phần I)

TS. Lê Thành Ý - ThS. Vương Xuân Nguyên | Thứ Bảy, 15/09/2018 22:28 GMT +7

(Vanhien.vn) Bộ NN&PTNT đã có đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trong các giải pháp để đạt mục tiêu, mô hình hợp tác công-tư được lựa chọn là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, việc thực hiện mô hình này có nhiều nút thắt cần  được tháo gỡ. Từ bản chất hợp tác công-tư đối với đổi mới sáng tạo, trong  xu thế phát triển toàn cầu và từ thực tiễn Việt Nam; bài viết đề cập đến một số khía cạnh nổi bật để cùng trao đổi.

ts0000

TS. Lê Thành Ý và ThS. Vương Xuân Nguyên tại Hội thảo khoa học Việt Nam - Nhật Bản

Đặt vấn đề

Ngành nông nghiệp đang phải đối mặt với thách thức toàn cầu về lương thực, thực phẩm và nhiên liệu để đáp ứng nhu cầu thay đổi với tốc độ gia tăng cao. Thực tế phát triển đòi hỏi hệ thống đổi mới sáng tạo của ngành phải mở rộng nhanh các sáng kiến nhằm nâng cao năng suất, tính bền vững trong chuỗi cung ứng thực phẩm và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong đổi mới sáng tạo là sự cần thiết để cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu, tạo tác động và hiệu ứng lan tỏa rộng lớn của ngành. Sự hợp tác này còn là kênh quan trọng để nâng cao hiệu quả nguồn kinh phí công được sử dụng trong hoạt động đổi mới sáng tạo trong ngành nông nghiệp.

Quan hệ hợp tác công-tư (Public-Private Partnership-PPP) là lựa chọn có lợi cho hợp tác giữa các thành phần đổi mới sáng tạo ở mọi cấp độ. Trong nhiều trường hợp, PPP mang lại hiệu quả cao hơn so với các công cụ chính sách khác như trợ cấp, tín dụng và đánh thuế... Lợi lợi ích của mô hình hợp tác công-tư xuất phát từ khả năng tổng hợp và sự bổ sung lẫn nhau giữa các nguồn lực. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về quản trị và thực hiện cần được xem xét một cách cẩn trọng để đảm bảo thành công, đặc biệt là ở những nước mới phát triển.

ts1

Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Hoa cây cảnh Việt Nam trực thuộc Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam là một hình thức hợp tác công tư trong Nông nghiệp

Việt Nam là quốc gia đã và đang thử nghiệm mô hình PPP với sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia và công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp. Những mô hình hợp tác công-tư về về thủy sản, cà phê, chè, rau quả, hàng hoá và tài chính... trong khuôn khổ “Tầm nhìn mới trong nông nghiệp” của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã hoạt động hiệu quả và được đánh giá khá cao. Tuy nhiên, với lợi thế và xu hướng đầu tư toàn cầu, các chuyên gia đã chỉ ra những điểm yếu trong PPP của các ngành chè, cà phê, mía đường, thủy sản, rau củ quả…đó chính là tính nhỏ lẻ, quy mô thiếu đồng bộ và chưa sát với thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam.

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Chính phủ Việt Nam, đặt nông nghiệp là động lực cho sự phát triển và coi phát triển nông nghiệp bền vững là một mục tiêu chiến lược. Để tăng trưởng ổn định, đạt giá trị gia tăng cao, cần đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thông qua các hình thức hợp tác, liên kết có sự tham gia của khu vực tư nhân trong tổ chức lại sản xuất và hiện đại hóa ngành nông nghiệp.

Hiện đại hóa nông nghiệp cần dựa trên cơ sở sử dụng hiệu quả vốn đầu tư lớn của Nhà nước và huy động hợp lý các nguồn lực đầu tư xã hội. Trong điều kiện ngân sách Chính phủ hạn hẹp và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đang giảm dần, hợp tác công-tư được coi là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào phát triển nông nghiệp bền vững. 

Hợp tác công-tư với đổi mới sáng tạo

Theo nghĩa rộng, PPP được hiểu là sự thỏa thuận giữa các đối tác nhà nước và tư nhân vì mục đích chung và cùng chia sẻ rủi ro. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) xác định, PPP phục vụ đổi mới là “bất kỳ hình thức thỏa thuận hợp tác chính thức nào trong một khoảng thời gian cố định hoặc không hạn định giữa các đối tác nhà nước và tư nhân, trong đó cả hai bên cùng tương tác trong quá trình ra quyết định và cùng đầu tư các nguồn lực khan hiếm như tiền bạc, nhân lực, phương tiện và thông tin nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong lĩnh vực Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo (KHCN&ĐMST)”.

Theo thang cấp độ sẵn sàng công nghệ (Technology Readiness Level - TRL), phân công lao động giữa khu vực công và tư, bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản đến kết thúc thực hiện các hệ thống vận hành có sự khác biệt. Những khác biệt này phụ thuộc vào công nghệ, sự bất định , bản chất nghiên cứu và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ở từng địa phương. Tài trợ công thường tập trung vào giai đoạn ban đầu và trong các nghiên cứu bao quát mang tính bất định cao. Phần chia sẻ của tài trợ tư nhân và phạm vi lý thuyết trong quan hệ hợp tác tăng theo cấp độ sẵn sàng công nghệ. Trong nhiều trường hợp, nguồn lực kết hợp công-tư sẽ trở thành phương án thay thế, khi quá trình đổi mới sáng tạo trở nên phức tạp hơn và PPP có thể đối phó được với sự thất bại từ công cụ chính sách khác để đạt mục tiêu. Ở một số nơi, thậm chí PPP còn là cách duy nhất để đạt được những lợi ích xã hội trong giải quyết thách thức đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động trong các chiến lược như biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, già hóa dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và tri thức đắt tiền, hoặc để đối phó với các vấn đề phức tạp đòi hỏi kỹ năng đa dạng và cách tiếp cận đa ngành.

Ngoài việc bổ sung cho chính sách và những thất bại thị trường, sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động đổi mới sáng tạo như phát triển kỹ năng, phát triển mạng lưới hoặc khả năng tham gia vào mạng lưới đổi mới toàn cầu được coi là động cơ để tiến hành hợp tác công tư. PPP giúp xây dựng năng lực sáng tạo mới, cải thiện kết nối giữa các hệ thống đổi mới quốc gia và tạo ra sự khuyến khích phù hợp với tất cả các bên liên quan (NASATI 2016 tr10).

Hình thức PPP phục vụ ĐMST có sự khác biệt trong mối quan hệ hợp đồng song phương hoặc đa phương. Tổ chức PPP rất đa dạng, có thể từ những dự án quy mô nhỏ, thậm chí ở mức độ cá nhân, cho đến các dự án đa ngành quy mô lớn với độ rủi ro và chi phí rất cao. Dựa vào mục đích, mức độ thể thức, các quy định thể chế hoặc thành phần tham gia, tổ chức OECD đã phân định thành những loại hình PPP phù hợp với các biện pháp chính sách đổi mới sáng tạo, bao gồm: PPP định hướng nhiệm vụ mua sắm công; định hướng thị trường liên quan đến trợ cấp nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp;định hướng quan hệ công nghiệp-khoa học để thực hiện R&D công; và định hướng cụm/mạng lưới nhằm hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho R&D trong doanh nghiệp. (NASATI 2016 Tr 7).

ts2

Xã hội hóa hoạt động đầu tư nông nghiệp là một hướng đi đúng đắn nhằm thu hút các nguồn lực xã hội đầu cho lĩnh vực này

Lý do cơ bản để các đối tác công và tư tham gia vào dự án PPP là các bên riêng lẻ khó có thể tạo ra được các dịch vụ hay kết quả tốt hoặc phải chi phí cao hơn khi thực hiện một mình. Đối với cả khu vực công và tư, lợi ích của PPP xuất phát từ việc tổng hợp nguồn lực và bổ sung năng lực, đồng thời với giảm thấp rủi ro và chi phí. So với hình thức trợ cấp, PPP giúp tránh gây trở ngại cho phát triển và cho phép đưa ra các giải pháp tích hợp. Tuy nhiên, còn 2 vấn đề cần được cân nhắc đó là chi phí giao dịch và nguy cơ thất bại. Các nhà phân tích cho rằng, việc áp dụng tiếp cận PPP nhằm mục tiêu nhất định phải được xem xét dựa trên cân đối chi phí và lợi ích đạt được so với các phương án cần thay thế và tất cả các đối tác đổi mới sáng tạo đều được tham gia PPP.

Chính phủ tham gia vào mô hình PPP phục vụ đổi mới sáng tạo nhằm tăng lợi ích kinh tế và xã hội từ việc đầu tư vào nghiên cứu công. Thông qua nâng cao tác dụng đòn bẩy tài trợ công cho R&D doanh nghiệp, chính phủ sẽ chia sẻ chi phí và những rủi ro; đồng thời đảm bảo để khu vực tư nhân có những đóng góp chất lượng cao cho R&D định hướng nhiệm vụ và mở ra con đường lan tỏa thương mại, thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu công và cung cấp cơ sở hạ tầng tri thức.

Đẩy mạnh chuyển giao tri thức từ các tổ chức nghiên cứu công đến xã hội và cộng đồng doanh nghiệp là động lực thúc đẩy khu vực công tham gia vào các dự án PPP trong các hệ thống đổi mới sáng tạo. Một động lực khác là tạo tác dụng đòn bẩy từ các nguồn kinh phí nghiên cứu công. Do đầu tư tư nhân thường tập trung vào những lĩnh vực có lợi nhuận cao, PPP có thể được sử dụng để chuyển hướng nỗ lực đổi mới sáng tạo vào những lĩnh vực thuộc thể loại hàng hóa công, có tầm nhìn dài hạn và hàm chứa nhiều rủi ro.

Các chủ thể đổi mới sáng tạo sử dụng PPP ngày càng nhiều để tăng cường khả năng phối hợp theo chiều dọc trong chuỗi giá trị. Mục đích của hợp tác này ít hướng vào việc tạo ra tri thức mới, mà chủ yếu nhằm vào phổ biến hiệu quả các kiến thức hiện có cho các công ty để có thể sử dụng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và cạnh tranh trên thị trường thế giới.

ts3

Hợp tác công tư trong đổi mới sáng tạo nông nghiệp là hướng đi đúng đắn của nền Nông nghiệp 4.0 mở ra cơ hội hợp tác với những nền Nông nghiệp tiến tiến trên thế giới

Hợp tác công-tư phục vụ đổi mới sáng tạo nông nghiệp

Trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của ngành nông nghiệp, PPP được định nghĩa là “Các cơ chế hợp tác; trong đó, các tác nhân tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu chia sẻ nguồn lực, rủi ro và tạo ra sự đổi mới sáng tạo vì sự phát triển của ngành bao gồm cả chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Các đối tác tiềm năng bao gồm các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan khuyến nông thuộc khu vực công, các hiệp hội nhà sản xuất, doanh nghiệp và nhà sản xuất tư nhân. Thông thường, ở các nước kém phát triển, mối quan hệ hợp tác này được hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức hợp tác quốc tế” (Hartwich et al 2007).

Từ đòi hỏi của mục tiêu hợp tác, đóng góp bổ sung và cam kết của các đối tác mở ra những quan hệ tuân theo tiêu chí công bằng và các quy định thoả thuận rõ ràng, Van der Meer xác định “PPP phục vụ nghiên cứu nông nghiệp là việc tổng hợp các nguồn lực công và tư với mục đích cung cấp giá trị gia tăng cho cả hai bên, trong đó khu vực tư nhân bao gồm cả các công ty địa phương và đa quốc gia cũng như nông dân và các hiệp hội của họ”(Meer, van der, K. 2002),

Theo đó, hai bên hợp tác cần có cùng mối quan tâm, đối với khu vực tư nhân có thể nhằm vào việc gia tăng thị phần, trong khi khu vực công mong muốn đạt được sự tiến bộ trong phát triển nông thôn bền vững. Cả 2 bên đều phải mang đến một số nguồn lực để hợp tác, vì lợi ích chung; và đều kỳ vọng vào một số lợi ích thực tế khó có thể đạt được nếu thực hiện riêng lẻ một mình.

Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới về Hệ thống đổi mới sáng tạo nông nghiệp, PPP được định nghĩa là  “...những thỏa thuận để mang lại các kỹ năng bổ sung của khu vực công và tư nhân cho một chương trình hay dự án, trong đó mỗi đối tác có một mức độ tham gia và trách nhiệm khác nhau, với mục tiêu cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ công” (WB, 2012),  .

Từ những khái niệm theo định nghĩa của tổ chức OECD và sự khác biệt giữa các cấp độ công nghệ nông nghiệp có thể thấy: Hình thức hợp tác công-tư nhằm phát triển các công nghệ được coi là định hướng nhiệm vụ; PPP phát triển chuỗi giá trị thuộc loại định hướng thị trường; PPP cho R&D nông nghiệp thuộc định hướng quan hệ công nghiệp - khoa học; và PPP để phát triển các mạng lưới thuộc loại định hướng cụm/mạng lưới (NASATI 2016 tr.7)

Mặc dù không phải lúc nào cũng có thể phân tích và rút ra được kinh nghiệm thành công trong các hoạt động chức năng; song từ mục đích đổi mới nông nghiệp, Hartwich (2005) đã đề xuất, hợp tác công tư phục vụ ĐMST nông nghiệp cần dưa trên những tiêu chí tập trung vào bản chất của nghiên cứu cơ bản, chiến lược hoặc thích nghi; các khâu cơ bản trong chuỗi thực phẩm bao gồm cả đầu vào, sản xuất ban đầu hoặc sau thu hoạch và mức độ tham gia của khu vực tư nhân.

ts4

Hợp tác công tư làm cho mối liên kết giữa nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ trong lĩnh vực Nông nghiệp thêm chặt chẽ

Trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, các đối tác không thuộc khu vực công có thể là các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, các nhà chế biến, các nhà bán lẻ, nông dân, tổ chức phi chính phủ và đại diện người tiêu dùng. Sự tham gia của các thành phần đại diện trên phạm vi rộng trong quan hệ hợp tác công tư được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự thích nghi và chấp nhận đổi mới của người tiêu dùng.

Việc thúc đẩy liên kết và hiểu biết giữa các nhà nghiên cứu công và tư nhân, giữa các cộng đồng nghiên cứu và doanh nghiệp hoặc trang trại, đặc biệt hữu ích trong giảm chi phí giao dịch giữa các bên tham gia. Điều này tạo thuận lợi cho hợp tác tương lai và quan trọng là cải thiện được việc chuyển giao tri thức, nơi mà một tổ chức hoặc quốc gia nhỏ thường thiếu khả năng tài trợ cần thiết để tạo du nhập tri thức. Mối quan hệ dài hạn trong hợp tác công-tư giúp cải thiện sự phối hợp giữa các bộ, ngành về đổi mới sáng tạo và gắn kết các chính sách. Qua đó, PPP giữ vai trò như một công cụ chiến lược để thúc đẩy thay đổi cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp. PPP phục vụ đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp thường được sử dụng cho nghiên cứu tiền cạnh tranh, cung cấp hàng hoá và dịch vụ công và để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng đổi mới sáng tạo.

PPP phục vụ đổi mới là hình thức sáng tạo phù hợp với mục đích nghiên cứu nông nghiệp. Tuy nhiên, với năng lực khác nhau của các thành phần tham gia, họ sẽ mang đến các kỹ năng rất khác nhau. Do vậy,việc xác định ranh giới đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp phải căn cứ vào mối liên kết rộng của các lĩnh vực đa ngành như khoa học xã hội, công nghệ thông tin truyền thông (CNTT-TT), công nghệ sinh học, công nghệ nano, sinh thái học, quản lý nước, khí hậu học và sức khỏe... Từ đây, PPP phục vụ đổi mới sáng tạo nông nghiệp đòi hỏi phải có sự tham gia rộng của các thành phần bao gồm: cơ quan chính phủ, tổ chức giáo dục, các ngành công nghiệp thượng nguồn và cuối nguồn (upstream and downstream industries), tổ chức phi chính phủ (NGO), nhà tư vấn và các tổ chức nông dân.

(Còn tiếp)...

Nguồn: Trung ương Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}