Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Sự phụng thờ quận công Trần Chân và hoàng hậu nhà Mạc

GS.TSKH Phan Mạc Đăng Nhật | Thứ Tư, 28/02/2018 21:42 GMT +7

(Xin vô cùng cám ơn PGS.TS.BS.Trần Văn Tuấn, trưởng họ Trần La Khê, đã tạo điều kiện , giúp đỡ tư liệu để chúng tôi hoàn thiện bài viết này; và cháu Nguyễn Đăng Khoa giúp về ảnh.)

 GS.TSKH  Phan Mạc Đăng Nhật

                                          Mục lục

          Bài này có  5  đoạn chính:

          -Giới thiệu tóm tắt làng La Khê và Hội  La Khê: tr.1- tr. 11.

          -Tóm tắt sự nghiệp Quận công  Trần Chân và sự phụng thờ Ngài :tr.11-tr.24.

--Đình La Khê :tr.24-tr.30

          -Tóm tắt tiểu sử Đức Thánh Bà, Hoàng hậu nhà Mạc,   Trần Thị Hiền và sự phụng thờ Ngài: tr.30-tr.46.

          -Kết luận: tr. 46-tr.48.

          -Tài liệu tham khảo: tr. 48-51.

                                                                *

          I.Giới thiệu tóm tắt làng La Khê và hội làng La Khê

Làng La Khê  vốn thuộc xã Văn Khê, thành phố Hà Đông, nay là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội. La Khê là một vùng đất cổ thuộc nước Văn Lang thời vua Hùng. Thời Đinh và Tiền Lê làng thuộc đạo Quốc Oai, sang thời Trần thuộc châu Quốc Oai, đến thời Lê thuộc huyện Từ Liêm, rồi huyện Hoài Đức, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời thuộc Pháp, La Khê là một trong trong 7 làng La ( La Khê, La Du, la Dương, La Tinh, La Phù, La Nội, Ỷ La), thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Sau khi tách tỉnh  Hà Nội, La Khê thuộc tỉnh Hà Đông.

Với vị thế của một làng Việt cổ, từ  lâu La Khê đã tạo cho mình một phong cách sống đẹp. Đó là sự khéo léo, tài hoa mà chúng ta được biết qua nghề dệt nổi tiếng của làng:

                                              The La, lụa Vạn, vải Canh

                                      Nhanh tay đem bán ai sành thì mua

Lụa La Khê, một thời là nguồn cung cấp chính cho các hàng tơ lụa ở phố Hàng Đào. Làng còn nổi tiếng là một trong bốn làng danh hương “Tứ quý danh hương” gồm: Mỗ , La, Canh,  Cót. Còn có dị bản: nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh, Cót

Qua bao thăng trầm, người làng La Khê vẫn cần cù, nhân hậu, ham học,ham làm, xứng với mỹ tự  “Mỹ tục khả phong” mà vua Tự Đức đã phong tặng cho làng xưa kia.

Làng La Khê được hình thành từ thế kỷ thứ 5, ban đầu làng có tên La Ninh . Sang thế kỷ 15, làng La Ninh đổi tên thành La Khê (tức là làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ). Thuở ban đầu, sản phẩm dệt của làng vẫn còn thô sơ, chủ yếu là sồi, đũi, phục vụ cho nhu cầu của cư dân Thăng Long xưa. Ðến đầu thế kỷ 17, người Hoa ở vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốcdi cư sang Việt Nam mang theo nghề dệt thủ công. Trong số đó, mười gia đình người Hoa đã đến lập nghiệp ở đất La Khê, đem nghề dệt the, sa nhuộm đen và công nghệ dệt,  dạy lại cho dân làng. Thời đó, hầu hết dân làng La Khê đều sống bằng nghề canh cửi. Các sản phẩm the, sa, vân, địa, quế, gấm vóc của La Khê với những họa tiết, hoa văn tinh xảo dần thay thế sồi, đũi nhờ chất lượng được nâng cao như mỏng, nhẹ hơn nhưng lại rất bền và đẹp, được các tầng lớp quý tộc ưa chuộng. Cái khác biệt của làng lụa La Khê với làng lụa Vạn Phúc là: làng La Khê xưa chuyên nghề dệt sa màu và các thứ lụa bạch, lụa vân;  còn làng cổ Vạn phúc thì nổi tiếng với thứ lụa gấm lâu đời (tương truyền có từ thời Cao Biền)

Đầu thế kỷ 19, làng La Khê cùng với các làng La Nội, Ỷ La, La Tinh, Yên Lộ, Nghĩa Lộ đều thuộc tổng La Nội huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Tới năm 1831, La Khê (cùng cả tổng La Nội) được chuyển về thuộc huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội.

Năm 1823, triều đình nhà Nguyễn ra sắc lệnh lập La Khê thành một xưởng dệt cho kinh thành Huế, đồng thời cho cả làng được miễn đi lính để tập trung cho việc phát triển làng nghề. Khoảng những năm 1840 thời vua Thiệu Trị, xưởng dệt làng La Khê gọi là Chức tạo cục, hàng năm phải sản xuất và cung cấp cho triều đình theo định mức 600 tấm sa màu. Chợ Cầu Ðơ với một tháng sáu phiên là nơi người dân trong làng bán buôn, để từ đó thứ sản phẩm cao cấp này đi khắp đất nước.

Tục truyền rằng: đến đời vua Minh Mạng (1820-1841), có viên cai đội mãn hạn lính nhà Nguyễn, tên là Trần Quý, tìm thấy được mảnh gấm nước ngoài dệt tinh xảo, liền mày mò nghiên cứu xem xét, tìm ra được bí mật trong cách dệt gấm vóc của nước ngoài, bèn cùng một số thợ bạn trong làng bàn cách cải tiến việc dệt gấm vóc và cuối cùng nhóm thợ làng La Khê này đã dệt được một tấm gấm tinh xảo không kém tấm gấm mẫu. Từ đó, làng La Khê có thêm nghề dệt gấm, Trần Quý thành ông tổ dệt gấm của làng.

Nghề dệt the ở La Khê phát triển mạnh, không những cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang châu Âu. Đầu thế kỷ 20, các nghệ nhân làng nghề còn được phong cửu phẩm, bá hộ, thêm vào đó the làng La còn được mang triển lãm ở thành phố Paris.

Sau năm 1954, nghề dệt the tạm lắng, cả làng La Khê quay sang dệt vải bông, khăn mặt, thảm đay theo kinh tế tập trung, phục vụ sinh hoạt trong thời chiến tranh Việt Nam

Cho mãi năm 1990, một số nghệ nhân dệt, tìm cách phục hồi làng nghề cũ, cải tiến từ dệt tay sang dệt máy. .(Wikipedia-Làng La Khê)

 

Ngày nay, hội làng La Khê tổ chức từ 14 đến 16 tháng Giêng. Hội được tổ chức tại đình làng. Thường năm tổ chức hội lệ, năm năm lại tổ chức  hội lớn/đại đám một lần, có đám rước rất quy mô.

Lịch trình hội như sau: Ngày 14 tháng giêng là Khai tế, ngày 15 tháng Giêng là Chính hội, ngày 16 là Mãn tịch.

Trong  những ngày hội, làng tổ chức các hoạt động vui chơi, thể thao như: đấu cờ tướng, bóng bàn, đấu võ, chọi gà, ném vòng cổ vịt, đu quay, hát chèo, hát Quan họ trên hồ trước cửa đình.

Lễ vật dâng lên thành hoàng gồm có xôi ,thịt , voi ngựa (hàng mã). Năm có rước thì bắt đầu từ 6 h sáng ngày 15. Ngoài 2 bài vị của thành hoàng làng ,  còn có bài vị của Đức Thánh Bà (xưa kia chỉ có bài vị của 2 thành hoàng làng). Đoàn rước bao gồm một đội múa sư tử, đi đầu, một đội múa sinh tiền, một đội binh đao, bát bửu, 3 long đình và kiệu, các ông ngựa, đội tế, đội dâng hương, dân làng và khách hành hương…[1]

Rước là một nghi lễ đặc biệt, một thứ ngôn ngữ văn hóa nghệ thuật tổng hợp có sức biểu đạt mạnh mẽ , gây ấn tượng sâu sắc về các mặt: tâm lý, quan  niệm và nguyện vọng của toàn thể cộng đồng làng, trong mối quan hệ với thần linh, quan hệ với nhau và với các cộng đồng cư dân , làng phố lân cận.

Cộng đồng cư dân các dân tộc nước ta, đa số cũng như thiểu số, mà thiểu số đậm đặc hơn, đã từ lâu đời sống trong môi trường tâm linh khép kín của vòng đời người và vòng cây trồng-cây lúa, lúa khô và lúa nước. Sự ứng xử mối quan hệ thiêng và tục  xẩy ra thường ngày. Tuy nhiên sự bộc lộ rõ rệt và mạnh mẽ là vào những dịp cúng lễ hội hè, mà ở miền xuôi, người Kinh, tiêu biểu là tế và rước thần.

Tại sao phải có đám rước thần? Thông thường nhiều làng, Thành hoàng ngụ ở đền hoặc miếu, ở đình thường ngày không có thành hoàng. Đến ngày hội, dân làng rước/ phụng nghinh Ngài từ đền hoặc miếu đến đình để Ngài dự hội, sau lễ thì rước Ngài về đền hoặc miếu, gọi là phụng nghinh hoàn cung. (PGS Lê Trung Vũ trả lời ngày 25-1-2018). Làng Cót rước thần đi dài đến  10km là để Thành hoàng du ngoạn. Vậy ý nghĩa việc rước thần có nhiều, có thể do đáp ứng một nhu cầu thực tế cần thiết, bắt buộc, cũng có thể do một mục đích không bắt buộc.

Riêng ở La Khê,  thành hoàng làng La Khê là Nhị vị đại vương ngụ ở đình làng, được rước từ đình làng (cũ) sang đình mới, nghỉ lại một đêm, sau đó được phụng nghinh hồi đình.

Ngoài Nhị vị đại vương, Đức Thánh Bà cũng được bổ sung vào số các vị thần được rước. Điều này có hai ý nghĩa:

-Đức thánh Bà là người công dung ngôn hạnh toàn vẹn, sinh thời, tại Mạc triều, Bà chăm lo mọi việc,  phò vua giúp nước. Khi Bà hóa, vô cùng linh ứng đã phù hộ độ trì cho vô số con dân, thoát khỏi đói nghèo, được đỗ đạt, thăng quan, tiến chức, thịnh đạt , giàu sang, nhiều người khắp nơi mang nặng ơn Bà.

-Ý nghĩa thứ hai là hoàn chỉnh cấu trúc ba ngôi trong tam vị thần linh hòa hợp, đồng nguyên ở làng Việt: Phật (Đức Thích ca), Thần (Nhị vị đại vương), Thánh (Đức Thánh Bà)

Đức Thánh Bà là một biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu với môt thần điện gồm có Bà là thánh chủ, nhị vị cô nương, cộng đồng các quan, cộng đồng Tiên thánh, cô Bé bản đền, cậu Bé bản phủ , có chúa Sơn Lâm ngự ở động Sơn trang, có trung ban , hạ ban-nơi dâng lễ vật sống và gạo muối. Ở di tích Bia Bà cũng có  lên đồng hầu bóng, phát lộc. Tóm lại , Đức Thánh Bà từng bước hòa nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu phổ biến  các vùng trên đất nước ta, từ Bắc chí Nam, dân tộc đa số cũng như thiểu số; mà đại diện là đạo Mẫu tứ phủ.

Chúng ta đang nói về nghi lễ rước thần. Tế lễ, lễ hội hoặc hội làng, hội có hai thành phần chính là tế thần và rước thần, không thể và không nên thiếu một trong hai thành phần đó. Chúng bổ sung cho nhau, tạo một nhất thể hoàn chỉnh, mà mỗi phía có một đặc điểm một mặt, một phương diện riêng.

Tế thần có tính kín, rước thần có tính khoáng đại; tế thần có tính tại chỗ, rước thần có tính di động; tế thần thành phần tham gia hữu hạn, rước thần huy động toàn thể cộng đồng làng và các cộng đông khác.

Tế thần ở đình làng, trong một khuôn viên hữu hạn, không thể để công chúng đại trà vào tế . Đứng ra tế thần là một đôi ngũ chức sắc có danh vị trong làng, họ phải được học tập một số kỹ năng thao tác , nhiều khi phảỉ tập cho nhuần nhuyễn để tránh tình trạng “ông gà bà vịt”, “đầu Ngô mình Sở”, gây lộn xộn chốn linh thiêng, khiến các thần thánh bất bình.

Tình trạng trên mâu thuẫn với ước nguyện của toàn dân là ai cũng mong được trực tiếp với thần linh. Do đó phải có đám rước như một sự bổ sung, hoàn chỉnh. Đám rước huy động lưc lượng đông đảo cộng đồng làng tham gia. Mọi thành phần nam, phụ, lão, ấu đều có thể và có quyền đóng góp vào đám rước. Nhiều thành phần trong đó phải được lựa chọn, cân nhắc, thường được chú ý đến  đến gia cảnh suôn sẻ, không tang trở, cháu con đề huề , thịnh đạt, đặc biệt là kiêng “có bụi”; tham dự ở mức độ khác nhau dầu ở mức độ nào, cũng là môt sự tự hào vinh dự và là một nhiệm vụ thiêng của dân làng

Các cháu trai tráng thì được khiêng long đình/ kiệu, cầm lọng , cầm bát bửu, vào nhóm trống, chiêng, hoặc nhóm “ông ngựa”. Các cháu gái, thanh nữ vào đội múa sinh tiền, dẻo dai, tươi tắn, rất thích hợp. Phường bất âm thì phải có chuyên môn.

Một bộ phận rất đông đảo tham dự hội là công chúng cộng đồng làng, từ các lão ông, lão bà cho đến trẻ thơ, đi theo ông bà cha mẹ. Họ thường đứng bên đường để nghênh tiếp các Ngài. Các cụ thượng lão của các thôn mặc áo đỏ, ngồi ghế thành hàng trang nghiêm. Các gia đình đặt hương án, trên đó có lễ vật , hương đăng phù tửu, xôi gà,…dâng lên các Ngài để bầy tỏ lòng tri ân và thành kính.

Ai ai cũng háo hức, nô nức tham gia hội theo phận sự của mình, ai cũng gắng sức hoàn thành nhiệm vụ đến mức cao nhất, đặc biệt là không để ra sơ suất, chếch lệch để các Ngài hài lòng và bản thân được gia ân và phúc lộc.

Tóm lại, hội phải có tế thần và rước thần. Hai bộ phận trên cần phải có, nên có đủ, để hoàn chỉnh cấu trúc lễ hội và do đó đáp ứng được nguyện vọng toàn thể cộng đồng làng là tất cả già trẻ trai gái đều có cơ hội bầy tỏ lòng tri ân và sùng kính bằng các công việc trong hội, để phụng sự các Ngài; hoặc ít nhất , được trực  diện bái kiến các Ngài để bày tỏ tấm lòng của người dân , sau năm năm mong đợi. Rước thần phải 5 năm một lần, vì tổ chức dày hơn thì mất công phu và tốn kém, thế cũng đủ thỏa nỗi ước mong rồi.

Ghi chú: Trong bài có một số ảnh lấy từ bài Lễ hội truyền thống La Khê, 2017.

II. Tóm tắt sự nghiệp Quận công Thiết Sơn bá Trần Chân và việc thờ phụng Ngài.

           (Tộc ước họ Mạc La Khê, trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

2.1.Tiểu sử.

Trần Chân (chữ Hán: 陳真,[1] Canh Dần 1470-1518) là tướng cuối thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, người xã La Khê, huyện Từ LiêmHà NộiViệt Nam, nay là Hà Đông, Hà nội.

Theo Đại Việt thông sử, Trần Chân là con nuôi Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, một quyền thần nhà Lê sơ. Ông theo Trịnh Duy Sản đánh trận lập công, được phong chức Thiết Sơn bá (鐵山伯). Ông chính là cha của bà thứ phi của Mạc Đăng Doanh, sau khi mất Bà được tấn phong "Đông cung Hoàng Hậu" và là người được nhắc đến trong Bia Bà ở La Khê Hà Đông bây giờ (mactrieu.vn)

Bia thờ Quận Công Trần Chân - do Triều đình Tiền Lê ban tặng. Nội dung khắc trên bia: TIỀN LÊ CÔNG THẦN THIẾT SƠN BÁ TẶNG QUẬN CÔNG TRẦN CÔNG CHÂN CHI VỊ . Bia, mộ Quận Công Trần Chân (Dũng Quận công Trần Chân) - cha của Đông cung Hoàng hậu Trần Thị Hiền (Bia bà La khê) đặt cạnh chùa Ngòi - Hà Đông (từ cổng chính vào ở phía bên trái).

2.Phá Trần Cảo

Trịnh Duy Sản trở thành đại thần nhà Lê sơ. Thời vua Lê Tương Dực ăn chơi sa đoạ, nhân dân nổi dậy khởi nghĩa, trong đó lớn nhất là khởi nghĩa Trần Cảo (1516).

Trịnh Duy Sản can ngăn vua Tương Dực bị đánh đòn nên sinh oán hận, giết chết Tương Dực, lập chắt Lê Thánh Tông là Lê Ỷ mới 11 tuổi lên ngôi, tức là Lê Chiêu Tông.

Quân khởi nghĩa Trần Cảo tiến đánh kinh thành Thăng Long. Cùng lúc đó Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở Bồ Đề, được tin Duy Sản giết vua, liền đem quân qua sông, đốt hết phố xá trong kinh thành. Trịnh Duy Sản thấy kinh thành bị phá liền mang vua Lê Chiêu Tông bỏ chạy về Tây Đô (Thanh Hóa). Thái sư Lê Quảng Độ đầu hàng Trần Cảo.

Nhân đấy Trần Cao sang qua sông, vào chiếm cứ kinh thành, xưng niên hiệu là Thiên Ứng, ngự triều xưng làm vua, dùng Lê Quảng Độ xếp đặt công việc trong nước. Lúc đó Trần Chân họp tập thống suất các dũng sĩ cũ cùng con em trong nhà, binh tráng trong làng được mấy ngàn người, đóng ở chợ Hoàng Hoa, để mưu tính công việc đánh Trần Cảo.

Trần Cảo được tin, sai đồ đảng là Phan Ất từ làng Bảo Đà huyện Thanh Oai tiến quân; Trần Chân từ làng Dư Dụ huyện Thanh Đàm đem quân đón đánh. Trần Chân tiến đến xạ đôi (mô đất để tập bắn[2]) cố sức đánh nhau với Phan Ất, khí giới đều hết phải lấy mảnh cong mảnh lọ để ném. Răng và miệng Trần Chân bị thương nặng, lại thấy rằng toán quân của mình chơ vơ khó có thể đánh lâu được, bèn nhân đêm rút quân đến chợ Hoàng Hoa[3].

Trịnh Duy Sản nhận lệnh vua Chiêu Tông thống lĩnh quân thuỷ lẫn quân bộ, hợp sức các tướng tiến đánh kinh thành, vây 4 mặt. Sau đó các đạo quân nhà Lê hợp lại phá tan quân Trần Cảo. Cảo phá vây bỏ chạy. Vua Chiêu Tông trở lại kinh đô.

Tháng 11 năm 1516, Trần Chân theo cha nuôi Trịnh Duy Sản cùng Nguyễn Hoằng Dụ dẫn các tướng đi đánh Trần Cảo ở xã Trâu Sơn, huyện Chí Linh (Hải Dương). Trong khi đó tình hình ở kinh thành không yên, kỷ luật của tướng sĩ không nghiêm. Các tướng cậy có công làm càn, hoành hành cướp phá ở kinh đô, thả cửa giết người. Duy Sản nghe tin, vội sai Trần Chân điều bớt quân về kinh để dẹp các tướng làm loạn.

Trong khi Trần Chân về ổn định kinh thành thì Trịnh Duy Sản chủ quan khinh địch, bị Trần Cảo bắt sống mang về hành dinh ở Vạn Kiếp giết chết. Quân triều đình tan vỡ.

Trần Cảo nhân đà thắng trận, tiến quân thẳng đến Bồ Đề. Kinh thành lại nguy cấp. Lê Chiêu Tông liền sai Thiết Sơn bá Trần Chân mang quân ra đón đánh. Trần Chân phá tan được quân Trần Cảo. Cảo lại lẩn lút ở Lạng Nguyên không dám ra, truyền ngôi cho con là Cung rồi cạo đầu làm sư để trốn tránh.

3.Bị lời gièm pha

Trần Cảo tạm bị dẹp yên nhưng các đại thần nhà Lê lại quay sang đánh nhau. Nguyễn Hoằng Dụ cất quân đánh Trịnh Tuy ở quãng phường Khúc Phố - Phục Cổ ba lần không phân thắng bại. Đồ đảng của Tuy là Nguyễn Thế Phó bị trúng mũi tên phải rút lui. Tuy bèn bỏ chạy.

Trịnh Tuy là người cùng họ với cha nuôi Trịnh Duy Sản của Trần Chân nên ông về phe với Trịnh Tuy, cất quân đánh Hoằng Dụ. Mặt khác, ông mật hạ lệnh cho con em các quân doanh ở Sơn Tây cùng đánh. Hoằng Dụ không chống nổi, chạy vào Thanh Hoa.

Trần Chân đã đuổi được Nguyễn Hoằng Dụ, cầm quân bảo vệ kinh sư. Chiêu Tông sai Mạc Đăng Dung đem quân thủy đuổi Hoằng Dụ. Hoằng Dụ viết thư đưa cho Đăng Dung. Đăng Dung nhận được thư, đóng quân lại không đánh nữa, nhân đấy Hoằng Dụ được toàn vẹn rút quân.

Trần Chân đuổi được Hoằng Dụ, một mình cầm quyền bính trong tay. Mạc Đăng Dung muốn kết thân, liền hỏi lấy con gái Trần Chân cho con trai mình là Mạc Đăng Doanh.

Lúc ấy Chiêu Tông còn ít tuổi, uy thế trong triều của Trần Chân rất lớn. Tháng 7 năm 1518, có người hiếu sự làm câu sấm rằng: "Trần hữu nhất nhân, vì thiên hạ quân, thỏ đầu hổ vĩ, tế thế an dân", nghĩa là: "Họ Trần có một người, làm vua thiên hạ, đầu thỏ đuôi hùm, giúp đời yên dân". Vì vậy, các cận thần của Chiêu Tông là Chử Khải, Trịnh Hựu, Ngô Bính mưu tính với nhau rằng: "Trần hữu nhất nhân" tức là Trần Chân, "thỏ đầu hổ vĩ" tức là cuối năm Dần, đầu năm Mão. Từ đó 3 người suy đoán năm Mão sẽ có biến loạn, nên khuyên Chiêu Tông trừ Trần Chân.

Chiêu Tông tin lời gièm pha, bèn cho triệu Trần Chân vào trong cung cấm. Trần Chân cùng các thủ hạ Trần Trí, Nguyễn Nga, Nguyễn Bá Đại, Lê Nguyên Khâm... 6 người đi vào. Chiêu Tông hạ lệnh đóng các cửa thành rồi sai lực sĩ bắt, Trần Chân chạy đến trên thành, người giữ cửa bắt được, đem chém chết.

4.Thủ hạ báo thù

Được tin ông bị sát hại, bộ tướng của ông là Hoàng Duy NhạcNguyễn Kính và Nguyễn Áng liền đem quân xông vào cửa Đại Hưng, bị người giữ cửa chống cự, không vào được. Chiêu Tông sai đem đầu Trần Chân giơ lên cho mọi người biết. Nguyễn Kính và Nguyễn Áng tạm rút lui, tụ hợp ở Yên Lãng, rồi lại tiến lên đánh sát vào kinh thành. Đương đêm Chiêu Tông phải chạy đi Gia Lâm.

Sau đó Nguyễn Kính và các tướng đánh dữ để báo thù cho Trần Chân, quân các trấn kéo về giúp vua đánh họ nhưng không thắng nổi. Nguyễn Kính ra điều kiện phải giết 3 người đã gièm pha hãm hại ông. Vua Chiêu Tông buộc phải nghe theo.

Về sau các bộ tướng của ông phân hoá, Hoàng Duy Nhạc theo Mạc Đăng Dung, còn Nguyễn Kính, Nguyễn Áng lại theo Chiêu Tông chống Đăng Dung. Nhưng tới khi Chiêu Tông theo Trịnh Tuy vào Thanh Hoá, Kính và Áng liền cùng theo về với Đăng Dung.

Tháng 11 năm 1524, vua Lê Cung Hoàng truy tặng Trần Chân làm quận công, phong con ông là Trần Thực làm Hoằng Hưu bá.

5.Bình luận

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư nhận định về ông cùng các thủ hạ của ông trong bối cảnh nhà Lê bấy giờ như sau:

Người ta có ba bậc phải thờ phụng như một là vua, thầy và cha, có khác gì nhau đâu. Xưa Trương Tú buộc tờ biểu vào cán búa, giết người để phục thù cho cha, mà nổi tiếng ở đời Đường; Quách Bốc đem quân vào trong cung, đuổi vua để cứu bộ tướng của mình mà danh dậy đời [4]. Những người ấy đề đem lòng thờ vua, thờ chủ mà chuyển thành đạo thờ cha, thờ thầy, có gì khác đâu! Trần Chân ở triều Lê, có công lao không phải là nhỏ. Đương lúc giặc Cảo tiếm hiệu cướp ngôi ở Đông Kinh, Chân đem quân một lữ đêm ngày xoay xở đánh lại, đến hơn mười ngày mà tên đầu sỏ Cảo phải rút chạy. Đến khi giặc Cảo lại đánh đến Bồ Đề, Chân đem mấy ngàn quân vượt sông tiến đánh, chưa tới mươi ngày mà đồ đảng của Cảo tan vỡ, mặt trời mặt trăng của nhà Lê lại sáng, tông miếu của nhà Lê lại được thờ, so với Thần My khôi phục nhà Hạ, Cát Phủ khuông phù nhà Chu có khác gì đâu. Thế mà khi giặc lớn chưa dẹp, bọn gian dương dòm ngó, trên thì vua ngu tối tin lời dèm, trong thì mẫu hậu gian phi gây hoạ, đến nỗi gọi vào cung cấm giết kẻ tướng thần, so với Lý Cao Tông giết Bỉnh Di, Trần Giản Định giết Đặng Tất, kẻ có công bị ngờ vực, người vô tội bị giết hại, ngậm oan nuốt hận, trời đất không hay, há chẳng đau xót lắm ư? Hợp cả Nguyễn Kính, Nguyễn Áng mà bàn, thì hai người này là tướng dưới trướng của Chân, mài chí phục thù, dốc lòng trừ gian, liều mình cứu mạng cho chủ, trên là để báo lại ơn đức xưa nay, dưới là giải được mối oan khiên uất ức, phù trì chính khí cho ức vạn năm, diệt bọn gian hùng cho ngay lúc ấy, đạo thờ thầy đã sáng rõ lắm rồi. Song xét ra, Chân làm tướng không biết răn cấm tả hữu, khi thì giết bậc danh thần giữa chốn đại đô, lúc lại uống rượu, ngự trong cung Lục Thanh, rất không phải là lễ của người làm tôi, thế thì Chân bị giết cũng là tự chuốc lấy, có gì đáng lạ!

Các sách sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt Sử Thông giám cương mục, khi chép về sử nhà Lê sơ không nhắc đến những hành trạng "thất lễ" của Trần Chân, nhưng tới khi ông bị hại mới đưa ra lời bàn luận, nêu trong đó những việc làm như "khi thì giết bậc danh thần giữa chốn đại đô, lúc lại uống rượu, ngự trong cung Lục Thanh, rất không phải là lễ của người làm tôi" để kết luận "thế thì Chân bị giết cũng là tự chuốc lấy". Nếu những việc làm đó được chép thẳng vào những dòng "sử biên niên" thì sẽ minh bạch hơn. Đời sau không rõ ông đã lạm quyền giết bậc danh thần khi đó là ai và uống rượu, ngự trong cung Lục Thanh khi nào.

Thời Lê Chiêu Tông loạn lạc không yên, các đại thần chia bè phái đánh lẫn nhau triền miên. Quyền uy của Trần Chân lớn khiến nhiều người ghen ghét. Bài sấm vĩ có lẽ do một đối thủ chính trị nào đó đặt ra để hại ông. Người đó có thể là cận thần của Lê Chiêu Tông, là Nguyễn Hoằng Dụ hoặc chính là thông gia Mạc Đăng Dung của ông.

                                                             *

Công lao của Thiết Sơn Bá Trần Chân và bối cảnh lịch sử đương thời đã được Tộc ước họ Trần La Khê (Wikipedia) ghi lại đầy đủ. Tuy nhiên cần bàn lại lời bàn , gốc của lời bàn ở trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, NXB Khoa học xã hội, 1998, tr. 89. Ngoài phần gốc, Wikipedia cũng bàn thêm.Lời bàn  gồm 2 ý:

-Một là, “Song xét ra, Chân làm tướng không biết răn cấm tả hữu, khi thì giết bậc đại thần giữa đại đô, lúc lại uống rượu ngự trong cung Lục Thanh, rất không phải là lễ của người làm tôi, thế thì Chân bị giết cũng là tự chuốc lấy, có gì là lạ” (ĐVSKTT)

Về ý này Wikipedia có bàn thêm: “Nếu những việc làm đó được chép thẳng vào những dòng "sử biên niên" thì sẽ minh bạch hơn. Đời sau không rõ ông đã lạm quyền giết bậc danh thần khi đó là ai và uống rượu, ngự trong cung Lục Thanh khi nào”, có ý nghi ngờ sự chính xác trung thực của tư liệu trên.

- Hai là, “Bài sấm vĩ có lẽ do một đối thủ chính trị nào đó đặt ra để hại ông. Người đó có thể là cận thần của Lê Chiêu Tông, là Nguyễn Hoằng Dụ hoặc chính là thông gia Mạc Đăng Dung của ông”.

Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý những lời bàn vừa trích trên đây, vì những lý do sau:

-Lê Chiêu Tông cùng bọn gian thần xiểm nịnh đã giết một bậc đại trung thần, đầy đủ tài năng và đạo đức phẩm chất, lại giết luôn cả con trai ông, và bộ tướng tất cả 6 người. Hai cha con và bộ tướng đang đem xương máu, tính mệnh để gánh đỡ một triều đình đã ruỗng nát đến cùng cực và việc gánh đỡ đó-đánh đuổi Trần Cảo, đang có hiệu quả mà bị giết oan. Đây là một nỗi đau thương , oan ức vô cùng to lớn của gia đình và dòng họ Trần “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” (Truyện Kiều), xét về tính chất oan ức thì có thể so với vụ Lệ Chi Viên, hãm hại Nguyễn Trãi và Trần Thị lộ.

Thế mà lời   bàn dám viết: “thế thì Trần Chân bị giết cũng là tự chuốc lấy, có gì là lạ” . Chủ nhân của lời bàn đưa ra những chứng cớ rất mơ hồ để buộc tội cho Trần Chân, che dấu tội cho bọn giết người, người bàn này là đồng phạm tội ác.

-Che tội của kẻ giết người, đổ tội cho người bị oan, đã nặng tội lắm rồi, hơn nữa   lời bàn còn bịa chuyện để đổ vấy cho những người không liên  quan là  Nguyễn Hoằng Dụ và Mạc Đăng Dung. Là sự kiện lịch sử, lại là chuyện hệ trọng liên quan đến tính mạng , mà đoán mò (!). Nhóm người dèm pha, xiểm nịnh là bọn cận thần của Chiêu Tông Lê Ỷ,  sử đã ghi rõ (Chử Khải,Trịnh Hựu, Ngô Bính),  đã bị đền tội, sao không chỉ đích danh họ, mà còn đoán mò ở đâu để gây thêm tội phạm oan? Chẳng qua là loay hoay muốn che tội cho kẻ giết oan là Lê Chiêu Tông và đồng mưu.

-Bài học rút ra từ sự kiện bọn Chiêu Tông nói trên là, bản chất vua quan phong kiến , đặc biệt thời kỳ suy đồi, là kẻ thù của tài năng, đạo đức , kể cả đối với những người cúc cung tận tụy đối với họ.  Vậy nên , những bậc anh minh, trí giả, có lòng lo cho đất nước  nếu không muốn bị giết oan như cha con Trần Chân hoặc “tam tộc”Nguyễn Trãi , Nguyễn Thị Lộ;  thì chỉ có cách lật đổ triều đình thối nát, lập nên cơ cấu mới tiến bộ hơn. Đó là việc Mạc Đăng Dung đã làm mà lịch sử ngày càng thấy ông sáng suốt.

 

2.2. SỰ PHỤNG THỜ NGÀI QUẬN CÔNG THIẾT SƠN BÁ

(Tộc ước họ Trần La Khê)

 

Bia Cụ Quận là Bia thờ Quận công Trần Chân - Cụ Tổ Họ Trần La Khê, nhà Bia nằm cạnh Chùa Phúc khê[2] (dân làng quen gọi là Chùa Ngòi), đi từ cổng vào bên trái, nay thuộc địa phận phường Quang trung, quận Hà đông.

Cụ Quận sinh năm 1470 tại làng La khê, mất ngày 11/7/1518.

Cụ Quận có hai con: một trai, một gái. Con trai là Trần Thực[3], con gái là Trần Thị Hiền - là Bà thứ phi[4] của Mạc Đăng Doanh (làm Vua đời thứ hai triều Mạc từ năm 1530 - 1540), Bia thờ Bà Trần Thị Hiền, nhân dân vẫn quen gọi là Bia Bà nằm trong quần thể di tích Đình, Chùa La khê .

Khu chùa Ngòi và Bia Cụ Quận có diện tích khá rộng. Trước cách mạng Tháng tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, diện tích khu này khoảng 4 đến 5 mẫu bắc bộ (mỗi mẫu bằng 3.600 m2). Đến cuộc kháng chiến chông Mĩ, diện tích còn khoảng 3 mẫu bắc bộ.

Ngôi Mộ của Cụ Quận nằm bên trái Chùa Ngòi (nhìn từ cổng vào) có diện tích khoảng 3,5 sào bắc bộ (mỗi sào bằng 360 m2), giữa là mộ, xung quanh là ruộng.

Mộ có một am nhỏ, trong am là tấm Bia khắc chữ Nôm, phía trên am có một bức Đại tự nhỏ, có hai câu đối (một câu đối có hai vế đối) khắc trên các trụ nhỏ và một bệ thờ phía trước để họ hàng và khách đặt lễ. Phía sau am (đi bên phải vòng ra sau) có một tấm bia nhỏ, hiện nhô lên mặt đất chừng 10 cm, đây là tấm bia do Vua Bảo Đại đặt để “chấn hậu” khi ông đến viếng mộ Cụ trong lần vi hành ra Bắc[5]. Bức Đại tự nhỏ và hai đôi câu đối do Mạc Đăng Doanh soạn để ghi phía trên mộ Cụ khi khu mộ hoàn thành[6].

Trong kháng chiến chống Mĩ, các Đình Chùa nói chung được trưng dụng để phục vụ chiến tranh. Trong toàn khuôn viên chùa Ngòi thời kì này, Tỉnh có cho Trạm Đại học của Quân khu III đóng quân từ năm 1968 đến sau năm 1975 để các quân nhân, sĩ quan quân đội về đây học tập. Do vậy mỗi khi vào lễ đều phải qua cổng chùa và khu quân sự bảo vệ.

Mãi đến năm 1985-1986 các đơn vị bộ đội mới rút đi. Lúc này hợp tác xã (HTX) La khê đang đà phát triển, hợp nhất thủ công và nông nghiệp. Để kiến thiết địa phương và phát triển kinh tế của HTX, chủ nhiệm HTX thời kì này có vay của ngân hàng Hà Tây một số tiền lớn, song không trả được, sau đó có xin ý kiến địa phương cắt một phần diện tích đất của khu Chùa Ngòi để trả nợ (khoảng năm 1990 - 1992), nên khuôn viên khu Chùa Ngòi hẹp lại như bây giờ, đường danh giới của khu tập thể ngân hàng này gần sát ngôi mộ của Cụ (chỉ cách am vài mét).

Sau đó địa phương xin lại cả khu Chùa Ngòi này để dân làng và khách vào lễ được thuận tiện, Chùa La Khê (dân còn gọi là Chùa trong) cũng cử nhà sư ra đây để trông coi, đèn nhang, quét dọn. Nhà hội trường mà đơn vị bộ đội để lại trước mộ của Cụ Quận được tháo dỡ, tạo thông thoáng phía trước lối vào mộ.

Đến năm 1994, Ban quản lí Di tích Đình chùa La Khê được thành lập để trông coi, quản lí, tôn tạo Đình, Bia Bà, Chùa trong, Chùa ngoài (Chùa Ngòi) và cả Bia Cụ Quận. Được sự đồng ý của chính quyền địa phương, ban quản lí tạm thời cho tu sửa lần thứ nhất khu mộ của cụ Quận: xây bệ thờ trước mộ, tường xunh quanh, trồng cau trong sân, làm trụ cổng tạm thời, giao ban Di tích và nhà chùa đèn nhang khu mộ Cụ.

Đến khoảng tháng 8/2000: Ban quản lí Di tích thời đó đã quan tâm đề xuất với chính quyền địa phương, cùng với họ Trần cho xây dựng nhà thờ cụ Quận tại khu mộ của Cụ cạnh chùa Ngòi. Phía trước nhà thờ Cụ lúc này là vườn trồng bưởi, có cả Tháp sư (nơi đặt di cốt của nhà sư). Ban quản lý di tích lúc đó cùng với dòng Họ dự định làm một lối đi riêng thẳng ra đường. Tuy nhiên do vướng mắc ở ngôi nhà ngoài cùng (hiện nay vẫn còn) không di dời (hoặc không thỏa thuận được việc đền bù) nên con đường đi riêng vào Nhà Thờ Cụ không làm được. Vào năm 2013, Nhà chùa lúc này phát triển mạnh về tâm linh, tín ngưỡng, có nhiều Phật tử về Chùa hành lễ. Vì vậy nhà Chùa đã cho chuyển Tháp sư về phía phải Chùa (nhìn từ ngoài vào). Cùng với đó là xây nhà tạm lợp tôn để làm nơi ăn uống cho các Phật tử. Dòng Họ đã đấu tranh bằng mọi cách nhưng vấn đề liên quan tới nhiều phía nên không được. Chính vì vậy đường vào nhà thờ Cụ mới như hiện nay. Lúc đó Họ Trần đã làm thêm cổng sắt, hàng rào để tránh việc tận dụng sân nhà thờ Cụ làm nơi nấu ăn.

TIỀN

CÔNG

THẦN

THIẾT

SƠN

TẶNG

QUẬN

CÔNG

TRẦN

CÔNG

CHÂN

CHI

VỊ

 

 

             

                                    THÙY VŨ TRỤ

                                  (từ phải sang trái)

Hai bộ câu đối 

 

Bộ thứ nhất gắn liền vào tường có nội dung là:      

          

TIỀN TRIỀU TƯỚC TRẬT THẠCH BI TRUYỀN

 

Giải nghĩa (PGS.TS Nguyễn Công Việt):

  • Tiền triều – có nghĩa là triều trước
  • Tước trật: có nghĩa là chức tước đã được phong
  • Thạch bi truyền: đã được bia đá ghi lại
  • Cố quốc: có nghĩa là triều trước (gần nghĩa với tiền triều)
  • Can thành: có nghĩa là phên dậu hay tường thành che chắn. Can là cái khiên, thành là thành trì.
  • Châu: màu đỏ chỉ được Vua viết, quan lại không được dùng. Châu bút tại: dùng bút đỏ của Vua viết lại.
CỐ QUỐC CAN THÀNH CHÂU BÚT TẠI

 

 

 

Bộ thứ 2 bằng gỗ treo trên cột (đọc từ trên xuống dưới) là:

 

CỬU TIÊN NHẬT NGUYỆT ÁNH TÙNG QUANG

Chín

Tầng

Nhật

Nguyệt

Sáng

 

Soi

VẠN CỔ CÀN KHÔN HƯNG TÁI TẠO

Muôn

Thủa

Đất

Trời

Đổi

 

Mới

 

Trên nóc nhà thờ có khắc một hàng chữ (viết theo hàng dọc); nhìn từ cửa vào, từ trái sang phải là:

 

KHỞI TẠO LÊ TRIỀU, TRÙNG TU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT  NAM CANH THÌN THẬP NGUYỆT THẬP THẤT NHẬT THƯỢNG LƯƠNG ĐẠI CÁT

   (Cất nóc ngày 17 tháng 10 Canh thìn - 2000)

 Câu đối hai bên xà (viết theo hàng dọc); từ trong ra  là:

 

NHÂN

NGHĨA

LỄ

TRÍ

TÍN

PHÚ

QUÝ

THỌ

KHANG

NINH

 

Từ năm 2012 đến nay, sau khi Họ đã thống nhất về Tộc ước, ngoài các ngày Giỗ (11/7 và 16/11 âm lịch) Họ tổ chức lễ vào các ngày 1 và 15 (âm lịch) hàng tháng. 

Đến năm 2013 họ Trần phối hợp với Ban quản lý Di tích cho khắc tấm Bia ghi lại lịch sử tóm tắt của cụ Quận tại cửa nhà thờ để con cháu, khách hành hương hiểu công lao của Cụ.

 

Từ đây mọi người nhớ lại công lao to lớn của Cụ với Đất nước, con cháu Họ Trần nhớ về quê hương, cội nguồn, tổ tông./.

 

 

                                                                Tháng 01/2016

III. Đình La khê

3.1Tế thần.

Đối với người dân La Khê thì các vị thần  nhân mà họ tôn thờ có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của làng. Họ là những người có công lớn với làng, được dân làng ghi nhớ. Truyền thuyết kể rằng xưa kia La Khê là một vùng sình lầy hoang vu, lau sậy um tùm, gò cao, ruộng thấp xen lẫn suối khe. Đời sống nhân dân đã khó khăn, nghèo nàn lại bị nạn trộm cướp giặc giã luôn luôn khiến cuộc sống của họ đã nghèo khó lại thêm bất an. Thế rồi hai vị thần xuất hiện và báo mộng cho già làng rằng: Có một vị thần mặt đen, râu rậm, mắt sáng, mình mặc áo vàng, tay mang thiên kích sẽ vâng mệnh trời xuống thế trừ ác, giúp dân. Vị thần này có tên là Hắc Diện đại vương. Giấc mộng còn báo rằng sẽ có một vị tiên nữ tên Tiên Thiên Bảo Hoa công chúa cưỡi mây trắng theo luồng gió mát hạ xuống cõi trần, giúp dân khuyến thiện trừ hoạ. Bà xuất hiện trông thật dịu hiền, người bà toả ánh hào quang rực rỡ, tay cầm nhành hoa thơm. Bà chỉ vẩy tay một cái là nước đầy sông đầy suối. Nhờ 2 vị thần xuất hiện mà dân La Khê có nước để cày cấy, trồng hoa, có cơm có gạo để ăn no và chăn nuôi, của cải cứ thế sinh sôi nảy nở, khiến cho vùng đất này trở nên trù phú, con người thông minh, sáng láng, trai tài gái đẹp.

(Phạm Thị Thanh Quy)

 

3.2.Kiến trúc đình La Khê

 

Trải qua nhiều thế kỷ đầy chiến tranh và biến động xã hội, ngôi đình La Khê không còn nguyên vẹn. Hình thức thiết trí xưa kia khá đơn giản, thiên về bào trơn đóng bén đấu vuông, không có nhiều hoa văn. Các bức tường, cột hiên được xây bằng gạch Bát Tràng miết mạch to, đầu hồi bít đốc. Đó là kiểu kiến trúc chủ yếu sử dụng gạch và vôi vữa, thường gặp ở thời Nguyễn.

 

 

Đình La Khê, chùa Diên Khánh và chùa Phúc Khê nằm trong một quần thể di tích lịch sử văn hóa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1989. Năm 1997 dân làng La Khê khởi công trùng tu tòa đại bái 7 gian, năm 2002 lại tiếp tục sửa sang hai tòa trung cung và hậu cung. Tòa đại bái và trung cung xây theo hình chữ “Nhị”, toà hậu cung có kết cấu hình chữ “Đinh”. Tất cả nội thất đều được trang hoàng rực rỡ.

 

 

Khuôn viên của đình La Khê ngày nay rộng khoảng 8000m2, các sân đều lát gạch đỏ. Nếu thay các lều quán bằng vườn cây xanh thì rất đẹp. Ngôi đình nhìn thẳng qua dải sân về một nguyệt hồ ở hướng nam với hàng lan can đá bao quanh và các tượng linh thú soi bóng trên mặt nước. Du khách từ ngoài đường làng bước vào cổng nghi môn rồi đi theo con ngõ rộng ven hồ này qua một phương đình sẽ đến sân dài, bên phải là chùa Diên Khánh, trước mặt là tam quan nội và nhà đại bái của đình.

 

Bên trái là đền Bia Bà. Riêng tiền đường 5 gian được xây kiểu hai tầng tám mái, phía trước cũng để mở rất thoáng như kiến trúc chung của hầu hết khu đình. Trung cung và hậu cung kết nối với tiền đường theo hình chữ “Tam”. Cách một khoảng sân ở cả hai phía bên trái và bên phải đền Bia Bà còn có những công trình khác nhằm phục vụ khách du lịch và tín đồ tới viếng thăm.

(Đình La Khê và đền Bia Bà, Văn hiến Việt Nam, Đông Tinh, Thứ Năm, 30-10-2015)

 

V. Tiểu sử Đức Thánh Bà và việc phụng thờ Ngài.

5.1.Giới thiệu  Bia Bà

Nội dung Dịch nghĩa Bia Bà:

Làng La Ninh huyện Từ Liêm là quê hương của Bà phi. Ông nội của bà húy là Thiện, được phong là Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bảo; bà nội Họ Nguyễn, huý là Trù, được phong là Liệt phu nhân. Thân phụ của bà Họ Trần, húy là Chân, do có công lao được phong là Thiết Sơn bá, rồi Dũng Quận công; thân mẫu Họ Trần, húy là Tú, được phong là Huy nhân.

Bà Phi sinh vào giờ Mão mồng 2 ngày Quý Mùi tháng 3 năm Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511) đời Lê. Xuất thân trong gia đình thế phiệt, cung kính giữ đạo khôn nhu thuận mà điềm báo tốt lành sớm đã định sẵn. Ngày tháng thuộc về Hoàng thượng, ứng kỳ thẹn lẽ sinh ra. Chăm sóc bên trong, tuân theo lễ phép. Năm Đinh Hợi niên hiệu Minh Đức thứ nhất (1527) Thái thượng hoàng vâng mệnh nắm quyền mở mang cho đời sau, Hoàng thượng bấy giờ đội bao ân đức, bà Phi vâng mệnh vào hầu Đông cung. Năm Canh Dần niên hiệu Đại Chính thứ 1 (1530) Hoàng thượng   nhường ngôi, nắm quyền đạo thống, bà phi vâng mệnh vào ở Đệ nhị cung, xe ngựa vẻ vang, sớm khuya nhắc nhở, đạo cả hoàn thành, có lẽ nhờ sự giúp sức của bà Phi vậy. Vào ngày Mậu Thân mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532) sinh ra Hoàng tử thứ 5, ứng vào điềm lành hùng hủy, thời đức nhân thấy gót kỳ lân, thực đã rõ ràng. Đến ngày Giáp Tý 30 tháng 6 năm Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) do mắc bệnh hậu sản cảm mạo rồi thành tật. Đến ngày Tân Dậu 21 tháng 9 bà về dưỡng bệnh tại nhà ở cũ làng La Ninh. Tháng này, hàng ngày Hoàng thượng sai các quan Tư lễ giám Tổng Thái giám Tham tri giám sự Lê Ngọc Uyển, Tư lễ giám Hữu đề điểm Nguyễn Nhượng, Cung môn Thừa chế phụng sự Lê Quý Đô, Giám sát phụng ngự Đỗ Khanh, Bản cung Cung phó Dương Quang Bật, Nữ quan Hồ Tiếu Ứng vâng mệnh ban cấp cho 400 quan tiền cổ; lại sai các quan Ngự y An Kim Bảng, Đàm Hữu Luân chữa trị. Mặc dù trăm phương chạy chữa, song thuốc thần cũng không có hiệu quả, vậy há chẳng phải mệnh trời ru? Đến giờ Dần ngày Bính Tuất 16 tháng 11 bà mất, hưởng dương 28 năm.

Hoàng thượng nghe được tin buồn bèn nghỉ buổi chầu, ngay hôm ấy liền sai viên Tả đô đốc ở phủ Đô đốc đạo Bắc quân là Khánh Sơn bá Trần Ôn trông coi việc tang lễ. Ngày Kỷ Mùi 25 tháng 8 năm Kỷ Hợi niên hiệu Đại Chính thứ 10 (1539) quan Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Đô sát Tổng thái giám Chưởng giám sự Lễ Giang bá Đỗ Khải Đễ vâng mệnh mang kim sách đến phong cho bà phi là Bảo Huy phi, lấy tên thuỵ là Thận Nghi, tức là làm rạng rỡ tên hiệu của bà. Ngày Quý Hợi mồng 9 tháng 9 làm lễ khải thấn, lại sai Lễ Giang bá Đỗ Khải Đễ đến phủ dụ, đồng thời sai Tư lễ giám Tả đề điểm Ngô Thì Đạt mang 450 quan tiền cổ về điếu viếng bày tỏ điển lễ thương xót. Đến ngày Canh Dần 25 tháng ấy, đưa linh cữu về an táng tại xứ Đa Bang huyện Từ Liêm, tọa Quý sơn hướng Đinh. Nghi lễ tống chung và văn tế đều có đầy đủ cả.

Ôi ! Đức tính điềm tĩnh thận trọng thư thái nhàn nhã của bà phi đã giúp bà cần kiệm thu xếp ổn thỏa mọi việc trong nhà cho dù những người được tán thán trong Kinh Thi, Kinh Dịch cũng không hơn thế được. Đáng lẽ bà phải được hưởng phúc khánh nhiều vô cùng, song không hiểu sao sớm đã quy tiên, thật đáng thương thay. Bà phi có nhiều đức hạnh cao đẹp như vậy, sao chẳng đem khắc vào bia đá để lưu truyền bất hủ ư?

Bài minh rằng:

Vận mở nền hoàng đạo

Trời phò giúp thánh quân.

Hiền phi sẵn tài đức

Được nạp làm cung tần.

Đoan trang và hiền thục

Cung kính lại kiệm cần

Hành động đúng khuôn phép

Nói như đanh đóng cột

Thánh đo được hoàn thành

Việc làm chẳng sai sót

Hiếu thuận thường xiển dương

Hòa khí đầy trời đất.

Hùng bi ứng điềm lạ

Kỳ lân thơ Họa thành.

Phúc khánh kéo dài mãi

Cửa nhà được hiển vinh.

Tiếng thơm như Giản Địch

Nét đẹp sánh Nữ Anh

Trăm năm một kiếp người

Ai là không có mệnh

Nhạt nhòa ánh hiên tinh

Mộng về nơi tiên cảnh

Hương huệ buổi sớm thưa

Gió lan hơi buốt lạnh.

Trong đầm ánh sao Chẩn

Ơn vua đâu sánh bì

Núi nhân đã định chế

Xa xăm ấy hạn kỳ.

Bia đá chép sự thực

Muôn thuở còn nhớ ghi.

Ngày tốt tháng 10 năm Kỷ Hợi (1539) niên hiệu Đại Chính.

Phụng chế Đại phu Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng Hàn lâm viện sự Tư chính thượng khanh Nguyễn Tiến Thanh và Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu lý Bùi Hoằng cùng soạn.(Các nguồn tư liệu: - Bích tự (chữ trên tường), tả hữu đền Đức Thánh Bà  -Tộc ước họ Trần La Khê, bổ sung năm 2016)

5.2.Văn khóc Đông cung hoàng hậu của Mạc Thái tông

            Nghe tin buồn, Mạc Thái Tông cho nghỉ buổi chầu, sai đại thần về trông coi việc tang lễ, ban chiếu truy phong cho bà là Bảo Huy phi, đặt tên thuỵ là Thận Nghi. Nhà vua còn tự viết bài văn tế vợ, lời lẽ bi ai thống thiết: 

“Ôi phi ơi! Nàng xuống cửu tuyền, xuống nơi âm u tĩnh mịch. Nàng là người đẹp, người cần mẫn, lại lo công việc gia nội; nàng không có lỗi lầm gì, đáng lẽ phải được hưởng phú quý đến vô cùng cực lạc. Thôi thì kẻ ở người đi, sao không buồn rầu. Cái đức tính và hạnh kiểm của nàng đáng ghi vào Trinh Môn muôn đời không mai một.

Vận trời mở ra đẹp. May gặp được hiền phi, ban đầu là phi tần, đã thấy đức đoan trang, vào nhã nhặn, ra lễ phép, tôn trọng điều răn lễ giáo.

Đức hạnh đúng kỷ cương, lời nói đi đôi với việc làm, lẽ phải thì nói đến nơi đến chốn, mọi việc không gì sai sót…Tuy vậy phải chịu mệnh trời, thần thái buồn phiền, có mơ về cảnh tiên mới gặp lại. Bây giờ trên cõi trần này, làm sao mà gặp lại nàng được?

Ôi hoa lan phải chịu cái lạnh của mùa xuân, nghĩ lại cảnh ban đầu gặp gỡ ấy, ân tình ghi chép dễ mà suy ngẫm. Trên núi tiên đã định như thế, trời đã định rồi. Phải ghi lại mối ân tình của chúng ta vào sử sách để muôn đời sau được rõ”.

          5.3.Văn khấn Đức Thánh Bà

Bài khấn1

Na mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy:

  • Đức Hạo thiên chí tôn Kim quyết ngọc hoàng Thượng đế.
  • Đức bản cảnh thành hoàng
  • Đức Mạc Triều Đông Cung Hoàng Hậu , Nhị vị Vương cô, cộng đồng các quan.

Hôm nay là ngày……. tháng……. năm………

Tại: Thôn La Khê, xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh . Hà Tây.

Tín chủ con là…………………Ngụ tại……………………

Đứng trước án tiền, thay mặt đồng gia tín chủ kính tấu, năm tháng thoi đưa, đầu năm xuân tới, lễ hội đến ngày. Đức bà anh linh, uy danh Hoàng Hậu, anh linh hiển hách, nức tiếng làng La, thập phương gần xa, đều về cầu khẩn, cầu tài cầu lộc, cầu của cầu con, trăm việc vuông tròn đều nhờ Đức Thánh. Đồng gia hôm nay, lễ bạc kính dâng, trầu cau, chén rượu, nén bạc thoi vàng, hương hoa phẩm vật, hai chữ lòng thành kính dâng Đức Thánh, khói hương nghi ngút đưa chút lòng thành mong sao cho được thấu đến Thánh Thần, phù hộ toàn gia, người của an khang, gia đình hưng vượng, con cháu thuận hòa. Con tấu lạy Đức bà, Nhị vị Vương cô, cộng đồng các quan, ngài xá lầm xá lỗi, phù hộ độ trì cho toàn gia được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn tấu.”
(Bài khấn đức Thánh Bà ở Bia Bà, La Khê,Hà Đông, Hà Nội,  ngày 9-2-2014)

Bài khấn  2

 “Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, chư Phật mười  phương, mười phương chư Phật. Con sám hối tấu lạy Đức Thánh Bà, Mạc triều Đông cung Hòang Hậu, nhị vị vương cô , cộng đồng các quan, cộng đồng Tiên Thánh, cô bé bản đền, cậu bé bản phủ.

          Hôm nay là ngày … tháng …. năm ….., tên con là…., địa chỉ ….

          Hôm nay, chúng con nhất tâm về bên Bà, sắm sửa , tu tiết : thanh bông hoa quả, kim ngân vàng bạc, trầu là đầu, ấm trà, bao thuốc,…

          Con xin kính dâng:

          -trung ban, phù tửu, xôi gà,…

          -hạ ban, phù tửu trứng (sống), gạo, muối,…

          Kính dâng lên Bà và hai cô, cùng các quan chứng minh chứng lễ, phù hộ độ trì cho toàn thể gia đình mạnh khỏe, làm ăn thuận buồm xuôi gió, được tươi như hoa, nở như bông, cây xanh cành tốt, nở cành xanh ngọn, làm ăn được dễ, được dàng, thịnh người, thịnh của, để mọi công việc được hanh thông, công thành danh toại. Có năm xung, Bà giải xung, tháng hạn Bà  giải hạn, cho qua sao qua nạn, qua hạn qua ách, phúc thì Bà lai, tai thì Bà tống, tai ách thì bà tiêu trừ đi cho; để 3 tháng hè, 9 tháng Xuân, Hạ , Thu, Đông, mọi việc tốt lành, chu toàn hoàn hảo…..

          Con xin cúc cung vạn bái

(Người khấn: Bà Nguyễn Thị Nhung .)

Tóm lại

Qua đoạn Việc phụng thờ Đức Thánh Bà trên đây có thể rút ra mấy nhận xét:

1.Xây dựng và phát triển Đền Đức Thánh Bà là một quá trình dài lâu.

Ngày nay, di tích Bia Bà trở thành môt trung tâm tín ngưỡng tôn giáo lễ đồ sộ, nổi tiếng khắp cả nước, những ngày đông nhất là vào dịp Tết ,phỏng chừng hàng vạn người. Khởi nguyên, cách đây 10 năm tình trạng khác hẳn, và địa điểm thờ phụng không phải chỗ hiện thời mà chỉ có một bệ thờ, đặt dưới vòm cây cổ thụ

Bia Đức Thánh Bà ở làng La khê có từ năm 1539 thuộc triều  Thái Tông Mạc Đăng Doanh ( 1530-1540). Bia về bà Đông cung hoàng hậu nhà Mạc, Trần Thị Hiền - là con gái Cụ Tổ Họ Trần La khê (Bia thờ Cụ Tổ Họ Trần La Khê đặt cạnh chùa Ngòi: xem phần Bia Cụ Quận ở dưới).

Trải qua hơn 400 năm tấm bia vẫn dựng  ở cánh đồng “Hoàng Hậu”, tên thường gọi là cánh đồng Vang[7]. Tiếng đồn gần xa, Bia Bà anh linh vang khắp mọi miền đất nước. Mặc dù đường đi, lối lại quanh co, khúc khủy, khi nắng nóng như tháng 7, khi mưa gió thì lầy lội, đường trơn, nhiều người đã bị ngã, quần áo lấm ướt, tuy nhiên ai đã đi tới không tỏ ra chút ngại ngần, đều quyết dốc lòng thành kính đến nơi hành hương cầu nguyện.

Diện tích khu đất này khoảng 3 sào bắc bộ (mỗi sào bằng 360 m2) gần khu Nghĩa trang của làng La khê. Trong đền thờ là một số cây cổ thụ to, xung quanh là hàng cây dứa dại và các loại cây khác nhỏ hơn, dưới tán cây cổ thụ là một miếu nhỏ, chính giữa là một bộ thờ xây như bộ sập chân quỳ, tấm Bia được đặt ở chính giữa, chân của tấm Bia qua nhiều năm tháng chìm sâu trong lòng đất, nổi lên trên khoảng 60 đến 70 cm. Phía ngoài cổng có hai cột trụ cổng xây gạch, có đường lát gạch lối vào. Khách đến lễ đặt đồ lễ vào bộ lễ chính giữa của miếu thờ.

Như một thông lệ, dân làng và người trong dòng Họ ra lễ vào ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng và ngày giỗ của Bà.

Trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước: từ năm 1965-1975 có nhiều khách thập phương các tỉnh miền Bắc, miền Trung về hành hương, xin lộc tại đây.

Kể từ khi đất nước thống nhất 30/4/1975 lượng khách thập phương về hành hương ngày càng đông, kể cả các tỉnh phía Nam. Số lượng hàng quán mở bán tại đây từ chỗ lén lút, sau công khai bày bán. Số người lễ thuê ngày càng gia tăng (chủ yếu là ở đội 4 La khê), đồng thời dịch vụ trông xe đạp, xe máy, ô tô cũng tăng theo.

Do nền sản xuất nông nghiệp phát triển, nhà nước đã xây dựng trạm bơm La Khê phục vụ cho cánh đồng từ Kiến Hưng, huyện Thanh Oai và Ứng Hòa, qua đoạn này có mương tiêu N1 (sát đường Lê Trọng Tấn bây giờ - nay đã bị san lấp để làm khu đô thị Park City), có cầu qua mương tiêu để vào khu Bia Bà, thuận tiện cho khách vào lễ và xin lộc.

Do tình hình khách thập phương về dâng lễ ngày càng đông đã ảnh hưởng đến an ninh khu vực và địa phương.

Mặc dù các chiến dịch của Thị xã và xã Văn Khê, cử Công an, du kích, dân quân lên cấm lễ bái, bán hàng, trông xe ở khu vực này nhưng có ngày lên tới vài trăm người vào lễ, hương thắp nhiều, kể cả các ngôi mộ xung quanh khu Bia Bà (họ tưởng là mộ hai cô phục vụ Bà) đều thắp hương nghi ngút, khói tỏa ra cả đường quốc lộ 6. Ngày cấm, đêm họ lại vào lễ, có nhiều cụ ở Thị xã còn vận động làm khung sắt, dựng lư hương, họ đổ bê tông đêm, phục vụ cho khách vào lễ đền Bà. Sau đó Công an của Thị xã và địa phương lên phá không cho thắp hương ở lư hương ấy.

 Ngày mồng 1 tết  tỉnh ủy Hà Tây đã chỉ thị cho Thị ủy Hà Đông, UBHC Thị xã và xã Văn Khê phải tuyên truyền và động viên nhân dân La Khê khẩn trương di dời Bia Bà về trong làng[8].

Tuy chủ trương như vậy nhưng qua nhiều năm tháng vận động, tuyên truyền, mãi đến giữa năm 1982, UBND Thị xã Hà Đông đã đưa nhiều đoàn là cán bộ các ngành, công nhân viên của đội xây dựng, môi trường của TX, một số xã lân cận như Vạn Phúc, Cầu Đơ, Kiến Hưng, khi đến hiện trường họ thấy là phá Bia Bà thì họ sợ, bỏ về không dám làm công việc phá dỡ này. Sau đó Tỉnh và TX Hà Đông phải điều lực lượng bộ đội của Tỉnh đội vào phá dỡ, đánh mìn, bộc phá mới đào được Bia. Vì ở sâu nên một phần tấm Bia của Bà đã bị rạn nứt và bị sứt một miếng nhỏ. Bia Bà khi đó được chuyển về Đình Làng trên một xe “Công nông”.

Kể từ tháng 9 năm 1982 Bia Bà được chuyển về dựng tạm ở dưới cây nhãn cổ thụ bên phải sân Đình, nhìn ra hướng đông (cũng chính là hướng của Bia trên mộ Bà khi còn đặt ở cánh đồng Vang). Sau đó mới xây tạm: ở giữa thì thờ Bà, hai bên là nhị vị Vương cô làm bằng khung sắt lợp mái tôn, có bệ thờ cho khách đặt lễ vào lễ bái khang trang. Khách vào lễ phải qua hai cổng bảo vệ của Hợp tác xã La Khê nên khách vào cũng hạn chế. Bước đầu cũng thu được một số tiền công đức để Cụ Từ (người trông coi đền) đèn nhang trông nom cả Đình và Bia Bà.

Từ năm 1985-1993 (được sự đồng ý của các cấp chính quyền) địa phương đã cử ra một tổ các cụ phụ lão gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc và Hội người cao tuổi ra đèn nhang. Khách thập phương vào lễ ngày càng đông, tiền công đức đã thu được dùng cho đèn nhang, tu sửa di tích Đình làng và có tiền chi cho tổ ra trông nom hàng ngày.

Đình, Chùa La Khê được Bộ Văn hóa Thông tin và du lịch công nhận là Di tích Lịch sử năm 1989[9]

Đến năm 1994 có chủ trương của trên cho thành lập Ban quản lí Di tích Lịch sử Văn hóa .  để trông nom, quản lí, tôn tạo Đình, Chùa, Bia Bà La Khê và cả Chùa Ngòi, Bia Cụ Quận.

Từ khi có Ban quản lí Di tích: việc trông nom đèn nhang ở Đình làng và Bia Bà được chu đáo, khách vào lễ ngày càng nhiều, Ban quản lí Di tích đã xin chủ trương của địa phương cho công khai quyên góp tiền công đức của dân làng và khách thập phương để xây dựng đền thờ Đức Thánh Bà phía sau nhà Bia tại sân Đình .

Sau nhiều tháng thông báo trên hệ thống đài của Ban quản lí Di tích tại Đình làng, đã được sự hảo tâm công đức của dân làng và khách thập phương, được địa phương đồng ý, đến tháng 4/1995 Ban quản lí Di tích đã làm dự toán và tờ trình để UBND xã làm đề nghị cấp trên cho xây dựng đền thờ Đức Thánh Bà gồm: Hậu cung, Trung cung, Nhà Đại bái bằng bê tông giả gỗ. Lễ khởi công xây dựng từ 23/4/1995 (tức ngày 24/3 Ất Hợi). Sau 6 tháng khẩn trương xây dựng, đến ngày 01/10/1995 (tức ngày 08/08 nhuận năm Ất hợi) thì hoàn thành. Dân làng đã làm lễ khánh thành rước Bà vào cung mới, do dân làng và khách thập phương công đức xây dựng. Song song với việc xây dựng ngôi Đền, Ban quản lí Di tích đã kêu gọi dân làng và khách thập phương  công đức câu đối, hoành phi vào khu đền thờ thật trang nghiêm, đèn thờ, đồ thờ sơn son thiếp vàng rất lộng lẫy do tiền đóng góp của dân làng, dòng tộc Họ Trần và khách thập phương tiến cúng.

Cuối năm 1998-1999 và đầu năm 2000, khách thập phương vào đây lễ ngày càng nhiều, tiền công đức của dân làng và khách thập phương thu được cũng nhiều lên do kinh tế phát triển. Đến năm 2002 (ngày 26/10 Tân Tỵ), Ban quản lí Di tích lại tiến hành cho tu bổ và tôn tạo lần thứ hai. Đền thờ Đức Thánh Bà từ Hậu cung, Trung cung thay đổi chất liệu từ bê tông giả gỗ sang  gỗ lim. Bố trí đền thờ thành chữ “Công” khang trang đẹp đẽ. Tất cả các hoa văn đục chạm, đắp vẽ, cả mộc nề đều theo họa tiết cổ, có đầu đao , nội tiết cả ba tòa đều trang trí hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng rất lộng lẫy. Các Ban thờ có đủ đồ gỗ, đồ đồng. Ngoài ra còn có cả nhà khách, vườn cây, vườn hoa, cây cảnh, đường đi lối lại phục vụ dân làng, quý khách về dâng lễ chỉnh chu hơn. Xung quanh còn có tường bao để khách lễ yên tâm.

Do  các công trình kiến trúc xây dựng đàng hoàng,  khách thập phương về lễ Đình và Đền Đức Thánh Bà quan tâm tới khu Di tích ngày càng đông. Được sự quan tâm của chính quyền, đến cuối năm 2011 Ban quản lí Di tích tiếp tục nâng cấp Đền thờ Đức Thánh Bà lần thứ ba: dỡ bỏ toàn bộ nhà Đại bái bằng bê tông,  để làm lại hoàn toàn bằng gỗ khang trang to đẹp hơn; đồng thời qui hoạch lại phía trước lối vào Đình và Bia như giếng Đình có thêm 9 con Rồng phun nước, ao bên cạnh giếng Đình (dân làng quen gọi là ao Thủ công vì trước đây gắn liền với khu xưởng dệt - nay được lấy làm sân bóng đá) được cải tạo lại và trồng sen, đường dẫn vào cổng được mở rộng, các quán hàng trước đây ở xung quanh lối vào nay chuyển sang bên cạnh, đoạn đường trục ngang qua cửa Đình cũng được mở to hơn (các hàng quán phải lùi vào theo), chợ Đình (chợ tạm quanh giếng Đình) được chuyển sang họp ở ao Lò Ngói (cách đó khoảng 100m) tạo thông thoáng phía trước Đình, thuận tiện hơn cho khách vào lễ Đình và Đền thờ Đức Thánh Bà. Riêng tấm Bia cổ đã được di đặt vào chính giữa Trung cung, có nhà kính bao quanh để gìn giữ tấm Bia  trên 400 năm tuổi được chuyển từ ngoài cánh đồng Vang mang về Đình làng từ tháng 9 năm 1982.

Tóm lại để được như ngày nay, trước hết là công đức của Bà ngày càng sâu rộng, các cấp lãnh đạo quan tâm, con cháu Họ Trần La Khê, dân làng, các khách thập phương thành tâm tiến cúng; đặc biệt dân làng và Dòng tộc đồng lòng bảo vệ. Mong rằng từ nay về sau con cháu của dòng tộc Họ Trần La khê cần phát huy truyền thống xây dựng bảo vệ công trình Văn hóa Tâm linh này của Họ và của dân làng. (Tộc ước họ Trần bổ sung 2016, tr. 24-26)

  Về mặt kiến trúc , Khu di tích La Khê có cả Đình, Đền, Chùa; về Thần điện có đủ Phật, Thánh, Thành hoàng; về nghi thức thờ phụng có tế thần, rước thần, biểu diễn chèo, và  lên đồng hầu bóng,…Tất cả đều to đẹp khang trang, lòng dân hồ hởi phấn khởi.

          Được như vậy là do công sức to lớn của rất nhiều người trong một thời gian dài , gần chục năm . Có thể kể các giai đoạn sau đây:

          -Bảo vệ bia trong quá trình di chuyển bia từ đồng Vang (đồng Hoàng hậu) vào sân đình.

          -Tháng 9 năm 1982, Bia Bà được chuyển về dựng tạm bên phải đình.

          -Năm 1994 , xây dựng đền Đức Thánh Bà

          -Năm 1994 thành lập Ban di tích Văn hóa đình chùa La Khê

          -Tháng 4 năm 1995 tiếp tục xây dựng đền thờ Bà gồm hậu cung, trung cung, đại bái, bằng bê tông giả gỗ, tháng 6 hoàn thành

          -Năm1996 Khu Bia Bà được Bộ Văn hóa thể thao du lịch công nhận là di tích lịch sử

-Năm 2002, tu bổ tôn tạo lần 2, (26-10 Tân Tỵ) thay đổi chất liệu giả gỗ sang gỗ lim, ở hậu cung , trung cung.

          -Năm 2011, tiếp tục nâng cấp lần thứ 3, gỡ bỏ giả gỗ, thay toàn bộ nhà đại bái bằng gỗ lim, di tấm bia vào trung cung.   

2. Nhận định đánh giá

                    Chúng tôi rất hoan nghênh ý kiến của Tộc ước họ Trần :

“Tóm lại, được như ngày nay, trước hết nhờ công đức của Bà ngày càng sâu rộng, các cấp lãnh đạo quan tâm, con cháu La Khê và khách thập phương thành tâm tiến cúng, đặc biệt làdân làng và đồng tộc đồng lòng bảo vệ” (tr 26, tộc ước)

 

Nhận định ngắn gọn và cô đúc trên đây nói về nguyên nhân thành công rực rỡ của khu Bia bà, bao gồm các ý :

 

1.Trước hết là nhờ công đức của Bà ngày càng sâu rộng.

2. Các cấp lãnh đạo quan tâm

3.Con cháu La Khê và khách thập phương thành tâm tiến cúng

4.Đặc biệt là dân làng và đồng tộc đồng lòng bảo vệ.

Trong các nguyên nhân, công đức của Bà ngày càng sâu rộng là nguyên nhân hàng đầu. Quả vậy, kể từ khi Bia còn ở đồng Vang Bà cách đây 10 năm, Bà đã nức tiếng linh thiêng, hết lòng phù hộ cứu giúp con dân trong ngoài họ, trong ngoài làng, và tất cả nước, nên người đến dâng lễ tấp nập, không quản ngại mưa rét, lầy lội. Vào giai đoạn này trong lúc việc cúng lễ ở đây bị nghiêm cấm thì một số bà con biết ơn Bà, đã âm thầm lặng lẽ đúc lư hương và đặt khung sắt để đồng bào tiện dâng cúng.

Nguyên nhân thứ ba và thứ tư là vai trò của “các cộng đồng và các nhóm…tái tạo di sản” (UNESCO). Trong các cộng đồng này thì cộng đồng “đặc biệt là dân làng và đồng tộc đồng lòng bảo vệ” .Nhiệm vụ đặc biệt của các cộng đồng này  có cả việc bảo vệ di tích.

Các nguyên nhân thành công của di tích Bia Bà mà Tộc ước họ Trần La Khê nêu lên, rất phù hợp một văn kiện có giá trị lý  luận và có tính chất chỉ đạo toàn thế giới là (UNESCO : Công ước quốc tế về bảo vệ di sản quốc tế-2003):

“Di sản văn hóa phi vật thể này, cái truyền qua các thế hệ, không ngừng được tái tạo bởi các cộng đồng, các nhóm, trong sự đáp ứng lại môi trường và các mối quan hệ với tự nhiên và lịch sử của họ, đưa lại cho họ ý thức về bản sắc và sự kế thừa, do đó thúc đẩy sự tôn trọng đối với tính đa dạng văn hóa  và tính sáng tạo của con người”

GS Deborah Wong, trong hội thảo về Quan họ Bắc Ninh đã nhấn mạnh định nghĩa này và khuyên “xem xét kỹ”:

 

“Định nghĩa của UNESCO về di sản phi vật thể chứa đựng một cụm từ then chốt mà tôi khuyến khích các bạn xem xét kỹ : một trong những đặc điểm chủ yếu của di sản văn hóa phi vật thể là nó “được các cộng đồng và các nhóm tái tạo không ngừng”[10]

 

Các cộng đồng và các  nhóm tái  tạo không ngừng,  di sản văn hóa phi vật thể là một quy luật tất yếu, đồng thời đây là một trách nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Chính nó bảo đảm cho di sản tồn tại và phát triển. Ở Bia Bà, các cộng đồng như cộng đồng làng và họ Trần, cộng đồng khách tín chủ đã có trách nhiệm rất cao đối với di sản nên nó được phát triển mạnh mẽ và rất nhanh chóng.

 

3.Một vài điều đính chính, bổ sung về tiểu sử Đức Thánh Bà.

          3.1.Về chức danh trong triều:

Trong bia ghi, bà là đệ nhị vương phi, nhưng triều Mạc Thái Tông không lập Hoàng Hậu, vậy với danh hiệu đệ nhị vương phi, trong thực tế bà vẫn làm sứ mệnh một hoàng hậu. Tiếp đây xin bổ sung thêm hai tư liệu, “bà phi vâng mệnh vào hầu Đông cung” (Tộc ước họ Trần, tr. 12) và  “Sau khi mất, bà được truy phong Đông cung hoàng hậu” (Tộc ước họ Trần, tr. 5)

Ngoài ra nhân dân bao đời nay vẫn tôn vinh bà là hoàng hậu, cánh đồng nơi bà an nghỉ được gọi là “cánh đồng hoàng hậu”.

Vì những lý do trên, trong bài, chúng tôi xưng tụng Bà là Đông cung hoàng hậu ,  mong được hiểu như đã trình bày. Độc giả có tư liệu thêm, xin cho biết. Đa tạ.

3.2.Về đường con cái của Bà.

Có người nói bà có hai con, một trai, hai gái. Điều này không đúng, Bà chỉ sinh hạ một hoàng tử, bị mất sớm, bà lâm bệnh hậu sản kéo dài, không chữa được. Cũng có người nói, hai cô gái được thờ trong hầu cung là con gái bà. Không phải như vậy, đây là nhị vị vương cô, hầu cận Bà. Họ đứng ở vị trí Quỳnh Hoa công chúa và Quế Hoa công chúa trong điện thờ     thánh mẫu Liễu Hạnh

3.3. Về địa điểm qua đời.

Có người người bà chết trên đường từ kinh đô về quê. Không đúng, văn bia ghi, “Ngày Tân Dậu, 21 tháng 9, bà về dưỡng bệnh tại nhà cũ La Khê”…”Đến giờ Dần ngày Bính Tuất 16 tháng 11 bà qua đời, hưởng dương 28 năm”. Như vậy từ khi bà lên đường đến thời gian qua đời là gần 2 tháng, không thể chết trên đường,  được.

3.4.Hiện tượng mối xông

Có người viết, khi làm tang lễ, mưa to gió lớn, phải dừng , sau chỗ quan tài bị mối xông lên. Đây là bắt chước theo mô típ mối xông để nói về sự linh thiêng, mộ phát. Nhưng trường hợp này không thể tin, triều đình cử bao nhiêu đoàn đại thần và ngự y về chăm sóc Bà và lo tang lễ, không thể  để mối xông quan tài được.

3.5. Anh trai Đức Thánh Bà.

Anh trai Dức Thánh Bà , đồng thời con trai Ngài Quận công Thiết Sơn Bá có tên  là Trần Thực, không phải Trần Lực

Xin phép đính chính mấy điều như trên, kính mong độc giả chỉ giáo thêm.

 

VI. Kết luận.

1.Nghiên cứu sự phụng thờ ở di tích  La Khê, chúng tội nhận thức đây là một chỉnh thể , có thể coi đây là phương pháp tiếp cận của chúng tôi.  Chỉnh thể này bao gồm :

-di sản vật thể , quần thể kiến trúc, hoành phi câu đối, tượng, bia, ngai kiệu, bát bửu, hạc trên lưng rùa, ngựa gỗ, bia và văn bia trên lưng rùa,…

-di sản phi vật thể: văn tế, việc tế thần, rước thần, lời khấn, lời lan truyền, trò chơi và biểu diễn nghệ thuật trong hội ,….

Tuy là phân chia vật thể, phi vật thể nhưng khó tách bạch, rạch ròi. Các yếu trên vừa là giá trị thẩm mỹ, giá nghệ thuật (như kiến trúc, điêu khắc, tượng,…), lại vừa là giá trị tư liệu, có tính chất bổ sung cho nhau , hoàn chỉnh pho tư liệu về tổng thể di tích lịch sử văn hóa Bia Bà.

2. Tôi đồng ý lời tổng kết về nguyên nhân phát triển của Tộc ước họ Trần La Khê: “Tóm lại, được như ngày nay, trước hết nhờ công đức của Bà ngày càng sâu rộng, các cấp lãnh đạo quan tâm, con cháu La Khê và khách thập phương thành tâm tiến cúng, đặc biệt là  dân làng và đồng tộc đồng lòng bảo vệ” (tr 26, Tộc ước…)

3.Hội làng La Khê (hội La Khê) là tiêu biểu cho  một hội làng đồng bằng Bắc Bộ với các bộ phận: tế lế, rước, trò chơi, có hội lệ  và có đại đám…. Đây là sản phẩm tất yếu của một làng tối cổ, từ thời Văn Lang, có một bề dày lâu đời về lịch sử và văn hóa. Do đó nó có sức sống mạnh mẽ và bền vững, vượt qua mọi thăng trầm của thời cuộc, đặc biệt là năm 1955, bị bão táp CCRĐ xóa đi, nhưng sau đó, lại trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ như ngày nay.

4.Hội La Khê là một bộ phận hữu cơ của một tín ngưỡng tôn giáo đa thần có sức hội nhập và hòa hợp cao, không độc tôn mà  cuốn hút và tiếp biến cả Phật Giáo, tín ngưỡng thành hoàng, đạo Mẫu; trong thần điện  đồng  phụng thờ Đức Phật, Thần Thành hoàng và  Thánh Mẫu.

Lễ vật dâng cúng gồm cả cỗ mặn và cỗ chay; cả tam sinh (bò, heo, dê hoặc gà) và lễ vật sống như  trứng sống, gạo muối (dâng các tinh linh núi rừng hoang dã và chúng sinh)

4.Trên nền tảng chung của văn minh đồng bằng Bắc Bộ, hội La Khê có những đặc điểm chính như:

          4.1. Phụng thờ nữ thần: Đức Thánh Bà, Đông cung hoàng hậu họ Mạc. Ban đầu, khi còn ở cánh đồng Vang, “đồng hoàng hậu”, lúc này bà mới là một linh thần. Về sau , do linh ứng cao, được nhân dân vô cùng ngưỡng mộ, Bà cùng với Bia Bà được rước vào khuôn viên đình, trở thành một phúc thần nổi tiếng: “Cầu duyên thì đến chùa Hà; Cầu tài cầu lộc, Bia Bà La Khê”.  Địa điểm thờ phụng 42

mở rộng nhanh chóng, lúc đầu chỉ có tấm bia lồng kính là chính, sau đó phát triển thành Đền Đức Thánh Bà như ngày nay.

          4.2. Đức Thánh Bà cứu giúp nhân dân bằng phương thức, như ngày nay thường nói “xóa đói giảm nghèo” cho dân  tài lộc làm ăn vào đầu năm và lễ tạ vào cuối năm “đầu năm xin lộc, cuối năm tạ ơn” , nhờ đó dân chúng nhiều người trở nên giàu có sang trọng. (Tương tự như ở Cổ Mễ  “đầu năm đi xin, đi vay, cuối năm đi trả, đi tạ .)

          4.3.Đức Thánh Bà dần dần chuyển hướng thành một thần chủ theo kiểu đạo tứ phủ, với thần điện có nhị vị vương cô, cộng đồng các quan, cộng đồng tiên thánh, cô bé bản đền, cậu bé bản phủ,…  hạ ban, chúa sơn lâm và động Sơn trang.

          4.4.Trong sự chuyển hóa này, việc phụng thờ Đức Thánh Bà La Khê  dần dần đứng vào một hệ thống cùng với lễ hội Bà chúa Kho , Cổ Mễ, Bắc Ninh và lễ hội bà chúa Xứ núi Sam, Châu Đốc cùng 8 Bà Chúa Kho khác nữa…..[11] Đây là một xu hướng chung của sự phụng thờ các nữ thần/ thần Mẹ và  phát triển  mạnh mẽ trong cơ chế thị trường.

          5.Hội La Khê và việc phụng thờ ở La Khê là một giá trị văn hóa tiêu biểu và đặc sắc, chúng ta phải hết sức giữ gìn và phát huy, coi như là một trong những kiểu mẫu về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

                                                                                  P.M.Đ.N.

                                                                       (Trước thềm Tết Mậu Tuất)

Văn khấn Đức Thánh Bà

Bài khấn1

Na mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy:

  • Đức Hạo thiên chí tôn Kim quyết ngọc hoàng Thượng đế.
  • Đức bản cảnh thành hoàng
  • Đức Mạc Triều Đông Cung Hoàng Hậu , Nhị vị Vương cô, cộng đồng các quan.

Hôm nay là ngày……. tháng……. năm………

Tại: Phường La Khê,  quận Hà Đông, T/P Hà Nội.

Tín chủ con là…………………Ngụ tại……………………

Đứng trước án tiền, thay mặt đồng gia tín chủ kính tấu, năm tháng thoi đưa, đầu năm xuân tới, lễ hội đến ngày. Đức bà anh linh, uy danh Hoàng Hậu, anh linh hiển hách, nức tiếng làng La, thập phương gần xa, đều về cầu khẩn, cầu tài cầu lộc, cầu của cầu con, trăm việc vuông tròn đều nhờ Đức Thánh. Đồng gia hôm nay, lễ bạc kính dâng, trầu cau, chén rượu, nén bạc thoi vàng, hương hoa phẩm vật, hai chữ lòng thành kính dâng Đức Thánh, khói hương nghi ngút đưa chút lòng thành mong sao cho được thấu đến Thánh Thần, phù hộ toàn gia, người của an khang, gia đình hưng vượng, con cháu thuận hòa. Con tấu lạy Đức bà, Nhị vị Vương cô, cộng đồng các quan, ngài xá lầm xá lỗi, phù hộ độ trì cho toàn gia được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn tấu.”
(Bài khấn đức Thánh Bà ở Bia Bà, La Khê,Hà Đông, Hà Nội,  ngày 9-2-2014)

Bài khấn  2

 “Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, chư Phật mười  phương, mười phương chư Phật. Con sám hối tấu lạy Đức Thánh Bà, Mạc triều Đông cung Hòang Hậu, nhị vị vương cô , cộng đồng các quan, cộng đồng Tiên Thánh, cô bé bản đền, cậu bé bản phủ.

          Hôm nay là ngày mồng … tháng ….. năm , tên con là…., địa chỉ ….

          Hôm nay, chúng con nhất tâm về bên Bà, sắm sửa , tu tiết : thanh bông hoa quả, kim ngân vàng bạc, trầu là đầu, ấm trà, bao thuốc,…

          Con xin kính dâng:

          -trung ban, phù tửu, xôi gà,…

          -hạ ban, phù tửu trứng (sống), gạo, muối,…

          Kính dâng lên Bà và hai cô, cùng các quan chứng minh chứng lễ, phù hộ độ trì cho toàn thể gia đình mạnh khỏe, làm ăn thuận buồm xuôi gió, được tươi như hoa, nở như bông, cây xanh cành tốt, nở cành xanh ngọn, làm ăn được dễ, được dàng, thịnh người, thịnh của, để mọi công việc được hanh thông, công thành danh toại. Có năm xung, Bà giải xung, tháng hạn Bà  giải hạn, cho qua sao qua nạn, qua hạn qua ách, phúc thì Bà lai, tai thì Bà tống, tai ách thì bà tiêu trừ đi cho; để 3 tháng hè, 9 tháng Xuân, Hạ , Thu, Đông, mọi việc tốt lành, chu toàn hoàn hảo…..

          Con xin cúc cung vạn bái

(Người khấn: Bà Nguyễn Thị Nhung)

                                  TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

-Bài khấn đức Thánh Bà ở Bia Bà, La Khê,Hà Đông, Hà Nội,  ngày 9-2-2014

-Deborah Wong: Không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh, bảo tồn và phát huy, Viện VHTT, H, 2006, tr. 788.

 

-Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, NXB Khoa học xã hội, 1998

-Đình La Khê và đền Bia Bà, Văn hiến Việt Nam, Đông Tinh, Thứ Năm, 30-10-2015

 

-Làng La Khê –Wikipedia

 

-  Phạm Thị Thanh Quy: Hội làng La Khê, webside Văn hiến Việt Nam, ngày 30-9-2013

 

-Tộc ước họ Trần La Khê , trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

-UNESCO : Công ước quốc tế về bảo vệ di sản quốc tế-2003

 

-Trần Thị Thủy: Tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở Châu thổ Bắc Bộ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2017.

 


[1]  Phạm Thị Thanh Quy: Hội làng La Khê, webside Văn hiến Việt Nam, ngày 30-9-2013)

 

[2] Cho đến nay Họ Trầnkhông có tài liệu chính thức nào xác nhận về việc Mộ Cụ đặt tại đây trước hay Chùa đặt trước. Một số nguồn tin cho rằng Chùa có sau khi Mộ Cụ được đặt tại đây mục đích để hàng ngày Cụ được nghe tiếng cầu Kinh trong chùa.

[3] Các thông tin về Cụ Trần Thực hiện nay không có. Nếu có con cháu nào trong Họ sưu tầm được thì báo lại cho Anh Tuấn trưởng Họ

[4] Vào thời điểm này, Vua không lập Hoàng Hậu, Hoàng Phi Trần Thị Hiền sau khi mất được phong Đông Cung Hoàng Hậu (xem phần Trần Chân)

[5] Theo lời kể lại của Ông Trần Quốc Ân khi làm việc với GS Nguyễn Tá Nhí (năm 2000) về các công việc liên quan đến nhà thờ Cụ.

[6] Theo một số Ông trong Họ,hai câu đối này là do Vua Mạc Đăng Doanh soạn để khắc phía trên mộ. Lưu tích đã bị phá khi khi làm lại Nhà thờ Cụ năm 2000. Hai câu đối hiện nay và cuốn thư chính là làm mới lại  theo nội dung cũ.

[7] Hiện nay cánh đồng Vang (và cả cánh đồng phía nam làng La khê) được lấy làm khu đô thị Park City

[8] Những năm này Nhà nước có chủ trương chống mê tín dị đoan rất mạnh. Cho đến những năm 1990 khi ông Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư (được bầu sau đại hội Đảng VI-1986)  vấn đề tự do tín ngưỡng của dân được thực thi tốt hơn, Đình, Chùa được nhà nước trưng dụng từ thời chiến tranh dần trả lại cho dân như nhà sát gạo La Khê trả lại làm Tam quan chùa, Chùa Ngòi (Bia cụ Quận nằm cạnh đó) trước đây do một đơn vị bộ đội (trạm Đại học Quân khu III) quản lí, cũng được trả lại  để dân làng thuận tiện cúng lễ.

[9] Theo quyết định này thì chỉ có “Đình, Chùa” La Khê chứ không có tên “Bia Bà”. Nhưng trong thực tế các bảng chỉ dẫn, nhiều văn bản khác liên quan đều “phải” viết thêm thành “Đình chùa, Bia Bà La Khê”. Nói như vậy để thấy rõ hơn sức thu hút của Bia Bà với khách Hành hương và giá trị Tâm linh của Bia Bà.

[10] Deborah Wong: Không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh, bảo tồn và phát huy, Viện VHTT,H, 2006, tr. 788.

[11] Tám vị Bà Chúa Kho đó là: 1. Bà Chúa Thượng  Đồng, làng Lẫm, Phường Văn An, huyện Yên Phong (tr.54). 2.Bà chúa Quả Cảm, xã Hoa Long, T/P Bắc Ninh. 3. Bà Chúa Trung Đồng, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (tr.60). 4. Bà Chúa Hạ Đồng (còn gọi là Đại Tảo), xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, Bắc Ninh (tr.61). 5. Bà Chúa Trung Cơ, phường Vệ An,T/P Bắc Ninh  (tr.70). 6.Bà Chúa phường Giảng Võ. Ngõ162, Đê La Thành, Hà Nội (tr.72).7. Bà Chua Nam Định (tr.79). 8. Bà Chúa , Đường Điện Biên III, Phường Quang Trung, T/P Hưng Yên (tr.82); Trong sách Trần Thị Thủy: Tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở Châu thổ Bắc Bộ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}