Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Sự thay đổi điểm nhìn về chức năng văn học

Cao Thị Hồng (Hội Nhà văn Việt Nam) | Thứ Bảy, 10/12/2016 11:19 GMT +7

1. Văn học nghệ thuật  là một hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo mà cả của người tiếp nhận, thưởng thức. Văn học mang những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Chức năng của văn học chính là vai trò, ý nghĩa, tác dụng của văn học  đối với đời sống tinh thần của con người,  là lý do tồn tại của văn học.

Thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Việt Nam  đã có dịp nhìn lại lịch sử lý luận văn học từ Tây sang Đông, từ xưa đến nay để phát hiện, làm sáng tỏ thêm nội hàm phong phú của nhiều vấn đề thuộc chức năng của văn học. 
2.  Trước hết, lý luận thời kỳ đổi mới đã chỉ ra tính đa chức năng của văn học. Trước đây lý luận thường xác định chức năng của văn học trên ba phương diện là nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ. Nhưng tác phẩm văn học vốn là một hiện tượng thẩm mỹ độc đáo bởi xuất phát từ sự phong phú của bản thân hiện thực, từ tính đặc thù của sự phản ánh nghệ thuật, hình tượng văn học nghệ thuật  thường là một hiện tượng thẩm mỹ đa nghĩa. Do tính đa nghĩa ấy, sự tác động của văn học đối với người thưởng thức tác phẩm đặt trong đời sống và ý thức xã hội cũng bộc lộ trên nhiều bình diện, nhiều cấp độ khác nhau. Vì vậy, sẽ không đầy đủ và thiếu chính xác nếu xác định chức năng của văn học chỉ gồm ba chức năng nêu trên. Các nhà khoa học đã đưa ra và chứng minh thêm rất nhiều chức năng khác nhau của văn học nghệ thuật như: giao tiếp, giải trí, thông tin, dự báo, minh họa, kích thích khoái cảm, tái sinh – bổ sung tinh thần, nhân đạo hóa con người, vv…
     Chức năng của văn học thường vận động, biến đổi theo sự đổi thay của đời sống xã hội. Mỗi thời đại, mỗi dân tộc tùy hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình mà có những yêu cầu khác nhau đối với hoạt động văn học. Mỗi giai cấp, mỗi cá thể lại tùy vào điều kiện tồn tại của mình, mục đích thực tiễn của mình để có sự khai thác, tận dụng các khả năng tiềm tàng khác nhau của văn học. Vì thế, việc chỉ rõ chức năng văn học nào là quan trọng nhất cũng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. (Ví dụ: khi cuộc sống thanh bình, người ta thích ngâm thơ, vịnh nguyệt, tìm thú vui trong thưởng ngoạn văn chương. Lúc cả xã hội dồn sức cho đấu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh giai cấp thì chức năng nhận thức, giáo dục, dùng văn thơ làm “bom đạn phá cường quyền” sẽ nổi trội hơn chức năng giải trí, “mua vui”).
     Việc phân chia văn học ra nhiều chức năng riêng biệt chỉ có ý nghĩa tương đối. Trên thực tế, sự tác động của nghệ thuật đến người tiếp nhận là một rung động thẩm mỹ mang tính tổng hợp của nhiều chức năng, là quá trình chuyển hóa biện chứng, phức tạp, ở đó, các yếu tố chức năng xuyên thấm, hàm chứa lẫn nhau. Một tác phẩm văn học có thể mang rất nhiều những tác dụng khác nhau đến người đọc.  Thời kỳ đổi mới, một số các chức năng cơ bản của văn học được bổ sung mở rộng thêm nhiều nội hàm ý nghĩa. 
        Chức năng nhận thức của văn học là khả năng văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết, giúp con người khám phá thế giới hiện thực. Tuy nhiên, văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết cho con người nhưng văn học không như các môn khoa học khác, nhận thức hiện thực theo kiểu phân môn mà phản ánh cuộc sống trong toàn bộ tính toàn vẹn của nó. Văn học chính là cuốn bách khoa toàn thư, là cái kho chứa khổng lồ những tri thức về hiện thực đời sống. Văn học dễ dàng tái hiện lại quá khứ, chứa đựng nhiều những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức giá trị về kinh tế, văn hóa, quân sự… Không chỉ có những người sáng tác, thưởng thức văn học mới nhận thấy chức năng phản ánh hiện thực của văn học, chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mark cũng đánh giá cao khả năng cung cấp tri thức của văn học. Văn học còn giúp ta tìm hiểu thân phận của con người, khám phá các tính cách xã hội của một giai đoạn xã hội, một tầng lớp, một giai cấp…
       Chức năng nhận thức của văn học nghệ thuật là vô cùng rộng lớn, tùy theo cách diễn đạt của nhà văn, sự sáng tạo của người nghệ sĩ,  sự cảm thụ của người thưởng thức mà văn học có những tác động khác nhau. Chức năng nhận thức của văn học là khả năng của văn học trong việc cung cấp tri thức nhiều mặt về đời sống, mang lại sự hiểu biết, nhất là hiểu biết về các tính cách xã hội, những bí ẩn trong tâm hồn con người.
    Lý luận đổi mới cũng xác định nội dung quan trọng nhất trong chức năng nhận thức của văn học là giúp con người tự nhận thức bản thân, hiểu được giá trị của mình, thấy được vị trí của mình, biết mình phải làm gì và có thể làm gì trong cuộc sống chung, sống cuộc sống có ý thức sâu sắc về giá trị và năng lực của mình để phấn đấu và sáng tạo.
     Chức năng giáo dục của văn học là khả năng tác động của nó tới quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách con người. Văn học là một môi trường nuôi dưỡng tình cảm nhân ái. Những tác phẩm văn học ưu tú luôn khơi dậy trong tâm hồn ta khả năng đồng cảm, làm cho ta biết vui, biết buồn, dạy cho ta biết yêu, biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, lười biếng. Văn học  khơi dậy ở ta niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống.
       Trước đây, khi bàn về chức năng giáo dục của văn học, vấn đề giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng lập trường giai cấp, thường được đề cao: “Chức năng cải tạo cũng là chức năng đấu tranh, chức năng chiến đấu và chức năng tạo dựng của văn học. Tính chất “công cụ”, “vũ khí” của văn học biểu hiện ở chỗ này (…). Nói đến chức năng cải tạo của văn học là nói đến việc nhà văn dùng tác phẩm để truyền đạt lý tưởng sống của bản thân mình, mà cũng là lý tưởng sống của một giai cấp, một lực lượng, một thời đại mà mình là tay, chân, tai, mắt” [1]. 
Đến thời kỳ đổi mới chức năng giáo dục được nhấn mạnh ở khả năng “cảm hóa”, tự giáo dục của văn học nghệ thuật. Hiệu quả của tác phẩm đến với con người một cách tự nhiên. Trong quá trình tác động để cải biến con người, tác phẩm nghệ thuật là người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc. Tác phẩm  chân chính bao giờ cũng nhằm khơi dậy cuộc đấu tranh, sự vật lộn bên trong ở mỗi người khi tiếp nhận nghệ thuật. “Nó là tấm gương để con người tự soi mình, tự đối chiếu và tự phán xét về người khác, cũng như về chính bản thân mình. Bằng cách đó, văn học chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục” [2].  Như vậy lý luận đổi mới thừa nhận tác động của văn học đối với con người là mạnh mẽ, nhưng lâu dài, chìm sâu vào nỗi trăn trở của nhân cách. Sự giáo dục bằng nghệ thuật không có tính chất cưỡng bức mà là một hoạt động tự giác, văn học nghệ thuật gieo vào lòng người sự cảm nhận về cái tốt, ý thức về cái xấu, nỗi khát khao hướng thiện, tất cả nằm trong thế khả năng chứ không phải sự tác động tức thì. Sức tác động mạnh mẽ của văn học nghệ thuật thể hiện chủ yếu không phải ở chỗ nó tuyên truyền và răn dạy, mà ở khả năng khêu gợi, đánh thức lương tri của mỗi người, kích thích quá trình tự giáo dục ở họ. “Nghệ thuật như tấm gương lớn xã hội đặt ra trước mặt, mỗi người đến tự soi mình, nhận diện, đối thoại với chính bản thân mình, tự phán xử, kiêu hãnh với những gì tốt đẹp có ở mình, ở cuộc đời, đồng thời cũng hổ thẹn vì những gì trái với lương tâm, đau đớn với tội lỗi, bất công trong xã hội”[3].  Như vậy ở thời kỳ đổi mới, lý luận đề cao chức năng giá#o dục con người của văn học nghệ thuật, song đó không phải là sự giáo dục theo công thức giáo điều buộc người ta phải tuân thủ mà ở đây mang ý thức tự giác cao. Thiết nghĩ, muốn “phục vụ” được chính trị, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thì trước hết văn nghệ phải ý thức được đầy đủ thiên chức của mình. Đó không đơn thuần chỉ là chức năng tuyên truyền mà quan trọng hơn hết đối với ý nghĩa sự tồn tại của văn học nghệ thuật là thiên chức đánh thức tâm hồn, tình cảm của con người. 
Bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI, thế giới với sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin đã, đang và sẽ làm nên một “thế giới phẳng” (Thomas Fiedman). Rào cản biên giới ở mọi lĩnh vực của cuộc sống giữa các dân tộc ngày càng trở nên nhạt nhòa. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học “phẳng” ở đây không có nghĩa là san phẳng tất cả, “phẳng” với ý nghĩa mọi phạm trù biên giới, lãnh thổ, sự toàn vẹn chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa, sự khác biệt về tôn giáo, chủng tộc, lịch sử, địa lý… tất cả phải được duy trì, được bảo vệ giữ gìn, được xử lý theo hướng làm phong phú cho tính “phẳng”của thế giới, quốc gia nào cũng phải ứng xử như thế nếu không muốn tự cô lập mình. Trong sự vận hành chung của thế giới, đất nước và con người Việt Nam đang đứng trước nhiều vận hội và thách thức lớn. Thời đại những thông tin toàn cầu có thể đến với bất kỳ một ai chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Tất cả những tác động ấy sẽ rất đáng kể trong sự thúc đẩy phát triển xã hội nếu biết định hướng con người cập nhật những tri thức tinh hoa văn hóa, trong đó văn học nghệ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng. Có thể thấy, để phát huy tốt chức năng xã hội của mình văn học  nghệ thuật không thể sáng tác chạy theo giáo điều, rao giảng đạo đức một cách khô khan, sống sượng, cũng không thể hô hào tình yêu Tổ quốc, tình yêu đồng bào một cách chung chung, sáo rỗng. Văn học hoàn toàn không phải là một thứ “công cụ” như khẩu súng, máy bay, tàu thủy, để sử dụng nó như một thứ vũ khí vật chất vào mục đích vụ lợi của một số người, phe phái, cục bộ địa phương. Nghệ thuật là một hoạt động tinh thần có sức mạnh kỳ diệu, nhưng sức mạnh của nghệ thuật không phải là thứ sức mạnh nhờ vào quyền lực mang lại. Sức mạnh lôi cuốn thuyết phục của  nghệ thuật tỏa ra từ chính tác phẩm - điểm hội tụ tài năng, trí tuệ, tâm huyết và bản lĩnh của người nghệ sĩ. Từ hơn sáu trăm năm trước, Nguyễn Trãi - người anh hùng kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - đã từng dùng những trang viết sắc sảo, thấu lý đạt tình để “mưu phạt tâm công” (đánh vào lòng người), và nhờ vậy ông đã để lại cho đời những áng văn chương có “sức mạnh hơn mười vạn quân” (Phan Huy Chú). 
Việc tiếp nhận nghệ thuật là một sự tự nguyện, tự ý thức cao của mỗi người, nó giúp độc giả ý thức được sâu sắc hơn về bản thân, tự nhìn vào “con người bên trong” mình nghiêm khắc hơn, từ đó hiểu được sâu sắc hơn sự thật bản thân mình - đây là một sứ mệnh thiêng liêng của văn học. Vì vậy khi tiếp nhận tác phẩm, ngoài việc nhân lên lòng tự hào dân tộc, hướng mạnh mẽ đến cội nguồn cuộc sống, công chúng còn được khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, thậm chí cảm thấy tủi hổ vì những gì mình đang thua kém những dân tộc khác trên thế giới, cảm thấy đau buồn sâu sắc trước những bất công, tàn bạo khôn lường đe dọa sự bình yên của cuộc sống con người. Từ đó, truy tìm lời giải đáp cho câu hỏi: phải tự vượt mình, tự hoàn thiện nhân cách, văn hóa của con người trong thời đại văn minh như thế nào? 
Muốn có được sức mạnh lay chuyển lòng người như vậy, nghệ thuật phải được bộc bạch tất cả những gì riêng tư nhất, khát vọng tha thiết nhất thuộc về bản thể con người, nó đánh thức tình yêu và tiềm năng sáng tạo của họ, nó khiến con người ý thức được niềm hạnh phúc và trách nhiệm lớn lao của quyền và nghĩa vụ của Con Người theo nghĩa đúng nhất của từ này. Phải được nói lên nhiều mặt cả cái xấu và cái tốt, cao thượng và thấp hèn, cái ác và cái thiện, cái được và cái mất,… Văn học phải được đi đến tận cùng những số phận con người với những trang viết thấu đáo về đời sống và con người. Tất cả là để cùng tự thức trong đường biên của tự do sáng tạo trong tư duy hiền minh về nghệ thuật, ở đó mỗi cá nhân được thể hiện trọn vẹn khả năng của mình, ý thức được một cách cao nhất quyền công dân của mình đối với Dân tộc, Tổ quốc, Nhân dân. 
         Bên cạnh chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ được xem xét ở hai cấp độ cơ bản: 1/ Thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, khơi dậy những khoái cảm nghệ thuật; 2/ Hình thành thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ, đánh thức chất nghệ sĩ và tinh thần sáng tạo của con người. Xét về mối quan hệ của các chức năng với nhau lý luận đổi mới nhận thức chức năng thẩm mỹ là nét riêng nhất làm cho văn học nghệ thuật là hình thái ý thức không thể thay thế được. Nếu trước đây, trong bối cảnh đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX, chức năng thẩm mỹ cũng được nhắc đến nhưng đặt ở mức thấp hơn so với chức năng tuyên truyền, giáo dục thì nay đến thời kỳ đổi mới ý thức về vị trí của chức năng thẩm mỹ được nhìn nhận lại công bằng, hợp lý hơn. Chức năng thẩm mỹ được coi là chức năng đặc thù tương ứng với đặc trưng, bản chất của văn học nghệ thuật.
Lý luận đổi mới cũng lưu ý rằng, sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, biến cải được con người là bởi nó vui tươi, hấp dẫn. Dường như giáo dục, giải trí, vui chơi hợp làm một. Thậm chí những tác phẩm thuộc các thể loại hài hước, châm biếm tưởng như thiếu “nghiêm túc” thì việc giáo dục lại đặt ra hết sức nghiêm túc. Từ điểm độc đáo này của sự tác động nghệ thuật, lý luận khẳng định thêm một chức năng nữa của văn học nghệ thuật mà trước đây không được bàn đến: chức năng giải trí.
Từ trong bản chất của mình văn học nghệ thuật mang chức năng giải trí. Nhà lý luận người Mỹ, Barnet cho rằng trong văn học nghệ thuật có yếu tố “trò diễn”, có nghĩa là mua vui, vui chơi, người đọc chờ đợi ở tác phẩm sự vui thú, khoái trá. Không thể quan niệm đơn giản rằng văn học nghệ thuật chỉ là để “mua vui”, nhưng nếu không chú ý đến điểm này sẽ làm cho văn học nghệ thuật ít hấp dẫn, lôi cuốn. Giải trí trong văn học nghệ thuật không hẳn giống như giải trí trong các lĩnh vực khác như chơi cờ, đi dạo, chơi các môn thể thao,… đây là quá trình độc giả tìm đến những khoái cảm thẩm mỹ, những rung động tình cảm mà nghệ thuật mang lại. Nó làm cho con người thích thú, say mê, khát khao hướng về cái đẹp, cái thiện. Giải trí bằng văn học nghệ thuật làm cuộc sống của con người phong phú hơn, có thể nói văn học nghệ thuật là “trò diễn” hữu ích đối với con người: “Không sa vào khuynh hướng giải trí tầm phào, rẻ tiền, bị “thương mại hóa” chi phối, văn nghệ giải trí lành mạnh, bổ ích và giàu chất trí tuệ vẫn tiếp tục xuất hiện. Nó khơi dậy, thắp sáng lên trong con người một nguồn lực trong trẻo, ham sống và yêu đời, nhìn thẳng vào sự thật, khắc phục các khó khăn và trở ngại, đấu tranh chống tiêu cực, cái xấu và cái ác”[4]. 
3. Tóm lại, ở thời kỳ đổi mới,  nghiên cứu về chức năng văn học,  một mặt các nhà nghiên cứu bổ sung, đào sâu, hiểu đúng hơn về nội hàm những chức năng đã được thừa nhận như chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ,  mặt khác vươn tới những nhận thức mới về nhiều phương diện của chức năng văn học nghệ thuật trong xã hội hiện đại như chức năng dự báo, giao tiếp, giải trí, khêu gợi tư tưởng, tình cảm, nâng đỡ nhân cách con người phát triển… Những tìm tòi mới về chức năng văn học của các nhà nghiên cứu lý luận thời đổi mới đã góp phần khẳng định rõ hơn tầm quan trọng của văn học đối với cuộc sống xã hội con người, đồng thời cho thấy “sự gắn bó giữa các chức năng làm cho văn học có sức tác động sâu xa, bền bỉ, có sức sống ,mãnh liệt, lâu dài trong đời sống của chúng ta” [5]. 
-----------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO
   [1]. Nhiều tác giả (1978), Văn học cuộc sống nhà văn, ( Hoàng Trinh chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,tr. 188.
  [2]. Phương Lựu (Chủ biên) (1997), Lý luận văn học (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.174, 175.
  [3]. Lê Ngọc Trà (2005), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, tr.27.

  [4]. Nguyễn Ngọc Thiện ( 2005), Phong cách và Đời văn, Nxb. Khoa học xã hội, tr.56.

 [5]. Trần Đình Sử ( Chủ biên), ( 2007), Giáo trình lý luận văn học, Bản chất và chức năng văn  học, Nxb. ĐH Sư Phạm, Hà Nội, tr.221.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}