Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Thanh Hoá: Dân ca Đông Anh và niềm vui nghệ nhân “giữ lửa”

Thu Trang | Thứ Sáu, 30/08/2019 15:45 GMT +7

Ngày 8/3/2019, Chủ tịch nước đã kí quyết định phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Nghệ nhân ưu tú”cho các cá nhân có cống hiến xuất sắc trong việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, tỉnh Thanh Hóa vinh dự khi có 22 nghệ nhân. Trong đó, riêng nghệ thuật trình diễn dân gian dân ca dân vũ Đông Anh (Đông Sơn) có 7 nghệ nhân. Đó thực sự là món quà xứng đáng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ của các nghệ nhân trong việc gìn giữ, khôi phục giá trị di sản văn hóa của cha ông.


Dân ca Đông Anh - di sản văn hóa cư dân nông nghiệp xứ Thanh

 

Nếu lựa chọn một hình thức diễn xướng dân gian đặc trưng phản ánh đời sống sinh hoạt, văn hoá, kinh nghiệm sản xuất... của người dân làm nông nghiệp Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng từ xa xưa thì có lẽ nào lại không nhắc đến dân ca Đông Anh: “Tay cầm nắm trấu tung ra/ Trấu nát ra tro, thịt nát ra giò, đậu nát ra tương...”. Đây chỉ là một trong rất nhiều câu ca đầy chất thơ, chất nhạc thuộc hệ thống di sản văn hóa phi vật thể dân ca Đông Anh.

Di sản văn hóa dân ca dân vũ Đông Anh được khôi phục và trao truyền cho thế hệ trẻ.

Tôi tìm về làng Viên Khê xưa nay là xã Đông Anh (Đông Sơn), quê hương của dân ca Đông Anh nổi tiếng. Không còn cây đa, giếng nước sân đình - hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt truyền thống xưa, thấy lòng mình có chút thoáng buồn. Tuy vậy, người bạn đồng hành thì lại nhìn mọi thứ dường như tích cực hơn khi cho rằng “cũng may, dân ca Đông Anh đến nay gần như đã được khôi phục khá đầy đủ với hệ thống 12 trò diễn”, bao gồm: Múa đèn; Tiên cuội; Tô vũ; Trống mõ; Thiếp; Vằn vương (Hùm); Thủy (thủy phường); Leo dây; Xiêm Thành (Chiêm Thành); Hoa Lan; Tú Huần; Ngô Quốc. Bên cạnh đó còn một số trò như Đại thánh; Nữ quan...

Để hiểu về di sản dân ca Đông Anh có lẽ phải bắt đầu từ tên gọi đầy đủ là dân ca dân vũ Đông Anh hay Ngũ trò Viên Khê. Đây là hệ thống trò diễn xướng đi kèm các bài dân ca, điệu múa, động tác phản ánh đời sống sinh hoạt, tâm tư tình cảm, kinh nghiệm sản xuất, văn hóa ứng xử... của người nông dân Việt Nam xưa kia. Với ý nghĩa ấy, dễ hiểu vì sao di sản diễn xướng văn hóa xứ Thanh lại gần gũi và quen thuộc với hầu hết người dân. Đương nhiên, sự ra đời và hoàn chỉnh của hệ thống các trò diễn trong dân ca dân vũ Đông Anh không phải câu chuyện của ngày một ngày hai. Đó hẳn là sự chắt chiu, góp nhặt, trao truyền những tinh túy cùng sáng tạo nghệ thuật của cha ông xưa.

Nói về nguồn gốc ra đời của dân ca dân vũ Đông Anh, đến nay ngay tại địa phương vẫn tồn tại hai luồng ý kiến. Một ý kiến cho rằng nó có nguồn gốc từ thời Bắc thuộc (nhà Tùy) do chàng Cả Đại vương, con trai của thủ lĩnh Lê Ngọc (khởi nghĩa Lê Ngọc) sáng tạo và truyền lại cho dân chúng. Nhưng một ý kiến khác, nhìn dưới góc độ Ngũ trò Viên Khê, đây có thể là lễ nhạc của vương triều Hậu Lê, do các vị quan Trịnh Quý Thuật và Nguyễn Mộng Tuân truyền lại cho dân chúng. Trong đó, Trịnh Quý Thuật vốn người làng Xuân Phả, còn Nguyễn Mộng Tuân lại người gốc Viên Khê.

Cũng như nhiều di sản văn hóa dân gian, dù có nguồn gốc ra đời từ rất sớm song dân ca dân vũ Đông Anh cũng không tránh khỏi những thăng trầm, đứt đoạn và dần bị quên lãng trong đời sống người dân một thời gian khá dài. Và năm 2002 đánh dấu mốc thời gian quan trọng của việc khôi phục di sản với dự án do Viện Âm nhạc Việt Nam chủ trì, cùng phối hợp với nhân dân Đông Anh. Sau gần 10 năm sưu tầm, nghiên cứu các trò diễn đã cơ bản được khôi phục khá đầy đủ. Đặc biệt, để thế hệ trẻ hiểu, yêu mến và gìn giữ phát huy giá trị di sản thì các trò diễn còn được địa phương phổ cập đưa vào các trường học. Theo đó, tất cả các em học sinh trong lứa tuổi từ lớp 3 đến lớp 9 đều được các nghệ nhân trong làng trực tiếp truyền dạy bằng việc lồng ghép vào chương trình ngoại khóa. Cùng với đó, các CLB cũng được thành lập ở mỗi thôn để việc hoạt động được diễn ra đều đặn, thường xuyên.

Miệt mài chuyện nghệ nhân “giữ lửa”

Để việc khôi phục di sản dân ca dân vũ Đông Anh đạt được kết quả, cùng với những cơ chế, chính sách hỗ trợ thì sự đóng góp công sức, tư liệu của các “nghệ nhân” là người địa phương thực sự đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tôi nhớ, trong số rất nhiều cá nhân có đóng góp quan trọng cho việc khôi phục nghệ thuật trình diễn dân ca dân vũ Đông Anh thì cụ ông Nguyễn Sỹ Lịch là người đầu tiên tôi tìm gặp.

Vợ chồng nghệ nhân dân gian Nguyễn Sỹ Lịch - Lê Thị Nghi.

 

So với lần gặp gỡ hơn 3 năm về trước, ở thời điểm hiện tại ông đã 85 tuổi, sức khỏe giảm sút song sự minh mẫn trong những câu chuyện kể về ký ức cũng như việc khôi phục các tích trò thì dường như không thay đổi. Ông kể: “năm 1946 là lần cuối cùng tổng diễn dân ca dân vũ Đông Anh tại quê hương Viên Khê. Cứ 3 năm một lần, việc tổng diễn lại được tổ chức ở đình làng thu hút rất đông người dân tham gia. Khi ấy, chúng tôi chỉ là những cô bé, cậu bé tuổi mới lên 10 nên vô cùng háo hức khi được chứng kiến các tiết mục, trò diễn. Song cũng từ năm 1946, đến năm 2002, chưa lần nào dân ca dân vũ Đông Anh được tổ chức biểu diễn. Điều đó khiến cho nó dần bị quên lãng trong đời sống nhân dân”. Có lẽ là một sự may mắn tình cờ khi ông Nguyễn Sỹ Lịch lại lấy con gái của một “cái trò” là bà Lê Thị Nghi. Chính sự tình cờ này khiến trong cuộc sống sau này, ông được bố vợ mình là “cái trò” có tiếng thường xuyên giảng giải, kể lại về nghệ thuật trình diễn dân ca dân vũ Đông Anh.

Tưởng chừng đó chỉ là câu chuyện lúc “trà dư tửu hậu” song nó lại góp phần quan trọng vào việc đóng góp tư liệu cho việc khôi phục di sản văn hóa của địa phương năm 2002. Và lẽ dĩ nhiên, việc đóng góp sao có thể không kể đến người vợ của ông - con gái của “cái trò” ngày nào. Ở thời điểm hiện tại, cụ bà dù không thể di chuyển đi lại trên đôi chân của mình, song nhìn ánh mắt ông bà trao đổi với nhau khi kể chuyện về các trò diễn dân ca dân vũ Đông Anh thì tôi biết, họ thực sự đã dành rất nhiều tâm huyết.

Chia sẻ về những khó khăn trong ngày đầu khôi phục trò diễn, nghệ nhân Nguyễn Sỹ Lịch cho biết: “khó khăn ở tất cả các khâu. Từ con người, lứa tuổi, trang phục, tìm kiếm tư liệu... vì không có bất cứ một tư liệu văn bản nào được lưu giữ. Chỉ bằng trí nhớ thì việc sưu tầm các bài ca, điệu múa, động tác hình thể đến trang phục cho từng tích trò quả thực vô cùng gian nan. Bởi vậy, dù đã rất cố gắng song sự chính xác cũng chỉ có thể khẳng định tương đối...”. Cùng với đó, người nghệ nhân già cũng trải lòng đầy trăn trở: xưa kia song hành tồn tại với di sản văn hóa phi vật thể dân ca Đông Anh là hệ thống đền, chùa, đình làng. Trong đó, việc biểu diễn được diễn ra ngay tại đình làng - không gian văn hóa truyền thống. Đến nay, đình làng không còn, nhìn dưới góc độ văn hóa thì chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ đến ý nghĩa, giá trị của các trò diễn. Vì vậy, việc phục dựng một “không gian văn hóa truyền thống” thực sự là mong mỏi của người dân Viên Khê hôm nay.

Cùng với vợ chồng nghệ nhân Nguyễn Sỹ Lịch, cụ bà Nguyễn Thị Cốc (83 tuổi) cũng là người có nhiều đóng góp cho việc khôi phục dân ca dân vũ Đông Anh. Bà Cốc kể chuyện đầy minh mẫn: “sau lần tổng diễn cuối cùng tại địa phương. Năm 1951 bà được lựa chọn vào đội hình tập luyện để đi biểu diễn, đến năm 1952 bà theo đoàn đi biểu diễn dân ca dân vũ Đông Anh ở Hà Bắc rồi về Hà Nội...”. Theo bà, trong hệ thống trò diễn của dân ca dân vũ Đông Anh thì tổ khúc múa đèn đóng vai trò vô cùng quan trọng, nên được lựa chọn biểu diễn thường xuyên. Múa đèn bao gồm nhiều bài phản ánh chu trình sản xuất theo mùa vụ nông nghiệp xưa: thắp đèn; luống bông, luống đậu; vãi mạ; chẻ lạt đan lừ; nhổ mạ; đi cấy; kéo sợi; dệt cửi; vá may... Đó là những cô gái lứa tuổi đôi tám, chưa chồng, trên đầu đội đèn cùng với những động tác cơ thể múa hát uyển chuyển (nằm, ngồi...) song không được để đèn đổ hay rơi xuống. Vì thế yêu cầu về kĩ thuật là rất khó.

Sự nỗ lực và đóng góp cho việc khôi phục, gìn giữ giá trị văn hóa cha ông trao truyền của những người “giữ lửa” nghệ thuật truyền thống như vợ chồng ông Nguyễn Sỹ Lịch - Lê Thị Nghi; bà Nguyễn Thị Cốc... thực sự vô cùng quý giá. Chính vì vậy, trong đợt xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước vừa qua, 7 nghệ nhân của xã Đông Anh đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý (dù 2 trong số 7 người đã trở thành cố nghệ nhân). Với người yêu mến và trân trọng giá trị văn hóa truyền thống, thiết nghĩ đó cũng là món quà xứng đáng dành cho người nghệ nhân dân gian.

 

Nguồn: vanhoadoisong.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}