Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Sự cần thiết của tâm lý học trong nghiên cứu văn hóa

Bùi Lưu Phi Khanh | Thứ Hai, 01/05/2017 15:16 GMT +7

Văn hóa học hay nghiên cứu văn hóa là một lĩnh vực khoa học được phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau thời kì đổi mới (1986) đến nay.

Nếu như trước thời kì đổi mới về trước, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như chiến tranh hay cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp vô hình chung đã ảnh hưởng tới sự phát triển của văn hóa học thì nay đã được xóa bỏ. Các trường phái khoa học nước ngoài mà đặc biệt là phương Tây trước đây bị nhìn với con mắt nghi ngờ hay chối bỏ đã dần dần được du nhập và chấp nhận tạo nên một bức tranh đa dạng trong hoạt động văn hóa, cả trong hai mặt là lí luận và thực tiễn. Có thể thấy rõ điều này qua việc một số các nhà khoa học Việt Nam vận dụng các phương pháp nghiên cứu mới của phương Tây trong nghiên cứu văn hóa như phương pháp phân tâm học của Đỗ Lai Thúy, thi pháp học trong nghiên cứu văn học của Trần Đình Sử, Hoàng Trinh và kí hiệu học trong nghiên cứu văn học... Tuy nhiên còn một lĩnh vực đem lại nhiều thuận lợi trong nghiên cứu văn hóa là tâm lí học lại ít được đề cập đến (do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan). Có thể nói lợi thế to lớn của tâm lí học so với các lĩnh vực khác nằm ở chỗ nó cố gắng tiếp cận văn hóa từ chính chủ thể văn hóa thông qua các hoạt động của chủ thể trong quá trình sáng tạo văn hóa, để từ đó đi đến sự hiểu biết sâu sắc hơn không chỉ về những sản phẩm văn hóa được tạo ra mà còn là động cơ và vai trò của chủ thể trong quá trình sáng tạo văn hóa đó. Sự hiểu biết về động cơ của sự sáng tạo này mang tính quyết định đối với mọi hoạt động sáng tạo văn hóa của con người.


Quá trình áp dụng tâm lí học trong nghiên cứu văn hóa ở nước ta đã trải qua một thời kì phát triển lâu dài, từ những năm sau hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954 (cũng như cả nước từ năm 1975) cho đến nay, nhưng chỉ từ sau thời kì đổi mới 1986, việc áp dụng tâm lí học vào nghiên cứu văn hóa mới bắt đầu phát triển và đạt được những thành quả nhất định. Nếu không nói đến những công trình dịch thuật về tâm lí học văn hóa như Tâm lí học nghệ thuật của Vưgôtxki (1995)... thì công trình của các tác giả Việt Nam khác như Tâm lí học sáng tạo của Đức Uy (2000), Tâm lí cộng đồng làng và di sản hay Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của người Việt Nam của tác giả Đỗ Long, Tâm lí học tôn giáo của tác giả Vũ Dũng, Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Phân tâm học và văn hóa tâm linh (Đỗ Lai Thúy chủ biên), Sự phát triển siêu cá nhân của R.Assagioli... tuy chưa thực sự nhiều nhưng cũng đã đem lại phần nào cho độc giả nghiên cứu văn hóa một công cụ mới để tìm hiểu văn hóa trong từng lĩnh vực cụ thể với một góc nhìn mới. Nhưng chúng ta có thể tự hỏi: vậy cách nhìn nhận văn hóa dưới góc độ tâm lí học sẽ mang lại lợi ích gì hay chính xác hơn là vai trò của tâm lí học trong nghiên cứu văn hóa sẽ là gì? Ở đây tôi xin đề cập đến hai vấn đề chính về sự cần thiết này, đó là: Văn hóa học đòi hỏi các cách tiếp cận khác nhau và Việc tìm hiểu chủ thể văn hóa là một mục tiêu quan trọng trong nghiên cứu văn hóa.


1. Văn hóa học đòi hỏi các cách tiếp cận khác nhau


1.1. Tính đa dạng của khái niệm văn hóa: Văn hóa là một khái niệm có nghĩa rộng nhất với hơn bốn trăm định nghĩa khác nhau và cũng chưa có sự thống nhất chung nào ngoài định nghĩa được UNESCO đưa ra làm tiêu chí cho việc hợp tác nghiên cứu văn hóa chung giữa các quốc gia với nhau. Nhìn chung, khái niệm văn hóa có thể được định nghĩa theo hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất là định nghĩa theo chiều rộng, theo hướng này, nó mang tính triết học hoặc mang tính khái quát cao và dạng định nghĩa hẹp là những định nghĩa riêng biệt của các bộ môn chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Có thể lấy ví dụ cho kiểu định nghĩa thứ nhất như “Văn hóa là thiên nhiên thứ hai” của M.Gorki, hay “Văn hóa là những gì còn lại sau khi tât cả đã mất đi”... Trong cách định nghĩa thứ hai, có thể lấy ví dụ về định nghĩa của nhà văn hóa học người Mỹ L. White “văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động” hoặc nổi tiếng hơn là E.B. Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy “Một tổng thể những phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lí, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán khác nhau mà con người hoạch đắc với tư cách là thành viên của xã hội”... Với một nội hàm rộng như vậy, với việc định nghĩa văn hóa theo hai hướng rộng và hẹp như vậy, việc đòi hỏi sự áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong văn hóa là điều tất yếu. Từ lâu trên thế giới những nhà nghiên cứu văn hóa đã sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau như tiếp cận dưới góc độ xã hội học, tiếp cận dưới góc độ văn hóa dân gian, tiếp cận dưới góc độ lịch sử, tiếp cận dưới góc độ dân tộc học với văn hóa. Và cách tiếp cận tâm lí học trong văn hóa cũng chỉ là một cách tiếp cận được các học giả trên thế giới áp dụng trong việc tìm hiểu về động cơ trong sáng tạo văn hóa của con người mà những cách tiếp cận khác không có do đặc thù của chúng. Mục tiêu của cách tiếp cận tâm lí học là bổ sung cho các cách tiếp cận khác để đạt cái đích coi “văn hóa là một hiện tượng xã hội tổng thể”.


1.2. Ưu thế của cách tiếp cận xã hội học đối với văn hóa


Với nhiều cách tiếp cận như vậy, có thể thấy ưu thế hay “mặt mạnh” (cũng như “mặt yếu”) của từng cách tiếp cận sẽ được thể hiện rõ ràng. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này người viết chỉ xin chọn cách tiếp cận xã hội học với văn hóa để phân tích trong quan hệ với cách tiếp cận tâm lí học bởi cách tiếp cận xã hội học là một cách tiếp cận tương đối “mới” và được áp dụng rất mạnh trong khoảng 15 năm trở lại đây ở Việt Nam bởi các nhà khoa học và đã có được những thành quả nhất định, chẳng hạn các công trình Xã hội học văn hóa (1996) của Đoàn Văn Chúc, Xã hội học sân khấu (1993) của Nguyễn Phan Thọ, Xã hội học nghệ thuật (1998) của TS. Bùi Quang Thắng, hay Các mô hình hôn nhân ở đồng bằng sông Hồng từ truyền thống đến hiện đại của TS. Khuất Thu Hồng (1997) và nhiều công trình của các tác giả khác thuộc Viện Xã hội học.


Trong cuốn Hành trình vào văn hóa học (2003) của TS. Bùi Quang Thắng, tác giả đã đúc kết những ưu thế của cách tiếp cận xã hội học nhu sau trên cơ sở khuynh hướng thiên về xã hội học thực chứng:


a/ Xã hội học thực chứng phân tích sự kiện, hiện tượng văn hóa theo nguyên lí của quan hệ nhân quả.
b/ Các phương pháp định lượng có ưu thế trong việc mô tả thực trạng trong xã hội phân tầng (1)
c/ Xã hội học có ưu thế trong nghiên cứu ứng dụng


Về các mặt yếu của cách tiếp cận xã hội học, ông cho rằng:


- Về mặt phương pháp luận, xã hội học thực chứng thường lấy cái tổng thể, cái xã hội để giải thích hoặc quy giản các hiện tượng văn hóa vào một vài những nguyên nhân xã hội, theo quy luật nhân quả.


- Về mặt phương pháp, cụ thể hóa các chỉ báo biểu thị được cấu trúc, chức năng của các hiện tượng văn hóa là một công việc hết sức khó khăn. Những gì là thuộc tính của văn hóa vốn mang tính trừu tượng (giá trị, niềm tin, đức hạnh, cái thẩm mỹ, đam mê, lo âu, sợ hãi...) nếu nhà xã hội học không đối tượng hóa được chúng thành những chỉ báo cụ thể và phù hợp với suy nghĩ cũng như lối sống của đối tượng thì các thông tin thu được (đặc biệt là những thông tin định lượng) sẽ không có giá trị.


- Xã hội học không mạnh trong các nghiên cứu lịch đại.


Những mặt yếu của cách tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu văn hóa chính là cơ sở và nội dung của các cách tiếp cận khác, đặc biệt là tiếp cận dưới góc độ tâm lí học. Đó chính là lí do đầu tiên cho việc áp dụng cách tiếp cận tâm lí học vào văn hóa để tạo nên một “tâm lí học văn hóa” (cultural psychology) mà trên thế giới hiện đang đề cập đến nhiều.


Lí do thứ hai khiến cần thiết phải tiếp cận văn hóa thông qua tâm lí học nằm ở sự thuận lợi của các phương pháp của tâm lí học trong việc nghiên cứu chủ thể và dộng cơ của nó do đặc điểm khó đo lường của các giá trị hay chuẩn mực văn hóa (như niềm tin, luật pháp, đạo đức...) bằng các phương pháp định lượng nên cách tiếp cận định tính sẽ mang lại sự hiểu biết nhiều hơn về tầm quan trọng của chủ thể mà dưới đây sẽ trình bày.


2. Tầm quan trọng của chủ thể văn hóa


2.1. Sự cần thiết tìm hiểu hoạt động của chủ thể: Hoạt động văn hóa cũng như những hoạt động khác gắn liền với chủ thể văn hóa là con người. Chủ thể văn hóa đã được đề cập đến nhiều dưới những góc nhìn chính trị, kinh tế, sử học, xã hội học... nhưng cách nhìn mang tính “nội tâm” lại ít được nêu ra. Có thể lấy thí dụ: Sự huy động mạnh mẽ tinh thần dân tộc trong công cuộc chống ngoại xâm của nước ta trong 2000 năm qua được thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ vừa rồi. Nếu chúng ta chỉ nhìn nhận vấn đề này dưới các góc độ trên thì chưa làm bật lên được vai trò của chủ thể văn hóa. Chủ thể của nền văn hóa Việt Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm từ 1945 đến 1975 vừa qua chính là con người Việt Nam với một đặc trưng tâm lí riêng biệt của dân tộc mình là khát vọng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước vốn được hun đúc và tồn tại trong mỗi cá nhân người Việt Nam qua trường kì lịch sử như một giá trị vĩnh hằng. Chính đặc trưng tâm lí này là sức mạnh quyết định chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Việc tìm hiểu sức mạnh này sẽ kéo theo việc tìm hiểu nhiều mặt trong tâm lí của người Việt mà trước đây đã được nhận thấy nhưng chưa được nghiên cứu kĩ càng, chẳng hạn lòng yêu nước, khát vọng độc lập, yêu hòa bình bắt nguồn từ những động cơ nào trong tâm thức người Việt.


2.2. Chủ thể văn hóa cũng chính là mục tiêu phát triển của văn hóa


Nếu như ở phần trên chúng ta đã đề cập đến sự cần thiết tìm hiểu chủ thể sáng tạo văn hóa thì ở phần này chủ thể - với tư cách người sáng tạo văn hóa cần phải được coi là mục tiêu của sự phát triển văn hóa cũng như trong kinh tế thì chủ thể kinh tế vừa là người sáng tạo vừa được coi là mục tiêu hướng tới của mọi hoạt động kinh tế, đặc biệt thể hiện thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ như an sinh xã hội, trợ cấp thất nghiệp.


Nhưng chúng ta có thể tự hỏi: Tầm quan trọng của chủ thể văn hóa nằm ở mức độ nào? Có thể trả lời ngay rằng nó nằm ở mức độ cao nhất bởi vì mọi hiện tượng hay hoạt động văn hóa đơn giản chỉ là những biểu lộ, thể hiện của đời sống tâm lí của chủ thể. Nếu một chủ thể văn hóa “sáng tạo, tích cực” thì sẽ tạo ra một hành vi văn hóa cũng “sáng tạo, tích cực”. Còn nếu một chủ thể văn hóa “thụ động, tiêu cực” thì ngược lại sẽ tạo ra những hành vi của cá nhân đó cũng như xã hội mà cá nhân đó đang tồn tại một thái độ thụ động, tiêu cực và dĩ nhiên nó cũng chứa đựng nhiều tiềm ẩn và bất ổn trong hiện tại cũng như tương lai cho cá nhân và xã hội đó. Những ví dụ để minh họa cho điều này rất nhiều và khó có thể tranh cãi được. Chẳng hạn một trang web “không lành mạnh” như sex, bạo lực... trên mạng Internet nếu không bị ngăn chặn sẽ làm biến đổi tâm, sinh lí, nhận thức, cũng như thái độ của chủ thể, đặc biệt khi khả năng kiểm soát hành vi của chủ thể bị giới hạn bởi tuổi tác và sự hiểu biết, như với giới trẻ thuộc tầng lớp vị thành niên. Những vụ lừa tình, lừa tiền, giết người... do Internet mang lại không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới xảy ra trong tầng lớp này và các tầng lớp khác đã là những điển hình quá tiêu biểu và đáng báo động.


Sự cần thiết của tâm lí học ở đây, trong việc nghiên cứu văn hóa cũng chính là ở việc tìm hiểu động cơ của chủ thể khi lựa chọn và tiếp cận những nguồn thông tin nào trong một thế giới ngày nay đầy náo động, phức tạp và biến động mà khái niệm xã hội thông tin đã trở nên quá phổ biến, quá nhiễu loạn và bão hòa. Thu thập và xử lí thông tin chắc chắn luôn luôn vẫn là những yếu tố cơ bản của hoạt động con người, bởi chỉ qua “thông tin” mà con người mới liên lạc và quan hệ được với nhau.


Kết luận: Việc áp dụng tâm lí học vào nghiên cứu văn hóa như vậy không chỉ đã được hiểu mà còn được củng cố hơn khi mà sự cần thiết của nó được nêu ra và chứng minh rõ ràng, mà bài viết này chỉ là bước đầu tiên khi đề cập đến tính cần thiết đó. Những nội dung khác của một “tâm lí học văn hóa” hay tiếp cận văn hóa qua tâm lí học cả về lí thuyết lẫn ứng dụng chắc chắn sẽ là chủ đề tiếp theo của những bài viết sau này của tác giả.


 B.L.P.K

--------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Quang Thắng, Hành trình vào văn hóa học, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.
2. Đỗ Lai Thúy, Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nhà xuất bản Thông tin, Hà Nội, 2000.
3. Đỗ Lai Thúy, Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.
4. Đỗ Lai Thúy, Phân tâm học và tình yêu, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.
5. Đỗ Long, Tâm lí cộng đồng làng và di sản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}