Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Di sản:

 

Tầm quan trọng của việc phân định ranh giới hành chính đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa nhìn từ vụ việc của các di tích Hoành Sơn Quan và Hải Vân Quan (Bài 1)

Hải Nguyễn ( Sinh viên ĐH Luật Hà Nội) | Thứ Sáu, 17/02/2017 11:21 GMT +7

Phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính và thực hiện quản lý dân cư theo lãnh thổ là đặc trưng, là dấu hiệu cơ bản của các nhà nước xuất phát từ nhu cầu khách quan để thống nhất quản lý, thực hiện quyền lực nhà nước. 

1_3
 Hải Vân Quan (Nguồn: Internet)

Để công việc này được thực hiện một cách có hiệu quả trong thực tiễn thì việc phân định ranh giới rõ ràng giữa các cấp đơn vị hành chính phải được thực hiện triệt để và nghiêm chỉnh, dựa trên những đặc trưng cơ bản của các yếu tố về tự nhiên, lịch sử - văn hóa, kinh tế…ở mỗi địa phương. Những lần điều chỉnh địa giới hành chính kéo theo rất nhiều những thay đổi trong hoạt động chính trị, xã hội nói chung và trong cách thức quản lý của nhà nước nói riêng. Các yếu tố văn hóa cũng nằm trong “vùng tác động” trực tiếp của sự thay đổi kể trên. Nên việc quản lý, bảo tồn của nhà nước đối với các di tích, di sản văn hóa cũng vì thế mà thay đổi theo. Có thể nói, phân định địa giới hành chính có ảnh hưởng to lớn tới rất nhiều mặt của đời sống xã hội, địa hạt bài viết này chỉ xin lạm bàn về tác động của nó tới công tác bảo tồn di sản văn hóa qua hai vụ việc nhức nhối của hai di tích Hoành Sơn Quan và Hải Vân Quan.
Trước tiên, phải thống nhất một hệ quy chiếc cho giác độ bình luận của vấn đề rằng:  Sự phân chia đơn vị hành chính không thể là một quá trìnhchủ quan, duy ý chí hay mang tính áp đặt trực tiếp của cơ quan nhà nước mà chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố và buộc các nhà nước phải tính đến những đặc điểm này để phân định cho hợp lý, đó là: yếu tố địa lý - tự nhiên, yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố an ninh – quốc phòng, yếu tố truyền thống lịch sử văn hóa. Cụ thể: 
Yếu tố địa lý – tự nhiên: bao gồm các đặc trưng về đất đai, rừng, sông ngòi, kênh rạch, khí hậu, thảm thực vật… được lấy làm tiêu chí để phân vạch địa giới hành chính. Đặc trưng về điều kiện tự nhiên quyết định và chi phối đến đặc trưng của dân cư và kinh tế các tiểu vùng lãnh thổ. Vì vậy, muốn phân định rạch ròi ranh giới hành chính, trước hết phải dựa vào các yếu tố bản vị của địa lý.

Yếu tố kinh tế - xã hội: quá trình khai thác, canh tác, sản xuất lâu đời góp phần hình thành nên những đặc điểm kinh tế khác biệt giữa các đơn vị hành chính. Mỗi đơn vị lại sở hữu những tiềm năng, thế mạnh khác nhau phục vụ cho quá trình duy trì và phát triển nền kinh tế trên quy mô địa phương. Do đó, khi phân chia các đơn vị hành chính phải tính tới việc phát triển kinh tế, phát huy thế mạnh cũng như khắc phục những khó khăn của từng địa phương để có phương án hoạch định ranh giới phù hợp.
Yếu tố an ninh – quốc phòng: việc quản lý nhà nước, phát triển kinh tế luôn song hành cùng mục tiêu bảo đảm và giữ vững an ninh quốc phòng. Với vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều quốc gia trên bộ, trên biển; sở hữu những nguồn lợi phong phú về tài nguyên, khoáng sản… Việt Nam luôn là mục tiêu bị nhòm ngó và tranh chấp giữa các quốc gia cũng như các thế lực thù địch đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập hiện nay, khi mà vấn đề biên giới quốc gia và chủ quyền biển đảo trở nên bức thiết thì việc phân định địa giới hành chính cũng phải được tính toán một cách thận trọng. Việc phân định địa giới hợp lý sẽ góp phần tạo ra điều kiện thuận lợi cho các địa phương cùng chung tay góp sức bảo vệ vững chắc biên cương, bờ cõi.
Yếu tố lịch sử - văn hóa: yếu tố lịch sử, văn hóa được hình thành trong tiến trình quần tụ và phát triển của các cộng đồng dân cư. Nó giúp khu biệt và phân tách ranh giới văn hóa giữa các vùng miền, tạo nên sự đặc sắc và đa dạng của văn hóa các dân tộc anh em trong nền văn hóa chung. Chính vì thế, những bản sắc văn hóa góp phần cố kết và duy trì các cộng đồng dân tộc, làm nảy sinh các đặc trưng văn hóa giữa miền Nam – miền Bắc; giữa vùng xuôi – mạn ngược, giữa các làng xã, huyện, tỉnh thành với nhau…Nhà nước không thể phân chia lãnh thổ dựa trên quan điểm chủ quan mà không nhìn nhận đến truyền thống lịch sử, văn hóa; tập tục, tín ngưỡng và kết cấu của các cộng đồng dân tộc của mỗi vùng, miền.
Nhà nước với vai trò của mình, không chỉ tiến hành thống nhất quản lý quốc gia theo lãnh thổ phục vụ và bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn phải chăm lo đến đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần của các giai tầng trong xã hội. Đặc trưng này phản ánh bản chất giai cấp và bản chất xã hội của nhà nước. Đối với văn hóa thì việc quản lý văn hóa nói chung, quản lý bảo tồn đối với các di tích lịch sử - văn hóa nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần lưu giữ đồng thời phát huy mạnh mẽ các giá trị của các di sản, di tích trong thời đại mới, phục vụ trực tiếp cho công cuộc phát triển chung của đất nước. Với tinh thần đó, khoản 1, điều 9 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước...” Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động mà quá trình bảo tồn và quản lý đối với các di sản, di tích văn hóa gặp phải không ít những khó khăn mà một trong số đó đến từ sự “bất phân minh” giữa các địa giới hành chính.
Từ khi giành độc lập vào năm 1945, trên cơ sở những đơn vị hành chính từ thời phong kiến – thực dân, nước ta đã thực hiện những đợt điều chỉnh rất lớn về địa giới hành chính (đặc biệt là điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh) và quá trình này còn tiếp tục kéo dài cho đến ngày nay. Việc “tách, lập, nhập, chia” các tỉnh, thành diễn ra đặc biệt “sôi động” trong khoảng những thập kỷ 60 cho đến những năm cuối thế kỷ 20 với hàng loạt những thay đổi đối với các địa danh hành chính: Nghĩa Bình, Hải Hưng, Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hà Bắc, Vĩnh Phú … chính được hình thành và cũng bị xóa bỏ trong thời gian này. 
Những biến động về địa giới hành chính ấy đều là những thay đổi phù hợp với yêu cầu và mục đích quản lý của nước ta qua mỗi giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên cũng đã để lại nhiều “rắc rối” cho không ít các địa phương khi đến giờ vẫn đang vướng vào những vụ tranh chấp địa giới kéo dài suốt nhiều thập kỷ, tác động tiêu cực tới chính trị, kinh tế, xã hội… và văn hóa như đã nói cũng không nằm ngoài phạm vi chịu ảnh hưởng của những vụ tranh chấp này. Đặc biệt, là những vùng di sản, vùng di tích “chẳng may” “nằm giữa” địa giới tranh chấp thì đều chịu một “kết cục” bi đát. Hai di tích – thắng cảnh nổi tiếng Hải Vân Quan  (ráp gianh giữa Huế và Đà Nẵng), Hoành Sơn Quan (ráp gianh giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) chính là những ví dụ tiêu biểu.
Do yêu cầu của quá trình quản lý hành chính, nên ranh giới hành chính hay còn gọi là địa giới hành chính vốn không phải là một phạm trù bất biến mà thường tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định trước khi được điều chỉnh. Điều chỉnh địa giới hành chính là cụm từ dùng chung cho việc thành lập, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vị hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Trong những năm qua, nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật quy định về việc điều chỉnh địa giới hành chính như Hiến pháp 2013, Luật Đất đai 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Luật Quy hoạch đô thị 2015... Tuy nhiên cho đến nay quá trình thực thi các văn bản này được chưa quyết liệt, triệt để, dẫn đến việc tồn đọng nhiều các tranh chấp địa giới hành chính giữa các địa phương còn tồn đọng chưa thể giải quyết dứt điểm, gây ra rất nhiều bất cập và bức xúc.
Trong các văn bản pháp quy, không có định nghĩa về “Địa giới hành chính” mà định nghĩa cho khái niệm “Đường địa giới hành chính” và như vậy càng không có căn cứ để phân biệt hai khái niệm này nên gần như chúng được sử dụng đồng nhất với nhau trong thực tế. Vấn đề địa giới hành chính như xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước thuộc về thẩm quyền của Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp.
“Đường địa giới hành chính” được định nghĩa tại khoản 1, điều 3 thông tư 48/2014/TT-BTNMT: “…là đường ranh giới phân chia lãnh thổ các đơn vị hành chính theo phân cấp quản lý hành chính. Đường ĐGHC các cấp bao gồm: đường ĐGHC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là cấp tỉnh), đường ĐGHC huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là cấp huyện), đường ĐGHC xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là cấp xã). Đường ĐGHC các cấp được xác định trên cơ sở các mốc ĐGHC và các điểm đặc trưng trên thực địa”. Có thể thấy, đường địa giới hành chính được phân định giữa trên hai căn cứ là mốc đường địa giới hành chính và các điểm đặc trưng trên thực địa. Các đặc trưng này chính là núi non, sông ngòi, ao hồ, cửa biển, thảm thực vật… tại nơi cắm mốc giới. Do địa hình, địa vật núi liền núi, sông liền sông nên các đặc trưng kể trên phải có tiêu chuẩn và chỉ số kỹ thuật chính xác để phân chia. Những tranh chấp đường địa giới hành chính đều bắt đầu từ những “mập mờ”, những sự phân chia kiểu ước lượng, tương đối này mà ra.

Khoản 2 điều 128 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định về nguyên tắc khi điều chỉnh địa giới hành chính như sau: “Việc thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính chỉ thực hiện trong các trường hợp cần thiết…” và tại điểm d khoản này đã xác định việc điều chỉnh địa giới hành phải “Bảo đảm đoàn kết dân tộc, phù hợp với các yếu tố lịch sử, truyền thống, văn hóa của địa phương; tạo sự thuận tiện cho Nhân dân”. Như vậy, các quy định này vừa mang tính nguyên tắc định hướng, vừa mang tính chất là điều kiện pháp lý để xác định sự cần thiết khi xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp cùng với đó là xác định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữa việc điều chỉnh địa giới hành chính đối với việc bảo đảm phù hợp với các yếu tố lịch sử, văn hóa… Suy cho cùng, lịch sử, văn hóa mỗi vùng miền là những thành tố quan trọng kiến tạo nên bản sắc riêng cho mỗi địa phương, “ăn sâu bám rễ” vào tiềm thức của quần chúng nên những sự thay đổi, điều chỉnh của địa giới hành chính bắt buộc phải tính toán đến vấn đề này nhằm tránh những tranh chấp, xung đột; trong số đó bao hàm cả những tranh chấp, xung đột liên quan đến văn hóa.
Tuy nhiên, thực tiễn qúa trình thay đổi địa giới đã làm di dịch những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội tất yếu sẽ làm nảy sinh những mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bộ phận dân cư (đặc biệt là những bộ phận dân cư ở khu vực ráp gianh) từ đó dẫn đến sự tranh chấp địa giới giữa các cấp chính quyền quản lý. Thông thường, các chủ thể tranh chấp đều mong muốn giành lấy những quyền lợi về đất đai, địa giới cũng như “cái lý” cho mình. Dự liệu cho vấn đề này, Luật Đất đai 2013 đã xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp địa giới hành chính cấp tỉnh tại điểm a, khoản 4, điều 28 như sau: 
“Tranh chấp địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dân của các đơn vị hành chính đó cùng phối hợp giải quyết. Trường hợp không đạt được sự nhất trí về phân định địa giới hành chính hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:
a) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định”
Tham chiếu từ quy định trên, rõ ràng, pháp luật đã đề cao nguyên tắc tự định đoạt, trao quyền cho các cấp quản lý của đơn vị hành chính cùng phối hợp với nhau để giải quyết. Những vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai nói chung do giá trị về kinh tế và xã hội nên luôn là những “điểm nóng” trong công tác của ngành tư pháp. Những khiếu kiện kéo dài ảnh hưởng  không nhỏ đến đời sống cũng như quá trình quản lý nói chung, thậm chí đã gây ra rất nhiều những hệ lụy không mong muốn (sự cưỡng chế, phản kháng, chống đối…). Bởi vậy, phương pháp hòa giải luôn được tính đến như một phương pháp an toàn, nhanh chóng, nhất trí, tiết kiệm và đồng thuận. Vậy nhưng, như đã nói, xuất phát từ giá trị nội tại của đất đai mà gần như các quy định về hòa giải trong tranh chấp đất đai đều mang tính hình thức. Những tranh chấp đất đai , địa giới hành chính từ cấp xã cho đến cấp tỉnh luôn kéo dài tưởng chừng không có hồi kết. Những mâu thuẫn căng thẳng lên đến đỉnh điểm không thể hòa giải nếu nhà nước không quan tâm, sát sao và chỉ đạo một cách quyết liệt.
Theo “Bảng tổng hợp các điểm tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.” công bố trên cổng thông tin của Bộ Nội vụ, ghi rõ vùng tranh chấp giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng này nằm trên một diện tích rộng 764,79 ha nằm trên đèo Hải Vân án ngữ con đường thiên lý Bắc Năm thuộc địa phận huyện Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên Huế) và Quận Liên Chiểu (TP Đà Nẵng), cụ thể: “Tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý khu vực núi Hải Vân và hòn Sơn Chà. TP. Đà Nẵng quản lý tiểu khu rừng 11 nằm bên phía Nam sườn núi Hải Vân, vịnh Đà Nẵng” vụ việc này đã “trình Thủ tướng Chính phủ ngày 09/9/1996 và Thường vụ Bộ Chính trị đã họp với 2 tỉnh”. Tuy nhiên, từ đó đến nay, đã tròn 20 năm, vụ việc này vẫn chưa được giải quyết xong xuôi. 
Di tích Hải Vân Quan là một thành lũy được xây dựng từ đời nhà Trần vốn là ranh giới ngăn cách Đại Việt với vương quốc Chăm pa thời phong kiến. Đến triều Nguyễn, năm 1826, Vua Minh Mạng đã cho xây dựng lại Hải Vân Quan trở thành một căn cứ tiền tiêu trọng yếu thâu tóm hết một vùng rộng lớn quanh đèo Hải Vân, bảo vệ triều đình Nhà Nguyễn từ ngoài biển. Với cảnh quan được thiên nhiên ưu ái, Hải Vân Quan nằm trên đèo Hải Vân được xưng tụng là: “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” (do chính vua Lê Thánh Tông đề tặng). Địa danh này không chỉ có giá trị về mặt chính trị, quân sự mà mang một tiền năm du lịch to lớn.
Thế nhưng, do nằm đúng tại điểm phân chia ranh giới hành chính giữa Đà Nẵng và Huế nên di tích Hải Vân Quan rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc”, có nguy cơ trở thành phế tích. Các hạng mục công trình của di tích này như đồn bốt, hầm hào,... đều đã mục nát, cây cỏ mọc um tùm. 
Thực trạng hoang phế và bị xâm hại nghiêm trong tại đèo Hải Vân đã được rất nhiều cơ quan báo chí đưa tin. Hằng ngày ghi nhận hàng trăm lượt du khách đến tham quan Hải Vân quan, tuy nhiên lại không có cơ quan nào đứng ra quản lý. Không ít du khách thiếu ý thức viết vẽ bậy, xả rác… trong khu di tích. Thêm vào đó, những cửa hàng dịch vụ mọc lên “như nấm sau mưa” ăn theo các du khách của dân địa phương cũng góp phần không nhỏ vào việc “phá hoại” di tích ngàn năm này. ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên-Huế xác nhận trước đây tỉnh Thừa Thiên-Huế đã giao thị trấn Lăng Cô (huyện Phú Lộc) phối hợp với các đơn vị như thanh tra Sở Văn hóa, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế... để sắp xếp lại một số hàng quán trên đỉnh đèo: “Nhưng thực ra do sự tranh chấp giữa hai địa phương nên nhiều khi đuổi bên này thì (những người buôn bán) chạy qua bên kia, đuổi bên kia chạy qua bên này. Sự phối hợp của hai bên như vậy chưa đồng bộ nên sắp tới chúng tôi sẽ đề nghị hai bên có sự tích cực hơn của các lực lượng về văn hóa. Hôm trước tôi đã đăng ký với phía Đà Nẵng để làm sao đó mình làm sớm để đảm bảo được cảnh quan môi trường cho Hải Vân quan”. Có thể nói, những hành vi kể trên là vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản văn hóa. Khoản 2, điều 13 Luật này quy định một trong những hành vi bị nghiêm cấm: “hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa”… Tuy vậy, nhưng các cơ quan chức năng lại không thể xử lý một các vi phạm này – một nghịch lý chỉ xuất hiện tại những địa điểm tranh chấp như đèo Hải Vân.

 2_1
Di tích Hải Vân bị xâm phạm (Nguồn: Internet)


Tình trạng của Hải Vân chính do việc tranh chấp địa giới giữa Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng vẫn chưa ngã ngũ. Phần phía Bắc của di tích thuộc địa phận của Thị trấn Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế). Phần phía Nam lại chịu sự quản lý của phường Hòa Hiệp Bắc (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng). Căn cứ theo mốc địa giới thì 1/3 Hải Vân quan thuộc về Đà Nẵng, 2/3 còn lại gồm nhiều thành lũy lại nằm bên phía Huế. Việc nhập nhằng ranh giới này đang đẩy di tích trở nên hoang tàn vì không có đơn vị nào quản lý chính, mạnh bên nào bên đấy làm. Cũng vì ranh giới chưa phân định rõ ràng nên đến nay Hải Vân quan vẫn chưa được công nhận là Di tích Quốc gia. Rất nhiều các nhà đơn vị muốn tập trung đầu tư và khai thác địa danh này, tuy nhiên cũng gặp khó khăn trong vấn đề cấp phép bởi cả Huế và Đà Nẵng đều không có thẩm quyền toàn bộ đối với di tích này. 
Cùng chung “số phận” với Hải Vân Quan là một di tích vô cùng nổi tiếng khác Hoành Sơn Quan. Về vị trí địa lý và ý nghĩa lịch sử, hai di tích này gần như tương đương nhau do đều nằm ở vị trí hiểm địa, là nơi phân định cương vực giữa các triều đại phong kiến. Tuy nhiên, di tích nằm trên con đèo đã đi vào sách vở với bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan cũng chịu cảnh tương tự “cha chung không ai khóc” khi vấn đề địa giới hành chính giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình chưa được phân chia rạch ròi để tiến tới thống nhất một phương án quản lý chung. 

Tình trạng của Hải Vân chính do việc tranh chấp địa giới giữa Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng vẫn chưa ngã ngũ. Phần phía Bắc của di tích thuộc địa phận của Thị trấn Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế). Phần phía Nam lại chịu sự quản lý của phường Hòa Hiệp Bắc (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng). Căn cứ theo mốc địa giới thì 1/3 Hải Vân quan thuộc về Đà Nẵng, 2/3 còn lại gồm nhiều thành lũy lại nằm bên phía Huế. Việc nhập nhằng ranh giới này đang đẩy di tích trở nên hoang tàn vì không có đơn vị nào quản lý chính, mạnh bên nào bên đấy làm. Cũng vì ranh giới chưa phân định rõ ràng nên đến nay Hải Vân quan vẫn chưa được công nhận là Di tích Quốc gia. Rất nhiều các nhà đơn vị muốn tập trung đầu tư và khai thác địa danh này, tuy nhiên cũng gặp khó khăn trong vấn đề cấp phép bởi cả Huế và Đà Nẵng đều không có thẩm quyền toàn bộ đối với di tích này. 
Cùng chung “số phận” với Hải Vân Quan là một di tích vô cùng nổi tiếng khác Hoành Sơn Quan. Về vị trí địa lý và ý nghĩa lịch sử, hai di tích này gần như tương đương nhau do đều nằm ở vị trí hiểm địa, là nơi phân định cương vực giữa các triều đại phong kiến. Tuy nhiên, di tích nằm trên con đèo đã đi vào sách vở với bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan cũng chịu cảnh tương tự “cha chung không ai khóc” khi vấn đề địa giới hành chính giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình chưa được phân chia rạch ròi để tiến tới thống nhất một phương án quản lý chung.

 3

Hoành Sơn Quan được xây dựng dưới thời Minh Mạng năm 1833, hiện còn khá nguyên vẹn. Tấm biển “Hoành Sơn Quan” trên cổng vòm bằng đá hướng ra phía bắc. Nhiều đoàn khảo sát khu vực đỉnh núi xác định vẫn còn rất nhiều đoạn lũy cổ, khi nằm bên địa phận Quảng Bình, khi vắt qua tỉnh Hà Tĩnh. Đây được xác định là lũy Lâm Ấp, đắp khoảng thế kỷ 2 - 3.
Do không thống nhất trong quản lý, di tích Hoành Sơn Quan liên tục bị xâm phạm. Vài năm trước, người dân đã tự ý xây một cái miếu lớn nằm ngay sát di tích. Đơn vị chức năng của tỉnh Quảng Bình đã nhiều lần lập biên bản và quyết định cưỡng chế, đập bỏ, hiện còn phần nền móng và một cái am nhỏ. Tiếp theo là sáu ngôi mộ có dựng bia bằng tiếng Trung Quốc đắp ngay sát di tích, chính quyền Quảng Bình phải tổ chức phá bỏ... 

(Còn nữa)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}