Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Thanh Hoá: Hành trình khôi phục giếng làng (Bài cuối) - Giếng làng dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu văn hóa

Hoàng Việt Anh | Thứ Sáu, 20/12/2019 10:49 GMT +7

Chưa có một thống kê chính xác trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa còn bao nhiêu giếng làng. Tuy nhiên, dù còn hay đã mất thì giếng làng luôn chứa đựng giá trị văn hóa, lịch sử ở trong đó. Và để hiểu rõ hơn giá trị cũng như công tác bảo tồn, khôi phục giếng làng, phóng viên (PV) báo VH&ĐS đã có dịp trò chuyện với các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử về vấn đề này.


Giếng làng Nghi Vịnh, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa).

 

Còn làng là còn giếng

(Ông Lê Bá Tuyển - Tổng thư ký Hội Di sản Văn hóa và Cổ vật Thanh Hoa)

- PV: Thưa ông, hình ảnh cây đa - giếng nước - sân đình từ lâu đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mỗi người dân Việt Nam. Trong đó, giếng làng được xem như trái tim của làng. Ông muốn nói gì thêm về điều này?

- Ông Lê Bá Tuyển: Trong tiếng Hán, chữ giếng là “Tỉnh” (Tỉnh thần). Tỉnh thần có nghĩa là thần giếng. Sở dĩ gọi là tỉnh thần vì điều quan trọng nhất đó là giếng nuôi sống con người. Ngày xưa, cả làng chỉ có một cái giếng thậm chí nhiều làng chung nhau một cái giếng. Làng nào giàu thì xung quanh giếng kè bằng đá, làng nghèo thì chỉ đào đất thôi. Nhà giàu thì gánh nước bằng nồi đồng điếu, nhà nghèo thì gánh nước bằng nồi đất. Về sau thì mới dùng đến thùng sắt tây... Và ngoài chức năng phục vụ nước sinh hoạt thì giếng làng xưa còn là nơi hẹn hò của các cặp trai gái, là nơi để các cô gái soi gương và để chứng tỏ nữ công gia chánh khi biết gánh nước về nhà chồng...

- PV: Thực tế, hiện nay nhiều giếng làng đã bị lấp và cũng để rõ ràng nhận thấy một điều đó là khi xã hội phát triển, hồn giếng bớt gánh đi chức năng hồn làng rất nhiều bởi đã bị công nghiệp hóa?

- Ông Lê Bá Tuyển: Đúng như vậy. Theo tôi, sở dĩ còn giếng vì trong làng còn những cụ cao niên, đó là những nhân chứng sống của làng, họ quyết giữ giếng mà không cho lấp hoặc ở trong làng vẫn còn những người có tình với giếng. Còn làng là còn giếng. Tuy nhiên, thời thế, thế thời, kỷ niệm về giếng làng không bằng cơ chế thị trường, không bằng phá bỏ để cho thuê, chính vì vậy mà nhiều giếng làng đã bị lấp bỏ. Nếu để ý, những người có tâm, khi giếng khơi ở trong nhà họ không dùng đến nữa họ sẽ đậy nắp và có một cái lỗ để thông, nhưng giếng làng to thì làm sao có nắp để đậy...

- PV: Còn làng là còn giếng như vậy đồng nghĩa với việc khôi phục giếng làng là cần thiết?

- Ông Lê Bá Tuyển: Khôi phục không phải mục đích lấy nước mà phải xác định rõ khôi phục vì giếng là hồn làng. Giếng làng phải tiếp tục gánh một phần hồn làng. Dù sao cũng phải trả lại giếng làng cho tỉnh thần. Do đó, khôi phục chỗ khác không có giá trị mà phải được khởi lập đúng vị trí cũ vì đấy là huyệt đạo...

Bảo tồn, khôi phục, gìn giữ giếng làng là hết sức quan trọng

(Ông Phạm Văn Tuấn - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa tỉnh)

- PV: Theo quan điểm của ông thì việc bảo tồn, khôi phục giếng làng trong thời hiện đại có còn giá trị?

- Ông Phạm Văn Tuấn: Tôi nghĩ thế này, tất cả những cái mà ông cha ta sáng tạo ra đấy là văn hóa. Văn hóa ấy hết sức có giá trị và cần được bảo tồn. Giếng làng là một công trình văn hóa của làng, là một thiết chế văn hóa làng, nó còn là một địa danh văn hóa nên nói về địa danh thì bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc, gắn liền với tư tưởng, tình cảm của người trong làng. Vì vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ giếng làng trong đời sống văn hóa tinh thần của các làng quê Thanh Hóa nói riêng và làng quê Việt nói chung là hết sức quan trọng. Hãy coi giếng làng như một di tích văn hóa của làng.

- PV: Ông đã đến nhiều miền quê xứ Thanh và ông cảm nhận thế nào về sự khôi phục giếng làng ở những nơi ông đã đi qua, liệu những chiếc giếng đã được khôi phục có làm mất đi những nét xưa?

- Ông Phạm Văn Tuấn: Giếng xưa có 2 loại đó là giếng đá và giếng gạch. Giếng xưa bao giờ cũng có miếu thờ thủy thần vì nó còn liên quan đến thần linh chứ không phải chỉ có giếng không đâu. Giếng xưa còn làm hoa văn ở thành, ở nền. Nhưng hiện nay ở nhiều địa phương do giếng làng chỉ còn dấu vết hơn nữa khi xây không có hướng dẫn của chuyên môn nên cứ xây tự phát, có những chiếc giếng được mở rộng rất to. Theo tôi, nếu khôi phục để đảm bảo giống các cụ ngày xưa thì cần có mẫu giếng.

Khẳng định rằng, làng quê thay đổi đến không ngờ. Bước chân vào từng làng, ngõ xóm, chúng ta không còn bắt gặp cây gạo già vẫn tư lự như một người ít nói, chỉ thấy gốc gạo đã mục nát và nham nhở. Cuộc sống đã sung túc hơn, nhà nào cũng  dùng nước giếng khoan, nước máy. Chỉ cách đây vài ba chục năm, tiếng thả gàu xuống con giếng mỗi đêm như tiếng trẻ con nhảy ùm ùm. Đã lâu rồi cái gàu không được “tắm mát”, còn cái giếng cũng chẳng được gàu “hỏi thăm” để cái giếng làng “cười” chóe lên tung tóe nước. Tôi nhớ đến câu ca thuở nào: "Giếng làng ta vừa trong vừa mát/ Đường làng ta gạch lát dễ đi”...

Giếng làng - biểu trưng cho nguồn sống, sinh khí tốt lành đã và đang được người dân nhiều địa phương gìn giữ, khôi phục nét văn hóa làng xưa, nhắc nhở các thế hệ mai sau luôn nhớ về cội nguồn - nơi có cây đa, giếng nước, sân đình.

Giếng làng, hồn làng còn đó, mà cũng rất xa xôi...

Nguồn: vanhoadoisong.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}