Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Tái hiện nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật biểu diễn trong sử thi Bana

TS. Lê Thị Thùy Ly (Hà Nội) | Thứ Năm, 01/12/2016 09:12 GMT +7

Như một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần tộc người, nghệ thuật Ba Na - nghệ thuật của những cư dân vùng cao bình dị, chất phác, yêu cái đẹp - đã đi vào các sử thi (h’mon) của họ. Ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu hai mảng được h’mon đề cập đến nhiều nhất là nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật biểu diễn. Các h’mon mà chúng tôi trích dẫn nằm trong bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên, sản phẩm của Dự án cấp Nhà nước Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên (2001 - 2007), công bố bởi Nxb. Khoa học xã hội. 

Người Ba Na gọi sử thi là hơmon, hoặc hơmon hơri, tức là vừa hát vừa kể khi mọi người quây quần bên nhà rông. Ảnh:baodaknong.org.vn

Trước hết, về nghệ thuật tạo hình. Người Ba Na có đôi bàn tay rất khéo léo trong kiến trúc và điêu khắc. Nhà rông và nhà mồ là những công trình kiến trúc đáng chú ý hơn cả của họ. Để có những ngôi nhà rông vút cao tựa lưỡi rìu khổng lồ, những người dựng nên nó phải thật sự là những con người tài hoa, vì như người bản tộc cho biết, nó được làm một cách hoàn toàn thủ công và chủ yếu cũng chỉ dựa trên mỗi công cụ là chiếc rìu. H’mon đã nhiều lần ghi lại sự ra đời của những ngôi nhà rông đẹp đẽ - nơi mà “con chim phương nào cũng đến chui vào mái” - như vậy. Chẳng hạn, trong Giông leo mía thần, với một số nét phác họa, quá trình các nhân vật dựng một ngôi nhà rông đã hiện lên sinh động, từ việc kiếm vật liệu (gỗ, mây, tranh…), rồi đo đạc, dựng khung nhà đến lợp mái, tỉa vách. Không chỉ chú ý đến bản thân sản phẩm kiến trúc, người Ba Na còn chú ý đến mối tương quan giữa sản phẩm và không gian xung quanh nhằm tạo ấn tượng thị giác tối đa. Điều này thể hiện rõ nhất qua ngôi nhà mồ của họ. Nhà mồ vốn dĩ là loại kiến trúc không lớn vì các bộ phận đều có kích thước lấy từ chuẩn mực cơ thể của con người, nhưng sự phối hợp của các yếu tố phụ với nhau như tượng, cột trang trí (có cột lên tới 10 m), băng chạm khắc trên nóc, trên mái… lại tạo nên dáng vẻ hùng vĩ theo chiều bay lên của tổng thể kiến trúc(1). Vậy thì cần phải có một không gian đủ lớn cho việc quan sát, cảm nhận nó. Và, khi dựng nhà mồ trong mỗi dịp lễ bỏ mả, người ta đã có sự “chuẩn bị” không gian này: “Những cây cao che khuất nhà mồ được đốn chặt hoặc tỉa bớt các cành cho thoáng đãng, để thấy rõ ngôi nhà mồ cao sừng sững, khang trang. (…). Sẽ càng đẹp hơn nếu chúng ta đứng từ xa nhìn nhà mồ cao chót vót giữa bầu trời xanh” (Giông làm nhà mồ). Khiếu tạo hình của người Ba Na còn được bộc lộ qua những bức tượng gỗ và những nét vẽ trên tượng, nhất là tượng nhà mồ. Như ta biết, người Ba Na đã tạo nên cả một thế giới sinh vật bao gồm con người, các loại thú (hươu, nai, khỉ, chồn, sóc…), các loại chim (công, ó, cu, chèo bẻo…)… bằng gỗ quanh những ngôi nhà mồ, nơi linh hồn người chết ngụ một thời gian trước khi đi hẳn sang thế giới khác(2). Chúng xuất hiện với nhiều mục đích, trong đó có mục đích là tô điểm cho nhà mồ và lễ bỏ mả. Qua mô tả của Giông làm nhà mồ, có thể thấy các nhân vật trong tác phẩm đã tạo nên những bức tượng với các sắc thái, cử chỉ đa dạng: “Giông đẽo hình nàng Bia Phu (…) ủ rũ buồn, ngồi ôm mặt khóc bên quan tài, để mái tóc rủ xuống…”, “Các cô gái không nhịn được cười khi nhìn thấy tượng một chàng trai và một cô gái đứng ở hai bên cổng đang chỉ tay như chào mời khách vào. Ma Dong, Ma Wat đục đẽo khéo tay thật, đục đẽo người cười, người khóc y như thật. Muốn đẽo người thế nào Ma Dong, Ma Wat, Xem Đum, Xem Treng đều làm được cả, không sai sót một tí nào. Đẽo người đánh cồng chiêng rất giống người đánh cồng chiêng. Đẽo người múa soang cũng giống hệt người múa soang…”. Đặc biệt, dấu ấn tín ngưỡng phồn thực - tín ngưỡng quen thuộc của cư dân nông nghiệp, tôn vinh sự sinh sôi nảy nở - trong nghệ thuật điêu khắc Ba Na cũng được các h’mon lưu lại qua việc mô tả tượng người ở trần, tượng cặp nam nữ đang thực hiện hành vi tính giao… Chỉ bằng “con dao, chiếc rìu, với những nhát đẽo thô phác và chấm phá”, những nghệ sĩ vô danh đã tạo nên các biểu tượng độc đáo từ gỗ “phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của cư dân nơi núi rừng”(3), và đến lượt mình, h’mon - cũng chỉ bằng một số nét đặc tả - đã tái hiện được nhiều phần hơi thở của đời sống nghệ thuật tạo hình của tộc người.


Sau nữa, về nghệ thuật biểu diễn. H’mon cho thấy sinh hoạt ca múa nhạc rất phổ biến ở người Ba Na. Nếu với nghệ thuật tạo hình, không phải người Ba Na nào cũng có thể tham gia, thì dường như với nghệ thuật biểu diễn, tình hình khác hẳn. Đầu tiên phải nói tới các sinh hoạt ca múa nhạc trong “thời điểm mạnh” - lễ hội cộng đồng. Đây là thời điểm mà cảm xúc con người dễ thăng hoa: “Người biết hát thì hát, người biết nhảy múa thì nhảy múa. Một số người khác tụ tập nhau gõ chiêng, đánh trống. Tiếng cồng, tiếng chiêng vang lừng, tạo nên một bầu không khí vui tươi, phấn khởi…” (Anh em Glang Mam). Lễ hội cũng là dịp để người ta phô diễn tài năng nghệ thuật của mình trước dân làng: “Giông (…) say mê vỗ trống nhịp nhàng nghe rất dịu êm. Giông vừa vỗ tay vừa nhảy múa dẻo dai, mềm mỏng như chiếc lá lúa, uốn kiểu nào trông cũng đẹp, cũng hay. Giông uốn ngược thân hình chạm tới đất…”, “Giơ dẫn đầu mang theo chiếc cồng to nhất. Chàng đánh rất hay. Sau đó những người khác lần lượt thay, đó là Xem Đum, Xem Treng, Pha Pơ Nang, Rang Hơ Mơl…” (Giông làm nhà mồ), “Chàng (Glang Mam) bắt đầu múa trống, chân tay nhịp nhàng, lúc nhanh lúc chậm, thỉnh thoảng khua dưới đất rồi gõ trên mặt trống rất khéo léo khiến nhiều người xem phải nể phục” (Anh em Glang Mam)… Ngay cả những nhân vật thô vụng nhất của thế giới sử thi - như Jrai, Lao trong Giông làm nhà mồ - cũng hào hứng nhập cuộc chứ không e ngại. Nhưng tất nhiên, không phải các hoạt động nghệ thuật mang tính biểu diễn của người Ba Na chỉ tồn tại trong lễ hội hay đi liền cùng lễ hội(4). Bên ngoài “thời điểm mạnh” này, cuộc sống của họ cũng đầy ắp không khí văn nghệ. Qua sự sáng tạo không ngừng nghỉ của các thế hệ cư dân, kho vốn những lời ca, điệu nhạc gắn với sinh hoạt và tâm tư đời thường của người Ba Na đã không ngừng được bồi đắp theo dòng thời gian. Xin giới thiệu những lời lẽ mộc mạc mà duyên dáng sau trong một bài ca ở h’mon Cọp bắt cóc Giông thuở bé, được nhân vật cất lên cùng tiếng đàn ting ning với mong muốn làm lay động trái tim một người con gái: “Hỡi nàng Xem Yang mà anh yêu! Đêm nay là lúc anh đắm say về em. Cả vùng đều ngợi ca vẻ đẹp của em… Trên đời này có người nào là không biết đến tên em? Xem Yang hỡi, hãy mở giùm anh cánh cửa để anh vào buồng trò chuyện cùng! Hãy dậy đi em, sao lại ngủ say sưa đến thế? Em đã làm lụng mệt mỏi quá chăng? Tuy buồng em chật hẹp, đêm nay anh vẫn mong được trò chuyện bên em…


Xem Yang ơi, anh đã thương, đã ưng em từ rất lâu rồi! Anh từ vùng đất xa xôi đến đây, vượt qua bao rừng rậm núi sâu, lội qua bao sông suối, những mong được thấy gương mặt tươi thắm, được nghe giọng nói trong vắt của em. Xem Yang ơi, Xem Yang à, anh gọi em mãi, họng khô rát rồi! Hãy cho anh bầu nước mát lành uống cho đỡ khát…” (Cọp bắt cóc Giông thuở bé). Cây đàn ting ning của nhân vật này chính là “vật tùy thân” của thanh niên xưa mà các tác giả Fônclo Bâhnar đã từng nói tới(5). Nó là loại nhạc cụ dây được dùng độc tấu trong bối cảnh đời thường (như khi đi rẫy hay đi “ngủ bọn” ở nhà rông) và rất “đắc dụng” khi tâm tình với bạn gái.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật biểu diễn của người Ba Na được khắc họa trong sử thi. Có thể nói, những tác phẩm h’mon mà hôm nay chúng ta tiếp xúc đã ít nhiều cho thấy hình ảnh của những sinh hoạt nghệ thuật từng làm nên bản sắc văn hóa một thời ở người Ba Na. 

-----------------------------------

 (1). Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả (Pơthi) các dân tộc Bắc Tây Nguyên: Dân tộc Giarai - Bana, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, tr. 143.
(2). Tức thế giới âm phủ, được xem là nằm dưới mặt đất phía tây.
(3). Bùi Minh Đạo chủ biên (2006), Dân tộc Ba Na ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 240.
(4). Trừ múa (Xem: Bùi Minh Đạo chủ biên, sđd, tr. 232).
(5). Tô Ngọc Thanh chủ biên, Đặng Nghiêm Vạn, Phạm Hùng Thoan... (1988), Fônclo Bâhnar, Sở Văn hóa thông tin Gia Lai - Kon Tum xb., Pleiku, tr. 206.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}