Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Sự tái sinh mô thức đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam hiện đại

Trần Thị Minh | Chủ Nhật, 09/10/2016 09:53 GMT +7

Nằm trong dòng chảy chung của văn học thiếu nhi, thơ cho tuổi thơ ngày càng ghi dấu nhiều thành tựu. Trải qua chặng đường dài phát triển, có khi thăng, có khi trầm; đến nay, đội ngũ sáng tác thơ cho các em ngày càng được bổ sung, số lượng tác phẩm ngày càng nhiều trong đó có những tác phẩm đạt đến độ kết tinh nghệ thuật, chinh phục đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi.

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy thơ thiếu nhi Việt Nam mấy thập kỉ qua có sự thâm nhập của nhiều yếu tố truyền thống trong đó sự ảnh hưởng của đồng dao rất rõ nét. Không chỉ mang đến cho thơ cảm hứng sáng tạo vô tận mà những mô thức đồng dao dân gian còn có ý nghĩa như một kiểu tư duy độc đáo, khởi nguồn, mang đến nét tươi mới, hấp dẫn cho tác phẩm.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

 1. Mô thức mượn lời đồng dao
         Đồng dao là những bài hát truyền miệng của trẻ con, thường được trẻ hát khi chơi các trò chơi. Vì hướng đến đối tượng trẻ em nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ nên cấu tạo của đồng dao có những nét độc đáo, khác biệt, đáng chú ý là hiện tượng câu mở đầu một bài đồng dao. Những câu mở đầu như Nu na nu nống, Chi vi chi vít…(đồng dao Việt), Ống áng ơi bươn đao (đồng dao Thái), U xú ề xề,mế tấm hề, mế tấm be (đồng dao Mường)…có thể đọc lên không có nghĩa nhưng “vẫn cần thiết, vẫn hay vì là sự khởi đầu để tạo nên không khí, để gây hào hứng”(1). Đó là thứ âm thanh ở giai đoạn tiền ngôn ngữ, là tiếng gọi bạn gọi bầy đưa trẻ em tiếp xúc với thế giới xung quanh. Như một sự gặp gỡ, trong thơ thiếu nhi hiện đại, người đọc có thể bắt gặp nhiều tác phẩm mà câu thơ mở đầu chính là sự vọng về của âm điệu đồng dao thân thiết thuở nào nhưng  lại để mang chở nội dung ý nghĩa mới do nhu cầu thời đại. Lữ Huy Nguyên là người đã thể nghiệm khá thành công hình thức này trong tập Trâu lá đa.Thậm chí, những bài thơ mang đến sự quen thuộc ngay từ nhan đề: Thả đỉa ba ba, Chi chi chành chành, Tập tầm vông…Mượn âm điệu của lời hát mở đầu trong trò chơi,  Lữ Huy Nguyên làm sống lại tinh thần quyết chiến của quân dân ta trong những năm chống Mĩ,  khơi dậy tình yêu quê hương đất nước của thế hệ trẻ thơ:
        Có những đoạn thơ trong bài láy lại hoàn toàn lời đồng dao nhưng đọc lên, bạn đọc vẫn cảm nhận được tính “thời sự” nóng hổi ẩn sau từng câu chữ.
        Trò chơi thả đỉa ba ba của những đứa trẻ sống  dưới thời kì mưa bom bão đạn cũng đầy hào hứng trong tinh thần quyết tâm vào hang tối, trèo núi cao, qua rừng sâu tìm bắt Mỹ. (Thả đỉa ba ba)
         Với Tập tầm vông, qua lời đố vui có – không quen thuộc, các em được tiếp thêm ý thức chăm chỉ học hành để có những bông hoa điểm tốt:
         Đến  Đồng dao của Hoài Khánh, bạn đọc lại có cảm giác như nhà thơ  đã hóa thân thành trẻ nhỏ, cùng nhịp bước chân đưa trẻ thơ dạo qua những không gian vừa quen thuộc vừa kì diệu. Điệp khúc Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi dẫn dắt các khổ thơ tạo âm điệu vui tươi của cuộc chơi, theo đó không gian trước mắt các em được mở rộng dần, từ cổng trường mẫu giáo (Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Qua ngõ nhà trời/ Vào trường mẫu giáo) ra phố xá đông vui (Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Không đến nhà trời/ Mà ra phố xá) đến những cánh đồng lúa chín vàng (Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Đi đến tận nơi/ Những đồng lúa chín) và mùa xuân lan tỏa hương thơm ngày tết (Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Mùa xuân thắm tươi/ Cho bao điều lạ). Và kì thú nhất chính là qua trò dung dăng dung dẻ, bé không chỉ cảm nhận thấy trường học thân thiết, phố xá đông vui, hạt lúa là “hạt vàng” thơm dẻo mà còn biết thêm một điều thiêng liêng và cao quý: bé được sinh ra từ rất nhiều thương yêu của mẹ.
         Qua sự phân tích trên, có thể thấy rằng hiện tượng mượn lời thường xuất hiện ở trường hợp tác phẩm thơ thiếu nhi giữ nguyên câu mở đầu của bài đồng dao, phần còn lại thường là cải biến lời. Nghĩa là bài thơ giữ nguyên khung kết cấu nhưng lại lồng vào những hình ảnh nghệ thuật mới. Cũng có khi tác phẩm thơ thiếu nhi lặp lại nguyên một đoạn lời của bài đồng dao, đọc lên na ná đồng dao nhưng vẫn mới mẻ, hấp dẫn. Như bài Chơi chuyền của Thái Hoàng Linh lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian chuyền thẻ và trích nguyên văn một đoạn lời của trò chơi: Chuyền chuyền một/ Một, một đôi/ Chuyền chuyền hai/ Hai, hai đôi nhưng cái độc đáo ở đây là tác giả lại liên tưởng đến phương thức sản xuất dây chuyền của nhà máy trong thời kì công nghiệp hóa.
Nhờ sự liên tưởng này mà đoạn lời đồng dao trong trò chơi thuở bé mang ý nghĩa lớn lao hơn. Nó là hình ảnh đẹp cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, là sự động viên, thôi thúc con người ta chăm chỉ lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ: “Chuyền dẻo dai/ Chuyền chuyền mãi”.
         Một số tác phẩm thơ thiếu nhi mượn lời đồng dao thông qua hình thức lấy cảm hứng, lấy ý từ phần lời của bài đồng dao. Nhiều bài thơ trong tập Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa được cấu trúc theo hình thức này. Như bài Con cò trắng muốt được Trần Đăng Khoa lấy ý từ lời đồng dao “Con cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt ai đưa cò về”. Hay bài Trăng sáng sân nhà em có điệp câu “Trăng khuya sáng hơn đèn” dựa trên câu hát dân gian “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng”. Đọc Đám ma bác Giun, người đọc thấy phảng phất hình bóng của bài đồng dao Con cò chết rũ trên cây. Bác Giun được đưa tiễn bởi đông đảo họ hàng nhà kiến. Bao nhiêu loài kiến là bấy nhiêu cách thể hiện nghĩa tình với những trạng thái khóc thương riêng biệt. Bài thơ gợi lại không khí “việc làng” ở nông thôn xưa, trong đó có cả bóng dáng của những hủ tục lạc hậu, của nạn chè chén linh đình khi giỗ chạp, ma chay.
         Như vậy, khuynh hướng mượn lời đồng dao đã mang đến cho thơ thiếu nhi vẻ đẹp  của sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Lồng trong hình thức đồng dao dân dã, mộc mạc là những nội dung mang chiều sâu mới, đầy tính nhân văn. Sự kết hợp này góp phần tạo ra một thành công đáng kể, một sự đổi mới đầy sáng tạo của các nhà thơ thiếu nhi hiện đại hôm nay.
2. Mô thức trò chơi
         Đồng dao là tiểu loại văn học đặc biệt của ca dao, có sự kết hợp chặt chẽ giữa ba nhân tố: một là lời thơ, hai là giai điệu, ba là trò chơi. Đồng dao ra đời như một món ăn tinh thần và cũng chính là những bài học sơ khai dành cho trẻ. Cả kho tàng phong phú ấy là phương tiện giáo dục hữu hiệu cho các em từ những điều ban sơ nhất, kết hợp với trò chơi tạo ra những điều bổ ích cho phát triển tâm lí, thể chất, trí tuệ từ lúc nhỏ và nhân cách của các em trong tương lai. Nhận thức được vai trò to lớn của hoạt động vui chơi đối với trẻ em, thơ thiếu nhi Việt Nam hiện đại cũng kế thừa đồng dao cách cấu trúc bài thơ thành một trò chơi. Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Vân Thanh cho rằng: “Thơ cho các em không phải chỉ bay bổng mà còn phải thật vui, sống động, phải có một cái gì đó như cựa quậy (…). Thơ của các em còn có thể trở thành trò chơi” (2). Hình thức này khiến bài học đạo đức trong thơ có sự kết hợp giữa nét ngây thơ, hồn nhiên với những ý tứ sâu sắc của bài học làm người. Chỉ một động tác vỗ tay thôi mà gợi nên biết bao suy nghĩ về tình đoàn kết cộng đồng. (Mẹ, mẹ ơi, cô bảo - Phạm Hổ)
         Trong tư thế trịnh trọng tập làm người lớn, bài học “làm anh” biết thương yêu em bé dường như cũng dễ dàng hơn. (Làm anh – Phan Thị Thanh Nhàn)
         Như thế, nếu ích kỉ tham lam là không làm anh, làm chị được. Vả lại, âu yếm, ân cần, dịu dàng, gần gũi với em thôi chưa đủ, làm anh còn phải biết độ lượng, bao dung với em nữa. Khó nhưng mà vui, bởi đó vừa là trách nhiệm vừa là sự thể hiện tình cảm đẹp đẽ của mỗi người làm anh, làm chị. Trịnh trọng mà vẫn vui vẻ, hồn nhiên, khiến cho các bé hiểu về một lĩnh vực tình cảm quan trọng, giúp bé có thể trở thành người ngoan, người tốt, đáp lại công ơn trời biển của bố mẹ, ông bà và được các em nhỏ quý mến, tin yêu.
         Với tuổi nhỏ, người lớn khó có thể áp đặt cho chúng. Có chăng, người lớn chỉ bắt các em thực hiện một cách miễn cưỡng mà thôi. Nhưng nếu khéo léo một chút, biết cách tạo hứng thú cho các em thì  việc nhỏ bỗng hóa thành việc lớn (Bé quét nhà - Yên Giang).
Việc nhặt từng sợi rơm, “một sợi”, “hai sợi” bị bỏ rơi vương vãi như một trò chơi.  Nhưng sợi rơm rơi ấy lại trở thành quý giá vì sự góp nhặt chắt chiu. Chuyện chơi đùa bỗng hóa ra nghiêm túc: từng sợi rơm như từng sợi vàng dành tết “chổi to”, “chổi nhỏ”, việc bé con trở thành việc lớn. Bé lớn lên bởi tình yêu lao động.
         Với Mời vào, Võ Quảng lại đưa các em đến với trò chơi ú tim vui nhộn. Đằng sau thanh âm gõ cửa Cốc/ cốc/ cốc là cả một thế giới loài vật sinh động hiện ra với những hình ảnh tiêu biểu nhất của nó: con Thỏ thì vểnh cái tai, con Nai thì vênh bộ gạc…Không chỉ có niềm vui khám phá, các em còn cảm nhận được niềm vui khi làm việc tốt cống hiến cho đời.
Lời thơ giản dị mà ẩn chứa ý nghĩa lớn lao. Ngọn gió kia, tuy chẳng có hình hài cụ thể nhưng vẫn thầm lặng giúp ích bao điều cho cuộc sống. Đó là bài học về lao động và cống hiến Võ Quảng muốn mang đến cho trẻ thơ.
         Vẫn cấu trúc trò chơi cho trẻ nhỏ nhưng Định Hải khéo léo biến thành trò chơi lớn của tình hữu ái quốc tế. Ngắm nhìn các bạn nhỏ đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới hào hứng “đu bay”, nhà thơ không khỏi xúc động khi nghĩ về cây tre Việt Nam khiêm nhường, giản dị mà ẩn chứa sức mạnh lớn lao, cũng “biết làm đu” đưa đất nước hòa nhập với năm châu trong ngày hội lớn. Đằng sau mỗi nhịp chân nhún nhảy tinh nghịch , ta cảm nhận được khát vọng vươn cao, khát vọng nối kết những tình bạn trong sáng, ngây thơ  (Đu bay – Định Hải)
         Không ngây thơ, hồn nhiên một cách giả dối, sống sượng, người viết đã nhìn cuộc sống bằng chính đôi mắt trẻ thơ để nói tiếng nói của tâm hồn và trí tuệ các em. Mô thức trò chơi khiến ý nghĩa giáo dục trong tác phẩm không bị biến thành những lời giáo huấn khô khan, gò ép mà được gài lồng trong những hình ảnh đẹp, trong cách nói nhẹ nhàng.
3. Mô thức kể
         Là tiểu loại của ca dao (trữ tình dân gian) nhưng đồng dao thuộc phương thức biểu đạt tự sự bằng văn vần. Đồng dao cung cấp cho các em kiến thức, không phải là kiến thức hệ thống như tư duy người lớn mà là trình bày liệt kê, dừng lại ở những nét bề ngoài dễ nhớ, dễ phân biệt, kích thích trí tò mò ở trẻ em. Nhiều tác phẩm thơ thiếu nhi hiện đại cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tính chất kể như vậy của đồng dao. Bài thơ kể vật, kể việc, liệt kê sự kiện hành động mà không có cốt truyện, nhân vật.  Tiêu biểu cho hình thức này là những bài thơ trong tập Chim gọi mùa, Gió từ đâu của Quang Huy, Chợ chim của Hữu Thỉnh, Kể cho bé nghe của Trần Đăng Khoa, Mè hỏa mè hoa của Thạch Quỳ. Những tác phẩm kể về các loại cây, hoa, quả, các loài chim nhằm mở rộng nhận thức cho các em về thế giới tự nhiên, môi trường xung quanh.
 Lời thơ mang tính thuyết minh khách quan, hướng người đọc ra thế giới đối tượng, nhà thơ miêu tả thuộc tính, đặc trưng, động tác của sự vật, gọi tên sự vật bằng con mắt quan sát, liên tưởng thú vị:
“Hay nói ầm ĩ/ Là con vịt bầu// Hay hỏi đâu đâu/ Là con chó vện/                                                 Hay chăng dây điện/ Là con nhện con”… (Kể cho bé nghe – Trần Đăng Khoa)                                       
         Trong một số trường hợp khác, bên cạnh lối kể tự sự, tác phẩm chen thêm lời nhận xét, đánh giá chủ quan của người viết, ví dụ  (Mè hỏa mè hoa – Thạch Quỳ)
         Cũng có khi, tác phẩm thơ thiếu nhi sử dụng mô thức kể của đồng dao để thuật lại một câu chuyện với đầy đủ tuyến nhân vật, sự kiện, tình huống hoặc kể lại một sự tích. Khác với thơ viết cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng bao gồm hệ thống cảm xúc, nỗi niềm, suy tưởng, thơ viết cho các em có thể “kể” lại được. Tiêu biểu như Thương ông, Một trò chơi không thành (Tú Mỡ), Đốm sáng mùa hạ, Chuyện ông già làm thuốc và con hổ bị thương (Quang Huy), Đánh tam cúc (Trần Đăng Khoa), Bồ Câu và Ngan (Phạm Hổ),  Nàng tiên ốc (Phan Thị Thanh Nhàn), Chuyện cổ tích về loài người (Xuân Quỳnh) ...Hình thức kể chuyện bằng thơ này rất gần gũi với lời kể trong các bài đồng dao Thằng Bờm, Vè thằng nhác, Ngày xửa ngày xưa có mười ông vua. Các nhà thơ vẫn sử dụng chất liệu ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, cách kể cũng đơn giản theo trình tự thời gian và công thức cố định của truyện kể truyền thống như công thức mở đầu, công thức kết thúc, công thức trần thuật. Mỗi bài thơ mang đến cho trẻ một câu chuyện hấp dẫn, vừa quen vừa lạ, đậm đà tính nhân văn.
Nhà văn Thanh Tịnh từng phát biểu rằng: “Chúng ta làm thơ cho thiếu nhi không nên vội vàng đi quá xa những nét dân gian, cụ thể là phong dao, ca dao, đồng dao mà các em đã quen biết. Tất nhiên từ những nét phổ cập đó mà dần dần nâng cao” (3).  Điều này chứng tỏ đồng dao luôn có sức sống bền bỉ, tạo nguồn cảm hứng cho người cầm bút. Sự tái sinh của những mô thức đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam hiện đại khiến thơ viết cho các em tránh được công thức khô khan, sáo rỗng mà trở về đúng với bản chất ngây thơ, hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ. Qua đó, giúp các em có thêm hiểu biết về thế giới bao la rộng lớn bên ngoài, học được những bài học đầu tiên về cuộc sống.

------------------------------------------------------
(1) Vũ Ngọc Khánh (1974), Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 4, tr.3.
(2) Nhiều tác giả (1983), Bàn về văn học thiếu nhi, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, tr.67 – 68.
 (3) Nhiều tác giả (1983), Bàn về văn học thiếu nhi, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, tr.58.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}