Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Quê hương và gia đình Nhà viết kịch Xuân Trình

Nhà viết kịch Giang Phong | Thứ Sáu, 20/12/2019 09:12 GMT +7
Trân trọng giới thiệu tham luận của  Nhà viết kịch Giang Phong "Quê hương và gia đình Nhà viết kịch Xuân Trình" tại Hội thảo khoa học “Xuân Trình – Nhà viết kịch, Nhà lãnh đạo Sân khấu tiên phong của sự nghiệp đổi mới” tổ chức ngày 30/11/2019 tại Hà Nội. 
 
Một phân cảnh trong kịch Bạch đàn liễu của Xuân Trình. Ảnh Huyền.
 
Xuân Trình là một trong những nhà viết kịch tài năng đã đóng góp xuất sắc cho nền sân khấu Cách mạng Việt Nam. 
 
Ông sinh vào ngày mồng 6 tháng 01, năm Bính Tý. 
 
Quê ông làng Lỗ Xá, xã Yên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. 
 
Những vở kịch của Xuân Trình dù ít, dù nhiều, đều mang dấu ấn của quê hương ông. Hay nói một cách khác: đặc điểm của địa danh và văn hiến quê ông, đã tạo ra được một Xuân Trình xuất sắc trong nền sân khấu cách mạng Việt Nam. Chúng ta hãy lần lượt khảo về những con người và mảnh đất quê hương ông, mà ông đã chịu ơn, chịu ảnh hưởng để có được một sự nghiệp như ngày hôm nay. 
 
 Thời Hùng Vương, Nam Định thuộc bộ Giao Chỉ. Theo "Địa danh Việt Nam" thì Nam Định được thành lập "năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đầu đời Trần gọi là lộ Thiên Trường. 
 
 Tỉnh Nam Định, năm 1945 gồm thành phố Nam Định và 9 huyện: Giao Thuỷ, Mỹ Lộc, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Ý Yên, Xuân Trường. Năm 1963, Nam Định hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Năm 1976 tỉnh Nam Hà hợp nhất với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Năm 1991 và sau đó lại lần lượt tách Hà Nam Ninh thành 3 tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định. 
 
Nam Định có truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước.
 
Vương triều Trần đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông, bảo toàn bờ cõi Đại Việt. Với những tên tuổi Hoàng đế và tướng sĩ lẫy lừng trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. 
 
Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Nam Định vẫn là cái nôi của cách mạng. 
 
Người nông dân Nam Định cần cù, chịu khó song cũng hết sức quật cường. Hình bóng ấy rất rõ nét trong các vở của Xuân Trình viết về nông thôn. 
 
Nam Định là tỉnh có nhiều di tích, danh thắng có giá trị có bề dày văn hoá truyền thống, được lưu truyền và phát triển dưới nhiều hình thức: hát chèo, hát văn, rối cạn, rối nước, hát xẩm. Văn học nghệ thuật thành văn cũng hết sức rực rỡ. Các vua Trần đều là thi sĩ. Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị là nhà thơ, đồng thời là thầy dạy của hai vị đại khoa Tam nguyên. Đó là Tam nguyên Nguyễn Khuyến và Tam nguyên Trần Bích San. Nhà thơ Tú Xương là một thi sĩ tài danh, một hiện tượng độc đáo trong nền văn chương Việt Nam. Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, chất thơ của ông mang đậm hương vị phong dao Việt Nam. Bài "Anh khoá" của ông đã từng theo chân các nghệ nhân hát xẩm đi đến các chợ, các bến tầu, các phố phường và các ngõ xóm đồng quê đi suốt chiều dài đất nước. 
 
 Trong "Thi nhân Việt Nam" nhà nghiên cứu phê bình văn học Hoài Thanh tuyển chọn khắp Bắc - Trung - Nam được 45 thi sĩ. Rất nhiều tỉnh không có một ai, thế mà Nam Định có hẳn năm thi sĩ ngồi "đường bệ" vuông vức trên những chiếc chiếu lụa của "Thi nhân Việt Nam". Đó là Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Le Je Ba, Nguyễn Xuân Huy. Nguyễn Xuân Huy còn là nhà viết tiểu thuyết trong nhóm "Tự lực văn đoàn". Nguyễn Xuân Huy và Xuân Trình là hai người cùng xã. Hai làng cách nhau chỉ một cánh đồng. 
 
Nam Định còn là một trong những cái nôi của nghệ thuật diễn xướng. Trạng nguyên Lương Thế Vinh giỏi cả toán pháp và văn học, dân gian thường quen gọi là Trạng Lường, ông người làng Cao Phương huyện Vụ Bản. Lương Thế Vinh soạn ra cuốn "Đại thành toán pháp" và soạn ra cuốn "Hí phường phả lục". Đây là cuốn lý luận đầu tiên trong lịch sử sân khấu Việt Nam viết về hình thức biểu diễn và cách chọn lựa người diễn xướng mà ngày nay ta quen gọi là tuyển diễn viên…
 
Xem kịch của Xuân Trình, từ cảnh trí, con người, cốt truyện, hầu hết ngổn ngang những chất liệu ấy đều khởi nguồn từ gia đình và làng Lỗ Xá của ông. Có những vở chúng ta tưởng như không thấy dính dáng mảy may gì đến cái làng Lỗ Xá, ví dụ như vở "Cố Nhân" viết vào năm 1979, lúc mà chúng ta tiến hành tự vệ chống bành trướng. Gặp nhau ở Sở Văn hoá Hà Nam Ninh lúc ấy Xuân Trình nói với tôi: "Thanh niên làng Lỗ Xá lại phải tiếp tục ra mặt trận thôi anh ạ". Sau đó ít lâu vở "Cố Nhân" ra đời. Như thế là vở "Cố Nhân" cảm hứng bắt nguồn từ làng Lỗ Xá của ông. Cũng vì những lẽ đó mà ta tìm về làng Lỗ Xá và gia đình ông để hiểu thêm những tác phẩm của ông một cách thấu đáo, 
 
 Thời bao cấp, làng Lỗ Xá được đổi tên thành làng Lam Sơn, Lam Sơn là bí danh viết báo và hoạt động TNCM Đồng chí hội của Ký Chuế. Ký Chuế là chú họ Xuân Trình. Ông là Bí thư chi bộ đầu tiên của làng Lỗ Xá, Chi bộ do Ký Chuế làm bí thư được nhà cách mạng Tống Văn Trân trực tiếp phụ trách chi bộ này. Ký Chuế bị thực dân Pháp bắt đày Côn Đảo. Trên đường đi, ông cắn lưỡi tự vẫn chết để bảo toàn khí tiết cách mạng. Bản đồ hành chính là làng Lam Sơn, nhưng mọi người dù đi xa hay ở quê, vẫn thường gọi là làng Lỗ Xá. Trong lý lịch tự khai của Xuân Trình, ông vẫn khai rằng: quê quán thôn Lỗ Xá, xã v.v... 
 
Trong tập "Tân biên Nam Định tỉnh dự địa chí lược" (tập hạ) của Khiếu Năng Tĩnh (ông đồ cử nhân khoa Mậu Dần 1878, từng là đốc học Nam Định, Hà Nội, rồi tháng đến Quốc Tử Giám tế tửu), trong phần khảo về các làng, xã ông viết: “ở huyện Vọng Doanh (nay thuộc huyện Ý Yên) đây là một huyện nghèo, dân trong hạt nhiều nơi không thuần: điêu ngoa như dân Lỗ Xá, vu cáo như Hoàng Nghị, trộm cướp như Cao Bồ, An Nghị...”. Vì sao Khiếu Năng Tĩnh lại nói đến dân Lỗ Xá là điêu ngoa? Chúng tôi tìm hiểu thì được các cụ trong làng kể rằng: xưa có một ông vua đi kinh lý, đi đến làng Lỗ Xá, vua thấy mệt và đói, Vua lệnh cho làng phải dâng cơm rượu, Vua ăn thấy ngon miệng và hỏi: "các người làng này cho ta ăn thịt gì mà ngon vậy?". Thực tình đấy là thịt ngoé. Ngoé lột da, bỏ đầu, chân, đem băm nhỏ rồi giã lẫn với nhân lạc, vỏ quýt, ớt, rồi đem rán với mỡ lợn (thứ chả ngóe này cho đến hôm nay - năm 2009 vẫn còn là món đặc sản của làng Lỗ Xá). Khi vua hỏi thế, không ai dám thưa với Vua là, thịt ngoé, sợ bị chém đầu vì dâng thức ăn bẩn. Người nọ nhìn người kia. Trong đám người ấp úng của làng, có một người thông minh, tự sáng tác ra một cái tên gọi chữ nghĩa, sang trọng để tâu với Vua: "đó là thịt con thanh tịnh". Vua hài lòng và khi đi đến nơi khác, vua lại đòi ăn thịt con thanh tịnh. Mọi người ở làng kia đều ngơ ngác không biết con thanh tịnh là con gì, đoán định mãi thì anh mũ bảo: "như vậy là Vua đòi ăn thịt sư, chỉ có sư mới thanh tịnh". Vua bảo chết thì phải chết, mọi người xồng xộc vào chùa trói sư lại, đem ra làm thịt. Họ bảo với sư: "Vua đòi ăn thịt sư, chỉ có sư thì mới thanh tịnh". Sư đang mếu máo khóc sợ hãi, nghe thấy vậy sư liền tấu thật: "bẩm, con không thanh tịnh đâu ạ, hôm qua con có chót với bà vãi". Thế là sư được thả, thoát chết. Khiếu Năng Tĩnh biết được dân làng Lỗ Xá sáng tác ra tên gọi con ngoé là con thanh tịnh để dối Vua khỏi bị trị tội nên ông ghi vào cuốn địa chí của ông là "dân Lỗ Xá là dân điêu ngoa". 
 
 Làng Lỗ Xá là làng có truyền thống yêu nước và cách mạng và rất kiên cường. Ngày xưa, quan quân đi qua làng Lỗ Xá không bao giờ dám trống rong, cờ mở. Ra khỏi làng mới đám gõ trống, dương cờ. Cụ cai Giá là lãnh tụ của phong trào Cần Vương ở vùng này. Thời kỳ tiền khởi nghĩa, làng và có 5 người hoạt động cách mạng, bị thực dân Pháp bắt bỏ tù tại nhà tù Côn Đảo. Ông Nguyễn Văn Điệu là chú họ Xuân Trình ở Côn Đảo đã từng bị giam với cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Sao Đỏ (Tức Nguyễn Lương Bằng). Thời kỳ chống Pháp làng Lỗ Xá tự hào làng kháng chiến, chống bắt phu, bắt lính và lập tề. Chúng đã dựng được một ông lên làm hương chủ (tương đương với chức trưởng thôn ngày nay), nhưng được mươi ngày thì ông hương chủ này thắt cổ tự tử chết để tránh khỏi phải làm việc cho Tây. Thực dân Pháp nhiều lần o ép, lập tề nhưng chưa bao giờ thành. Trong kháng chiến chống Mỹ nhân dân làng Lỗ Xá là một trong những làng đi đầu về các phong trào: 3 sẵn sàng, 3 đảm đang, thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người. 
 
Với làng Lỗ Xá, Xuân Trình da diết, bởi vì nơi ấy là quê ông. Nơi ấy đã cho ông bao nhiêu chuyện, bao nhiêu mẫu người để ông lập nghiệp từ những người làng vất vả, lam lũ và nhân đức. 
 
Trong phong trào cách mạng từ 1928 đến 1930, 1931 chi bộ Đảng TNCM Đồng chí hội đều do người họ Nguyễn Xuân làm bí thư. Người đầu tiên là Nguyễn Xuân Chuế, tức Ký Chuế. Ký Chuế có học, viết báo vạch mặt thực dân phong kiến thường lấy bút danh là Lam Sơn. Sau này làng Lỗ Xá đổi thành làng Lam Sơn là kỷ niệm người bí thư đầu tiên. 
 
Ông Nguyễn Xuân Lan (tức Tư Lan, chú ruột Xuân Trình) và ông Nguyễn Xuân Ngang (bố nhà viết kịch Giang Phong) được cụ Hàn Tắc (ông nội Xuân Trình) chu cấp tiền nuôi cho ăn học. Hai ông học ở trường Thành Chung Nam Định, cùng khoá học với ông Trường Chinh, ông Lê Đức Thọ, ông Nguyễn Cơ Thạch v.v...Họ học trường Tây để lấy chữ đánh tây. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945. Ông Tư Lan theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc. Ông là chủ tịch khu một. Sau 1954 ông Tư Lan về Công tác ở Bộ Ngoại giao, còn ông Nguyễn Xuân Ngang nhập ngũ năm 1945 và 1949 thì hi sinh trong một trận chống càn ở Tam Đảo. 
 
Dòng dõi nhà Xuân Trình là dòng dõi phong kiến trí thức yêu nước. Tính đến năm đời cho đến nay, thì đời nào nhà Xuân Trình cũng giàu có. Cụ Cai giá là ông cố Xuân Trình. Nhà cụ giàu nhất, nhì huyện Phong Doanh. Cơ ngơi gia đình cụ ở, chiếm gần 1/3 diện tích làng Lỗ Xá. Trăm gian nhà kho, lúc nào cũng đầy ắp thóc, lúa. Ngôi biệt thự cao tầng với hai ba chục phòng, được lát đá hoa mua từ tận bên Pháp. Ngôi nhà ấy có cách đây hơn 100 năm. Bây giờ ngôi nhà ấy vẫn còn, nhưng thuộc sở hữu của 4,5 chủ. Sự phung nẫm đã phôi pha nhiều, giờ chỉ còn lại những dấu tích mà chỉ người trong gia đình xưa mới nhận ra được. Trong nhà lúc nào cũng có mấy chục kẻ hầu, người hạ. Quanh năm ngày nào cũng như ngày nào thường có 6,7 người chuyên xay thóc, giã gạo mới đủ lương thực cho toàn gia ăn. 
 
Ông Hàn Tắc là con cụ Cai Giá, Hàn Tắc là người đánh bạn với Tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông. (Thông là ông nội Trần Lệ Xuân, bà là vợ Ngô Đình Nhu), giao lưu với Tổng đốc thì phải là núi của. Vùng Phong Doanh - Ý Yên thường có câu: "Của như Hàn Tắc không làm thì cũng hết". 
 
Ông Hào Huệ là con cụ Hàn Tắc, bố đẻ Xuân Trình. Gia đình cụ Hào Huệ lúc nào cũng nườm nượp khách ra, vào. Khách từ các tỉnh khác đến, từ Nam Định về. Họ về đây để đánh bạc, nghe cô đầu, hát chèo, xem phim. Hồi đó chỉ có phim đen trắng và là phim câm. Ông Hào Huệ thuê phim từ tỉnh lỵ Nam Định về chiếu cho dân xem và bàn chuyện kín. Đó là trước năm 1945. Năm 1945 dân ta chết đói 2 triệu người. Chính lúc này, bố Xuân Trình mở kho thóc phát chẩn cho dân làng Lỗ Xá và các xã lân cận. Làng Lỗ Xá không bị đại họa chết đói 1945 đó là sự giàu có phúc đức của bố Xuân Trình. 
 
Xuân Trình và các thành viên trong gia đình đã từ bỏ ý thức hệ của giai cấp bóc lột tự nguyện đón nhận ý thức hệ của Đảng lao động Việt Nam. Sau này là Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là sự vận động tất yếu và biện chứng của lịch sử.
 
Gia đình Xuân Trình là gia đình có truyền thống yêu nước, cách mạng. Ông Cố Xuân Trình là cụ Cai giá làm lãnh tụ Cần Vương của vùng Phong Doanh - Ý Yên thời đó. Cụ đã chiêu mộ hàng nghìn nông dân làm lễ tế cờ ở quê rồi kéo quân sang Ninh Bình đánh Pháp. Cụ bị Pháp bắt cùng với người con đầu thường gọi là cả Hy. Chúng chém đầu cả hai bố con. Cả Hy chúng cho đem xác về, còn thủ cấp của cụ Cai Giá chúng cắm trên cọc tre bêu trên núi Non Nước để áp đảo phong trào. Bà Lý Chỉ, chị ruột cụ Cai Giá, giả vờ làm người cắt cỏ đút tiền cho lính canh rồi gói thủ cấp em mình vào chiếc khăn bịt đen giấu vào thúng chè tươi rồi bơi qua sông Đáy đem về mai táng tại quê nhà. 
 
Ông nội Xuân Trình là cụ Hàn Tắc, cụ đã rút dép tát vào mặt tri huyện Nguyễn Đạo Tấn vì tên này hống hách với dân. Đánh Nguyễn Đạo Tấn xong, cụ cưỡi ngựa ra tỉnh gặp tổng đốc Trần Văn Thông, đút tiền cho Tổng đốc để Trần Văn Thông đổi Nguyễn Đạo Tấn đi nơi khác. 
 
Ông Hào Huệ là bố Xuân Trình, khi hoạt động trong chi bộ do Tống Văn Trân phụ trách, có chiều hướng bị lộ nên trước sau sẽ bị bắt. Hào Huệ vào Nam. Ông đi mang theo hai người con trai cùng đi vào hoạt động cách mạng ở trong đó. Hoà bình lập lại hai người con trai tập kết ra Bắc. Ông Tư Lan là chú ruột Xuân Trình, ông đi theo kháng chiến và làm chủ tịch khu I. Hoà bình lập lại, ông làm ở Bộ ngoại giao. Bà Tam là cô ruột Xuân Trình, là người con gái có học vấn duy nhất ở cái vùng Ý Yên thời đó. Bà hoạt động trong Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Nhà cách mạng Tống Văn Trân rất yêu quí bà, ngược lại bà rất trân trọng và quí mến người thanh niên cách mạng Tống Văn Trân. Tình cảm kín đáo đó chỉ dừng ở mức độ tình đồng chí. Rồi bà đi lấy chồng, lấy cháu nội nhà thơ Nguyễn Khuyến là Hàn Đàm. Thật là môn đăng hậu đối, nhưng hai người không ở được với nhau lâu, vì hai người không cùng một chí hướng. Bà bỏ Hàn Đàm. Khi bà bị thực dân Pháp bắt, Hàn Đàm mới vỡ lẽ bà là cộng sản. Song, Hàn Đàm rất nể trọng và kính phục bà, ông đã tìm mọi cách xin với thực dân Pháp để chúng thả bà ra. Khi bà ra tù, bà tiếp tục hoạt động. Bà là một trong bảy người phụ nữ lão thành cách mạng của TW Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó, còn sống để được hưởng chính sách lão thành. 
 
Các anh, các chị, các em của Xuân Trình đều là những người học hành đến nơi đến chốn. Những người lớn tuổi họ đều đi theo cách mạng, kháng chiến. Năm 1946 bà Nguyễn Thị Kha là chị ruột Xuân Trình lấy chồng. Đám cưới của bà Kha cưới tại quê nhà theo nghi thức đời sống mới, thách cưới bằng 30 quả lựu đạn, không biết bằng cách nào mà nhà trai lo đủ 30 quả lựu đạn. 30 quả lựu đạn ấy bà Kha tặng du kích thôn Lỗ Xá. Khi chồng bà Kha mất nhiều người mối manh, trong đó có một ông đương kim bí thư tỉnh uỷ và một ông đương kim Bộ trưởng hỏi, nhưng bà đều cảm ơn, xin ở vậy nuôi con khôn lớn. Cái nết của bà Kha giống rất nhiều người đàn bà hiền thảo trong kịch của em trai mình. 
 
Ông Xuân Trình được thừa hưởng khá đậm đặc lòng nhân đức của gia đình. Bà nội Xuân Trình thường nhắc nhở các gia nhân và con cháu đến bữa cơm phải mở cổng cho ăn mày họ vào, bà thường nói:"Ăn mày họ chỉ trông chờ vào hai bữa cơm, đến bữa mà không mở cổng cho họ vào để cho họ ăn thì thất đức". Bà cũng chính là người trực tiếp xúc thóc, xúc gạo phát chần cho nông dân làng Lỗ Xá trong những ngày tháng 3, tháng 8. Bà cũng thường nói, khi cướp đến, thì không cần chống họ làm gì, nhỡ sao khổ thêm, cứ mở cổng, mở kho cho họ lấy thóc, họ đói nên họ đi cướp. 
 
Có những điều mà đến bây giờ nhân dân làng Lỗ Xá không thể lý giải được, trong những cảnh ngộ nhà ông nội Xuân Trình. Đó là cụ Hàn Tắc. Cụ Hàn Tắc có hai bà vợ. Vợ cả là bà Hàn Khê đẻ ra bà Tam, ông Hào Huệ, ông Tư Lan. Còn bà vợ hai là bà Hàn Mụa. Bà này không có con trai. Bà này ác lắm. Một ông xem tướng số người cùng làng đã nói với bà Mụa như sau: "Hậu thì giầu thật đấy, nhưng sau này hậu chết ở ngoài đường và không có lấy một hạt gạo bỏ mồm". Quả thật vậy, 20 năm sau bà Hàn Mụa bị qui là địa chủ bà bị đuổi ra khỏi nhà để lấy quả thực chia cho nông dân. Bà cuốn một cái tổ như cái lều của vó bè úp vào chân tường của nhà mình đã chia cho nông dân để chui vào đấy ở. Rồi bà chết trong cái túp lều ấy bên đường. Họ bó bà trong manh chiếu đem đi chôn. Lời xem bói thật là hiệu nghiệm. Thời còn sung túc, bà không có con trai, bà sợ bố ông Xuân Trình và chú ông Xuân Trình nối nghiệp cướp hết của cải, bà bèn bỏ thuốc độc vào bát thuốc sắc để cho bố Xuân Trình và chú Xuân Trình uống, nhưng không ngờ ông Hàn Tắc chồng bà uống phải bát thuốc ấy chết. Vụ này rắc rối mãi, bà phải cho tiền một người ở để nó nhận tội để đi tù thay bà. Sau này Bố Xuân Trình cũng lấy 2 vợ: Bà cả tên là bà Hào Gián, bà mẹ Xuân Trình là bà hai, thường gọi là bà Nhì. Trong gia đình thường gọi thêm là bà cao, bà thấp (cao thấp đúng với nghĩa đen). Hai bà lại rất thương yêu nhau. Các con của hai bà người ngoài không thể phân biệt được đấy là con của bà cả, bà hai. Họ đều gọi hai bà bằng mẹ, ai hơn tuổi thì là anh, chị (chứ không phải con bà cả là anh, hay chị), cách cư xử, họ cách mạng ngay từ trong gia đình của một dòng dõi phong kiến. Con cháu hai bà hiện nay đều phương trưởng, giầu có tiền bạc và học vấn. Bà Cao (mẹ ông Xuân Trình) thọ 103 tuổi. Bà vẫn minh mẫn, bà vẫn thường kể cho tôi nghe ông Xuân Trình thích ăn chả ngoé, gỏi cá và tiết canh vịt. Khi Đài truyền hình Hà Nội năm 1989 làm một cái phim chân dung về tác giả Xuân Trình, có chiều ngôi nhà - tranh lụp xụp, vách đất và có lời bình đấy là gia cảnh của nhà Xuân Trình, thì bà Cao bảo rằng không phải, nhà chúng tôi đâu có nghèo như thế, nói vậy dân Lỗ Xá họ cười cho. Lúc ấy mẹ Xuân Trình ở vào tuổi 100 cụ vẫn bảo phải cải chính lại cái điều không đúng ấy". 
 
Những giá trị nhân văn trong kịch Xuân Trình, những xung đột bạo liệt, những sự thông minh sắc sảo trong mỗi nhân vật của ông, lẽ nào không bắt nguồn từ nơi ông sinh ra, từ cái làng Lỗ Xá nhỏ bé, lẽ nào không được nuôi dưỡng hình thành trong những gia cảnh của ông để tạo nên những phẩm chất kịch mà chúng ta đang bàn luận hôm nay. 
 
Khi cắt nghĩa một tài năng chúng ta có nhiều góc độ để tìm hiểu, để soi sáng. Chúng ta tìm đến làng, xã, huyện lỵ, tỉnh thành của Xuân Trình để được biết những ngọn gió, những tia nắng, những tiếng nói của bà con quê hương ông đã vun đắp và cho ông những lộc trời, lộc đất, lộc của tình quê hương và cả những đắng cay, những nước mắt, để có một Xuân Trình ngày hôm nay. Cái nôi văn hoá ấy đã đón nhận ông từ thuở lọt lòng. 
 
 Thời niên thiếu, Xuân Trình học trường làng, Xuân Trình là con nhà giàu đi học. Nhưng ở lớp, Xuân Trình không cậy giàu có mà bắt nạt, hoặc trịch thượng với học sinh nhà nghèo. Ông chơi với bạn như người trong gia đình. Cũng lê la đánh khăng, đánh đáo, đánh bị như mọi trò. Thời bấy giờ có lẽ sân trường cơ bản làng Lỗ Xá là dân chủ và bình đẳng nhất Xuân Trình học giỏi, nhưng nghịch ngợm. Càng lên lớp trên, càng nghịch. Khi Xuân Trình lên lớp nhất, lớp nhì thì học thầy giáo Khánh. Thầy Khánh quê ở tỉnh khác về đây dạy học. Thầy được ở nhà cụ Tổng. Nhà cụ Tổng có cô con gái tên là Thơm, rất xinh, biết chữ quốc ngữ, biết đọc tiểu  thuyết của Tự lực văn đoàn. Cô Thơm kém thầy Khánh vài ba tuổi. Thầy Khánh và cô con gái cụ Tổng thật là trai tài gái sắc. Dân làng mong cho hai người thành đôi lứa. Còn trong lòng hai người thế nào thì không biết. Một lần thầy Khánh bước vào lớp, nhìn lên bảng thấy ba chữ: "Khánh lấy Thơm". Thầy Khánh nghiêm nét mặt quay xuống lớp hỏi: 
 
- Hôm nay trò nào trực nhật? 
 
Trò Vũ Văn Minh ngồi ở bàn đầu đứng lên thưa: 
 
- Thưa thầy, hôm nay con trực nhật. 
 
Thầy Khánh lừ lừ đi đến trước mặt Vũ Văn Minh, tát cho Vũ Văn Minh hai cái tát. Ý thầy muốn bảo rằng sao trực nhật lại để cho trò nào viết bậy lên bảng như thế mà không xoá đi. Tát xong, thầy Khánh bảo Vũ Văn Minh "ngồi xuống, chúng ta học bài". Ngay lập tức, một trò mảnh khảnh, cao lênh khênh, có chiếc răng khểnh ở bàn cuối lớp đứng dậy: "Thưa thầy..." Thầy Khánh quay xuống và nhận ra trò Xuân Trình, cháu cụ Hàn Tắc giàu nhất huyện Phong Doanh - Ý Yên, thầy chưa kịp nói gì thì Xuân Trình đã nói dõng dạc trước lớp: "Phát xít, đồ phát xít đánh người". Cả lớp bị bất ngờ và sợ hãi ngồi im lặng thầy Khánh giận lắm bảo Xuân Trình: "Thầy sẽ đuổi học con một tuần lễ. Bắt đầu từ hôm nay. Trình, con ra khỏi lớp". 
 
Xuân Trình cắp cặp ra về. Một tuần, hai tuần Xuân Trình không trở lại lớp học. Thầy Khánh "ngại" thế lực nhà Xuân Trình nên thường tìm đến gặp ông Tư Lan là chú ruột Xuân Trình nói rõ đầu đuôi câu chuyện và "mời" Xuân Trình trở lại lớp học. 
 
 Sự ấu trĩ "chống phát xít" của Xuân Trình được thừa hưởng truyền thống cách mạng trong gia đình ông.
 
Khi được lên học đệ nhị, đệ tam (tương đương với phổ thông trung học cơ sở ngày nay), Xuân Trình được học thầy giáo Chu Thiên. Tên thật của thầy là Hoàng Minh Giám (Trùng tên, họ với Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ văn hoá nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Chu Thiên quê ở xã Yên Thành, huyện Ý Yên, ông là nhà văn, là nhà nghiên cứu. 
 
Xuân Trình được học một người thầy có kiến thức sâu rộng về sử học, văn học lại là một nhà văn có tài. Sinh thời, Xuân Trình đã kể cho tôi nghe về một ấn tượng không thể nào quên giữa ông và thầy Chu Thiên, khi ông học đệ tam. Sau giờ sử, thầy giáo đột nhiên hỏi Xuân Trình: 
 
- Nghe nói nhà con giàu lắm phải không? 
 
Xuân Trình thưa dõng dạc: 
 
- Thưa thầy vâng ạ, ông con giàu lắm 
 
- Có hay bị cướp không? 
 
- Thưa thầy có ạ. 
 
- Có tổ chức gia nhân chống cướp không? 
 
- Dạ thưa thầy không ạ. 
 
- Sao lại không chống cướp? 
 
- Dạ thưa thầy bà Cố con bảo khi thấy cướp thì mở cổng cho người ta vào. Người ta đói thì người ta mới đi cướp. Chống họ, họ giết cho thì thiệt thòi. 
 
 Nghe Xuân Trình trả lời, thầy giáo Chu Thiên đứng lặng trên bục giảng, ông thực sự bị bất ngờ và xúc động. Sau một lúc, thầy Chu Thiên đi đến cạnh Xuân Trình, ông đặt tay lên vai người học trò gày gò, có chiếc răng khểnh, giọng ấm áp: 
 
- Thầy khuyên con nên giữ lấy cái nhân đức ấy của gia đình. 
 
Xuân Trình bảo với tôi không biết có ai trong toán cướp mà thấy quen  biết nên thầy xúc động đến thế? Câu chuyện ấy Xuân Trình nhớ suốt đời. Có lẽ vì thế, nên vở kịch đầu tay của Xuân Trình lại viết về nỗi khổ và sự vùng lên của người nông dân trong vở "Những người du kích". 
 
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Pháp mở rộng mặt trận, chúng đánh chiếm đồng bằng, xây đồn bốt lập tề. Những thanh niên trong đội văn nghệ làng Lỗ Xá, họ lần lượt ra nhập vệ quốc đoàn, việc học hành của Xuân Trình cũng dở dang. Ông chưa học hết chín năm phổ thông. (Hệ học ngày xưa là chín năm, tương đương với hệ 12 năm bây giờ). Lúc ấy Xuân Trình mới 16 tuổi, chưa đủ tuổi nhập ngũ. Ông cậy nhờ chú ruột cho ông đi thanh niên xung phong. Bắt đầu từ đây Xuân Trình trong đội thanh niên xung phong làm đường ở Tây Bắc. Từ một anh học trò, con nhà giàu, nay cầm cuốc, cầm xẻng làm đường cho xe, pháo và bộ đội hành quân. Xuân Trình đã cố gắng, thậm chí phải gồng mình lên để hoàn thành nhiệm vụ. Đây là lần đầu tiên, cũng là cái mốc đầu đời về lao động chân tay của một anh thư sinh nhà giàu, quen được chiều chuộng, quen sống trong nhung lụa. Xuân Trình đã hoà vào được với đời sống của "công nông binh" lúc đó, Xuân Trình lao động ở đội thanh niên xung phong 3 năm từ 1952 đến năm 1954. 
 
 Hoà bình lập lại ở miền Bắc, Xuân Trình về làm cán bộ biên tập Đài tiếng nói Việt Nam. Công việc "chữ nghĩa" của đời công tác bắt đầu từ đây. Lúc này Xuân Trình mới 18 tuổi, song, ông sớm ý thức được trách nhiệm của một cán bộ Nhà nước. Ý thức được công việc. Ông khẳng định phải có học vấn thì con người mới phát triển được. Ông đề nghị với cơ quan xin đi học. Sau hai năm công tác ở Đài tiếng nói Việt Nam, năm 1956 Xuân Trình thi đỗ vào Trường Đại học Tổng hợp, học khoa ngữ văn. Cùng lớp với ông có nhà văn Lê Khâm (còn có bút danh là Phan Tứ). Lê Khâm lúc đó đã có hai tiểu thuyết rất được bạn đọc quý mến. Đó là tiểu thuyết "Bên kia biên giới" và tiểu thuyết "Trước giờ nổ súng". Còn Xuân Trình thì mới chỉ có sự yêu thích và đam mê văn học mà thôi. Lúc đó ông cũng có viết truyện ngắn, thơ và kịch, nhưng chẳng có cái nào đọng lại. Cho đến sau này, Xuân Trình nghĩ lại, ông cũng không nhớ được tác phẩm mà ông đã viết. Nghĩa là đối với văn học, lúc đó ông vẫn còn tay trắng. Có lẽ vì thế, ông lao vào học tập, khám phá trong văn học, để tìm tòi, soi dại vì sao những tác phẩm của ông không thành công. 
 
Tốt nghiệp Đại học tổng hợp, Xuân Trình về công tác ở tạp chí văn nghệ năm 1961.
 
Cũng năm này, ông có vở "Những người du kích". "Những người du kích" Xuân Trình viết về người nông dân vùng đồng bằng chiêm trũng đứng lên chống thực dân Pháp và bọn cường hào bá hộ tay sai. 
 
- Sau đấy mấy năm, Xuân Trình rời tạp chí Văn nghệ, sang tuần báo văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam. Ở báo Văn nghệ, Xuân Trình vừa làm biên tập, vừa làm phóng viên. Từ 1964, đế quốc Mỹ leo thang đánh ra miền Bắc bằng không lực. Cuộc chiến tranh phá hoại hậu phương miền Bắc ngày càng ác liệt. Xuân Trình với chiếc xe đạp Trung Quốc cọc cạch, đầu đội mũ sắt của bộ đội pháo phòng không,  cùng với Xuân Quỳnh, Ngọc Tú với nhiệm vụ phóng viên, đạp xe đến các trận địa, lấy tin, viết phóng sự, viết bút ký gom góp chất liệu cuộc sống để viết truyện, viết kịch. Truyện ngắn "Đường trường" của ông được giải chính thức cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ. 
 
Năm 1967, Xuân trình xin đi thực tế ở tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh. Nơi đây là điểm hủy diệt của kẻ thù. Sự khốc liệt ấy là thước đo lòng trung thành, sự hèn nhát của từng cá nhân con người với Tổ quốc, với quê hương. Nhiều người trở thành anh hùng nơi tuyến lửa này, cũng có người sợ hãi trả thẻ Đảng để chạy trốn. Xuân Trình tự nguyện đi thực tế ở đây để thử sức mình, thử ngòi bút của mình. Mấy tháng trời ông nằm trong địa đạo Vĩnh Linh cùng với nhân dân Vĩnh Linh, bám trụ nơi địa đầu giới tuyến, đánh trả sự hủy diệt của kẻ thù. Ở đây, ông trực tiếp gặp được những người anh hùng của thời đại bằng xương, bằng thịt. Họ cũng bình dị, chất phác như những bà con nông dân quê ông. Ông thấy gần gũi và kính trọng. Khi từ địa đạo chui lên, Xuân Trình trở ra Bắc, người gầy, đói, ghẻ lở toàn thân. Ông về quê làng Lỗ Xá để người mẹ chữa cho ông bệnh ghẻ. Ngày ngày, mẹ Xuân Trình đi lấy lá đào đem về nấu cho Xuân Trình tắm. Thời gian này Xuân Trình cho ra vở "Quê hương Việt Nam". "Quê hương Việt Nam" viết về một làng ở Vĩnh Linh, sau chuyến đi thực tế của ông. Vở này ông viết ở gian nhà còn sót lại của nhà ông sau cải cách ruộng đất. Nhà cửa, ruộng vườn của nhà ông được nông dân trưng thu chia cho dân cây, còn để lại cho gia đình ông một gian. Bởi vì gia đình ông là gia đình trí thức cách mạng giầu có có công với kháng chiến nên được một gian ưu tiên. Ông viết vở "Quê hương Việt Nam" trong gian nhà ưu tiên ấy ca ngợi lòng dũng cảm, lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân Quảng Bình nói riêng, của người dân Việt nói chung hết lòng thủy chung với Đảng, với dân, vượt lên đau thương, mất mát, khẳng định phẩm chất anh hùng của người dân Việt Nam. 
 
 Năm 1970, Xuân Trình được về công tác ở Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Năm này, ông hoàn thành hai vở. Vở "Việc nhà" và vở "Lập xuân" chuyện trong vở "Lập xuân" xoay quanh trong cái bộ ba giữa anh chàng rể tương lai, ông bố vợ và cô con gái. Người bố lấy công thần, lấy gia trưởng làm hệ tư tưởng để ngăn cản cái mới, cái tiến bộ nên cuộc đấu tranh giữa họ càng quyết liệt hơn cuối cùng, cái tiến bộ vẫn khẳng định được vai trò và vị trí của mình, trong cuộc đào thải đầy sóng gió này. Lần đầu diễn vở "Lập xuân", Xuân Trình được một quan chức cao cấp của Nhà nước đến gặp. Trong buổi gặp gỡ hôm đó, quan chức ấy đã nói thẳng với Xuân Trình: "Anh không cần phải bóng gió làm gì cả. Tôi đã xem "Lập xuân" của anh rồi. Đây, ghế của tôi đây, anh cứ việc, ngồi vào, việc gì phải "lập xuân" với "lập hè". Thế mới biết những người nông dân trong "Lập xuân" của Xuân Trình có sức lay động tích cực ghê gớm. 
 
Từ khi về Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Xuân Trình từ một cán bộ chuyên môn, ông lần lượt được đặt vào các vị trí: thư ký tòa soạn tạp chí Sân khấu, trưởng ban sáng tác của Hội, Tổng biên tập tạp chí Sân khấu, giám đốc nhà xuất bản Sân khấu, phó tổng thư ký hội. Công việc sự vụ của ông chồng chất, bù đầu. Song, hầu như năm nào ông cũng có vở. Đó là các vở: "Lập xuân", "Việc nhà", "Bạch đàn liễu", "Hận thù từ đâu tới", "Ngôi nhà trong thành phố", "Xóm vắng", "Chuyện ở lò thúc mầm", "Thời tiết ngày mai", "Cố nhân", "Cuộc đời này là của chúng mình", "Chuyện tình trong rừng cấm", "Mùa hè ở biển", "Đợi đến mùa xuân", "Nghĩ về mình", "Nửa ngày về chiều" v.v và vv... 
 
Xuân Trình viết không nhiều, nhưng mỗi vở của ông ra đời, đều để lại trong lòng người đọc, người xem một ấn tượng sâu sắc. Có những vở, người xem như thấy Xuân Trình đang "cởi trói" cho mình, thì ngay lập tức tác giả bị tai nạn. Đó là tai nạn nghề nghiệp. Bây giờ chúng ta kể lại chuyện này như kể lại một kỷ niệm vui. Nhưng lúc đó đối với Xuân Trình, và những ai liên quan, đều sợ hãi. Đó là trường hợp vở diễn "Bạch đàn liễu". Bây giờ "Bạch đàn liễu" được đánh giá rất cao, được giải thưởng nhà nước, cho rằng Xuân Trình đã dự báo được cho Đảng và Nhà nước bọn cường hào mới trong Đảng ở nông thôn đang có cơ hội ngóc đầu dậy. Nhưng lúc bấy giờ những người có quyền chức nhìn "Bạch đàn liễu" là đánh vào chính quyền dân chủ nhân dân. Mà tấm lòng của Xuân Trình đối với Đảng, với Nhà nước có phải như vậy đâu, song ông vẫn phải tường trình, vẫn phải kiểm điểm. Xuân Trình sợ không giám viết nữa. Ông có ý định bỏ nghề. Ông đi học cách nấu xì dầu để về làm cho vợ bán. Số nhà 27 Lý Thường Kiệt, Hà Nội là nhà Xuân Trình ở, ông sẽ chia làm hai gian hàng, một gian bán cà phê cho các nghệ sĩ mà trước đây vợ ông vẫn làm, nay thêm một gian bán nước mắm, xì dầu cho bà con khối phố. Đây là thứ "tiền tươi, thóc thật", không sợ liên lụy gì về ngòi bút nữa. Nhưng rồi, trách nhiệm của người nghệ sĩ, trách nhiệm của một nhà văn trước cuộc sống, Xuân Trình lại viết. Đến vở "Thời tiết ngày mai” lại là một cay đắng nữa của Xuân Trình. Vở kịch khá hay, khá hấp dẫn. Muốn biết thời tiết của ngày mai thì hôm nay phải đo được lượng gió, lượng mưa, lượng mây tầng, mây tích, độ nóng, độ ẩm vv...trên những thông số ấy của ngày hôm nay mà đoán ra được thời tiết ngày mai. Thời tiết xã hội cũng thế. Đây là một vở kịch luận đề khá sắc sảo của Xuân Trình, và rất có ích cho những người lãnh đạo. Vở kịch được các diễn viên đoàn Hà Nam Ninh tập ròng rã hơn tháng trời. Khi đem duyệt, thì một ông có trách nhiệm của tỉnh "cho vở ra lò", ông này không biết gì về kịch cả, mà chỉ nghe đồng chí lái xe cho ông ta bảo: đây là một vở đánh vào bí thư tỉnh ủy. Ông ta phát biểu nguyên văn như thế hội nghị thường vụ. Lập tức vở không được diễn. Phông, cảnh xếp xó, diễn viên ngơ ngác, tác giả Xuân Trình thì bải hoải, ngán ngẩm ngược tầu hỏa về Hà Nội. 
 
Có lẽ thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, gian nan của nghề văn chương, song lại nghèo khó về vật chất, nên con cái của nhà văn Xuân Trình không ai theo nghề của bố. Cậu con trai Nguyễn Khôi Nguyên làm Giám đốc khu vực cho hãng Cocacola sau đó thì sang làm giám đốc cho hãng thuốc lá Malbro. Nguyễn Thị Việt Yên là con gái Xuân Trình. Cô tốt nghiệp trường Sân khấu điện ảnh, khoa biên kịch vào làm ở chương trình văn nghệ của VTV3. Nhưng rồi cô bỏ nghề, theo chồng định cư bên Đức. Bà vợ Xuân Trình bảo: bố chúng nó đã khổ sở về văn chương rồi, nối nghiệp làm gì cho thêm tội. Đây là suy nghĩ của người vợ nhà văn, chỉ biết vâng lời chồng và nuôi con.
 
Năm 1991, Xuân Trình mắc bệnh ung thư vòm họng, ông được tổ chức cho nghỉ việc để chạy chữa, dưỡng bệnh. Nhưng Xuân Trình là con người của công việc. Ông nhớ việc làm, nhớ nghề, nhớ sân khấu. Bạn bè thân tình, trong đó có tiến sĩ nhà viết kịch Trần Đình Ngôn và đạo diễn Hà Bảo tổ chức một kíp diễn vở “Tai nạn hay rủi ro” của Xuân Trình, tác giả cùng đi với đoàn, diễn ở các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam… Xuân Trình vui lắm, nhưng nghề nghiệp, bạn bè thân hữu cũng không thể kéo ông trở lại với cuộc đời được nữa. Ông ra đi vào ngày cuối đông năm 1991, lúc ấy là xế chiều.
 
G.P
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}