Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Tết đầu tiên ở Trường Sơn

Ký của Nguyễn Thanh Hương | Chủ Nhật, 03/02/2019 23:10 GMT +7

Vanhien.vn - Còn 10 giờ đồng hồ nữa là đến giao thừa chuyển sang năm mới - năm Mậu Thân 1968. Đại đội thanh niên xung phong số 2 do tôi làm đại đội trưởng phụ trách đoạn đường 8 km, tiếp giáp với binh trạm 20. Ai cũng biết nhiệm vụ của thanh niên xung phong trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ 1955 - 1975 là vác lương, tải đạn, làm đường và bảo vệ đường giao thông.

Niềm vui từ quê nhà. Ảnh: Tư liệu.

Đặc biệt là những năm từ 1967 đến 1975, dọc tuyến đường Trường Sơn phần phía bắc từ Quảng Trị trở ra đến Thanh Hóa thì thanh niên xung phong làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông là nhiệm vụ số 1. Giai đoạn này, hầu như các tỉnh ở miền Bắc, tỉnh nào cũng thành lập các đại đội thanh niên xung phong để làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông tại địa phương mình và cho cả tiền tuyến.

Tết 1968, là cái tết đầu tiên chúng tôi xa quê hương miền Bắc. Đại đội 2 của tôi có 129 đồng chí, thì có đến gần 100 đồng chí là nữ giới, điều dễ hiểu là nam giới lúc này đi bộ đội hết. Xóm làng ở hậu phương miền Bắc chỉ còn đa số là trẻ em, người già, phụ nữ đã có gia đình.

Cũng như các đại đội thanh niên xung phong dọc tuyến đường Trường Sơn, Đại đội 2 phân công thường trực 24/24 giờ trong ngày để theo dõi máy bay Mỹ đến. Nếu đoạn đường nào bị hỏng do máy bay Mỹ thả bom, tổ trực ban kịp thời nổ 3 phát súng trường - đó là báo động khẩn cấp, dù mưa to, bão lớn toàn đại đội phải ra mặt đường vác đá, đổ đất san lấp nhanh để xe ta ra trận.

Vào đúng 19 giờ tối 30 Tết, máy bay Mỹ lại đến vãi bom. Bom nổ kéo dài, núi rừng rung chuyển, mặt đất chao đảo như đưa võng. Đợt bom kéo dài đến gần 60 phút rồi im hẳn. Nghe tiếng súng, tất cả gồng gánh, cuốc xẻng ra mặt đường. Hì hục đào bới. Vừa làm, chúng tôi vừa hát, theo đúng tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”. Đại đội 2 có đến hơn chục đồng chí có giọng hát hay. Như Đàm vừa đệm ghitar vừa hát, rồi Trung, Mỹ, Hải, Bình, Long. Nữ thì có Liên, Cúc, Hà, Mai, Thảo. Họ đồng thanh hát “Bước chân trên dải Trường Sơn”, tốp nữ hát bài “Cô gái mở đường”... làm xao động cả một khoảng đất trời mênh mông, cứ như nơi đây không hề có chiến tranh.

Sau đồng ca nam nữ, tốp nữ là đến đơn ca nam. Trần Đàm làm tôi nhớ mãi khi anh vừa đàn vừa hát bài “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”, sau lại đệm đàn cho Long hát “Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi”, rồi Cúc, Hải song ca nam nữ bài “Vàm Cỏ Đông”...

Lúc cần thiết, không có ai là người yếu, đòn gánh dẻo, bước chân các cô gái thanh niên xung phong càng dẻo, chỗ lấy đất đá dù xa đến 300 m... Tất cả vì con đường. Con đường mà ngày nào người Mỹ cũng ném hàng trăm lần bom bi, bom tấn. Khói bom tan, đường lại vang tiếng hát, tiếng cười của chúng tôi...

- Giao thừa rồi, giao thừa rồi các đồng chí ơi! - Tôi reo lên rồi nói - Tất cả trật tự, nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết 1968 đây này.

Chúng tôi lặng im. Ai cũng cố ghi những lời của Bác, để rồi bồi đắp cho mình niềm tin chiến thắng của dân tộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”.

Bác đọc thơ xong, cả rừng Trường Sơn như chuyển động bởi tiếng vỗ tay reo hò của toàn đại đội.

Chúng tôi đã đón giao thừa Xuân 68 ở Trường Sơn như thế đấy! Không trà, không kẹo, không thuốc lá thơm, chỉ có tiếng hát ngân vút lên, mồ hôi đổ xuống, để rồi, 2 giờ sáng mùng 1 Tết, mấy hố bom giặc ném trúng dưới lòng đường đã được san lấp, đầm lèn thật kỹ.

Mệt nhọc là vậy, nhưng khi trở về hầm chữ A, ai cũng vui vẻ, tất cả rủ nhau ra suối tắm, gọi là tẩy trần năm cũ để năm mới mọi sự được như ý.

5 giờ sáng ngày mùng 1 Tết, tôi đi kiểm tra các tiểu đội, nhắc nhở anh em ngủ lấy sức: - 11 giờ trưa chúng ta sẽ ăn tết, rồi lại sẵn sàng nếu chúng lại đến làm cho đường lại hỏng! Nhưng không ai ngủ được. Ở các tiểu đội nam giới, anh em rủ nhau đánh tú lơ khơ hoặc túm tụm nhau kể chuyện cười, nhưng bên các tiểu đội nữ, hầu như đồng chí nào cũng đỏ hoe đôi mắt. Họ khóc vì nhớ nhà, nhớ cha mẹ anh em ruột thịt.

Đại đội phó là Lê Thị Trâm, chị là người duy nhất không “mít ướt”. Chị đến từng hầm chữ A, mỗi hầm hai đồng chí, động viên chị em. Hầm số 1, chị nhắc Oanh, tiểu đội trưởng kiêm bí thư chi đoàn:

- Cậu dở hơi quá Oanh ạ, cán bộ mà lại khóc nhè, thèm bú tí mẹ lắm hả?

Oanh dấm dứt: - Chị cứ để em khóc cho nhẹ người. Em thương mẹ em quá, cứ mùa đông về là lại ho, ho muốn vỡ ngực, không có thuốc nào chữa nổi. Mong mùa hè đến thật nhanh, em chỉ sợ, sau 3 năm hết nghĩa vụ, trở về thì mẹ em... hu hu.

Trâm lại phải lựa lời an ủi. Đứng ngoài cửa hầm nghe hết, tôi cũng định vào an ủi Oanh mấy câu, nhưng rồi nghĩ lại, cứ để hai người tâm sự với nhau sẽ tốt hơn. Tôi quay về đám nam giới đang kể chuyện cười. Tiếng cậu Mạnh:

- Có một chị trồng 500 m2 cà chua. Cà chua sai trái nhưng hai tháng rồi mà không có trái nào chín. Một cô bạn thân nói “cậu đừng mặc quần áo trong hai đêm liền, lượn đi lượn lại trong ruộng cà chua, sáng thứ ba nó sẽ chín hết”. Chị này nghe theo, nhưng đến sáng thứ ba ra thăm ruộng, cà chua của chị vẫn xanh mà dưa leo (dưa chuột) ở ruộng bên cạnh của một anh hàng xóm lại to, dài ra như trái mướp trái bầu! Ha ha ha... tiếng cười vỡ ra.

***

Đại đội số 2 tập hợp lực lượng từ 18 xã trong cùng một huyện thuộc tỉnh Hà Tây. Tôi được huyện đội cử làm đại đội trưởng, Chị Trâm - Phó Chủ tịch huyện Hội Phụ nữ làm đại đội phó. Tổ chức đại đội Thanh niên xung phong không có chính trị viên. Cô Oanh, bí thư chi đoàn đại đội vốn là cán bộ tuyên huấn của Huyện ủy cử đi, trong số nữ có chị Trâm và Oanh chưa lập gia đình.

Tuy là người ở nhiều quê hợp lại, mấy ngày đầu còn bỡ ngỡ nhưng trước đạn bom của quân thù, chúng tôi đã xiết chặt đội ngũ, tất cả như anh em một nhà. Chia nhau từng hớp nước, mẩu lương khô, từng điếu thuốc lào cho vào điếu cày và ba, bốn người cùng kéo, mỗi người một hơi, thở khà khoan khoái.

Trưa mùng 1 Tết, rồi cả chiều hôm ấy, không có máy bay Mỹ đến. Rồi cả ngày mùng 2 cũng vậy. Chúng tôi thấy lạ, bởi từ khi vào Trường Sơn, không ngày nào là chúng không mò đến. Hai bữa ăn trong ngày mùng 1 cũng chỉ là cơm với ruốc cá, canh rau rừng nấu với mấy hộp thịt hộp mà trên cấp cho trước tết. Kẹo thì khiêm tốn, mỗi người được 5 chiếc Hải Châu. Thuốc lá mỗi tiểu đội nam giới hai gói bằng 40 điếu, 13 con người hút chung! Tiếc là thiếu pháo nổ và không có hoa, không có bánh chưng - một thứ không thể thiếu trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc.

Có một may mắn khi cậu Long, cậu Đàm tóm được một chú lợn rừng khoảng 60 kg, chú lợn bị mảnh bom của Mỹ đâm vào mông, vào lưng mất máu nằm chờ chết. Đúng lúc đó Long và Đàm cùng tiểu đội đi lấy rau rừng vào buổi trưa mùng 1. Bữa cơm chiều, cả đại đội gọi là được thêm chất tươi. Tiếc là không còn máu của nó để anh em ta chế tác tiết canh lợn rừng xem có khác lợn nhà không?

Tám tháng ở cùng anh em, tôi cũng vơi đi nỗi nhớ nhà. Nói dại, lỡ tôi hi sinh, còn có vợ, có con ở quê, nhưng anh chị em trong đại đội chưa ai có gia đình... Chiến tranh, không thể nói mạnh được. Trong đạn bom, đời người như tia chớp, gặp hôm nay biết có ngày mai. Thì đấy, tuần trước đã có chiến sĩ ở đại đội 1 tiếp giáp với đại đội tôi, rồi đại đội 5, tiếp giáp với đại đội 4 đã có 3 đồng chí hy sinh vì bom bi của Mỹ ném bừa bãi xuống mặt đường. Nhưng thôi, nghĩ lắm dễ sinh ra tiêu cực. Tổ quốc cần thì ai cũng phải biết hy sinh...

Lại là tôi. Tôi reo to. Bởi tôi được trên giao cho chiếc đài Ôriongtong khoác vai, có tin tức gì là thông báo cho đồng đội. Có chương trình ca nhạc thì lúc này đem đến cho tiểu đội 1 nghe, lúc khác tiểu đội 2, tiểu đội 3, rồi xoay vòng.

Tôi reo to, lúc 21 giờ đêm ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, khi Đài Tiếng nói Việt Nam đưa một tin thật chấn động “Tổng tấn công toàn miền Nam”. Đúng giờ G - giao thừa đón xuân 1968, lực lượng vũ trang giải phóng đã đồng loạt nổi dậy trên toàn bộ tỉnh, thành miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, biệt động thành đã tấn công Bộ tham mưu, Nha cảnh sát Đô Thành, Biệt khu Thủ đô, Đại sứ quán Mỹ. Quân giải phóng đã làm chủ trận địa trong nhiều giờ liền. Đây là đòn tiến công có tính chiến lược của quân dân miền Nam Việt Nam để chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tại Huế, Đà Nẵng và rất nhiều tỉnh lỵ, ta và địch giành nhau từng đường phố. Các trụ sở huyện, xã chính quyền Ngụy cơ sở tan rã, nhiều tên ác ôn nợ máu với nhân dân phải đền tội. Cờ giải phóng phấp phới bay trên nóc nhà các cơ quan công sở dân sự cũng như quân sự của Mỹ - Ngụy. Tôi tập hợp toàn đại đội lại phổ biến tin vui. Tất cả reo hò vang dậy. Bí thư chi đoàn Kim Oanh có ý kiến, tối mai mùng 3 Tết, ta tổ chức một chương trình văn nghệ, các đồng chí về chuẩn bị ngay. Nhưng đêm mùng 2 Tết ấy, từ gần 22 giờ đêm đến suốt sáng không ai ngủ được, tất cả bàn tán râm ran, thế thì ngày chiến thắng sẽ đến ngay thôi. Tôi nghĩ, thảo nào hai ngày tết, chúng không đến ném bom, mà theo lời các anh bộ đội công binh gỡ bom nổ chậm ở đường Trường Sơn, gần với đơn vị tôi, thì những năm trước, chúng đánh cả ngày tết.

Tối mùng 3 Tết, chúng tôi tụ tập ở bãi cỏ rộng cạnh hầm chỉ huy đại đội để hát mừng thắng lợi. Tốp nữ mở đầu bài “Cô gái mở đường”. Tất cả hơn trăm con người im lặng tuyệt đối. Tiếng guitar gỗ của Đàm không có tăng âm nhưng vẫn nghe rõ khi hòa với giọng nữ:

“Đi giữa trời khuya sao rơi lấp lánh

Tiếng hát ai vang vọng cây rừng

Phải chăng em cô gái mở đường

Không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát”...

Đúng vậy, đêm không thắp đèn, phòng tránh máy bay, nhưng người nghe tưởng tượng ra sắc mặt vui tươi, lòng tự hào của mỗi diễn viên không chuyên.

Đến những bài hành khúc dồn dập, hứng lên, cánh nam giới gõ xoong, nồi bát... cứ thế cho đến bình minh lên, cuộc vui mới dừng.

Sáng ngày mùng 4 chúng tôi ra mặt đường, kiểm tra xem, những hố bom nào cần lấy thêm đất, đầm lèn kỹ hơn. Tốt cả. Mọi người ra về, lòng rạo rực chờ tin thắng lợi. Tết đầu tiên của chúng tôi ở Trường Sơn là thế đấy.

***

Nhưng rồi, bom vẫn rơi, máu vẫn đổ, lửa vẫn cháy trên mặt đường Trường Sơn. Chúng tôi vẫn sát cánh bên nhau cho đến hết tháng 5 năm 1970. Xong nghĩa vụ 3 năm, đơn vị chia tay ra về để lại bao kỷ niệm vui buồn. Vui vì mình góp phần bảo vệ an toàn mạch máu giao thông suốt ba năm. Buồn vì đại đội 2 có 3 đồng chí hy sinh vào đầu năm 1970, đó là Oanh, Trâm và cậu Mạnh. Tôi nhớ kỹ cả 129 gương mặt đồng đội với những tâm tính khác nhau, nhưng tất cả, họ đều chung một lòng dũng cảm, một ý chí sắt đá, không sợ gian khổ hi sinh.

Về quê, tôi vẫn làm việc ở huyện đội, phụ trách tuyển quân nên tôi biết trong số lính mới nhập ngũ cuối năm 1972, lại có 9 đồng đội của tôi là Đàm, Long, Tuấn, Hải, Cường, Minh, Ngọc, Thái, Quân. Sau năm 1975 chỉ có Hải, Đàm, Long trở về. Ôi, chiến tranh là vậy.

Tuổi trẻ chúng tôi trong kháng chiến đã có bao người để lại mùa xuân của mình ở mặt trận, để cho Tổ quốc vạn xuân, để cho chúng ta và con cháu mai sau muôn đời bình an.

Sau năm 1975, tôi được điều tăng cường công tác tại Thành đội Đà Lạt. Thoắt đấy mà đã gần 50 năm, nhưng 129 gương mặt đồng đội vẫn như đang đứng trước mặt tôi chờ hiệu lệnh để tất cả: Ra mặt đường, vì miền Nam thân yêu, quyết mở đường thắng lợi!

Nguồn: Báo Lâm Đồng

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}