Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Thấp thoáng bóng thời gian (Truyện ngắn)

Nguyễn Công Hảo (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh) | Thứ Ba, 25/10/2016 10:09 GMT +7

Hồi còn công tác tôi rất ghét ngồi ở những quán nước nhom nhem, người ở phố thường gọi là quán cóc, chủ yếu là quán bán nước trà vài lọ kẹo; xưa là kẹo vừng, kẹo lạc, nay thì khá hơn “bon bon”, “cao su”. Khá nữa là còn bày đủ cả hoa quả bánh trái, quả ổi, quả hồng, lọ ô mai, bánh gai, bánh gỏi. Khoái nhất là chiếc điếu cày và bát nước chè xanh nóng hổi. Những quán này thường dành cho mấy anh xe ôm, ông tài taxi và không thể thiếu được là những ông rỗi việc ra tụ tập bàn việc phố cả quốc gia đại sự nữa. Ở đấy hóa ra biết được nhiều chuyện, từ đông tây kim cổ đến thời sự nóng hổi có hết, rõ hơn cả xem ti vi ở nhà.
Nghỉ hưu, tôi mới mua nhà ở khu phố này. Cũng là anh rỗi việc thành ra lại quen ngồi ở những quán nước nhom nhem như vậy. Đi đâu xa về là chỉ thèm được rủ mấy ông cùng phố rỗi việc sà vào ngồi ở những chỗ ấy. Ngồi vạ vật bên những người quen có, lạ có nhưng thân thiết ngay sau một tuần trà, một hơi thuốc lào. Ngồi để nghe những chuyện vụn vặt, nói với nhau những chuyện vụn vặt. Cao hứng lên là chuyện làng, chuyện phố, chuyện quốc gia đại sự. Phố tôi cũng có đôi cái quán cóc; đầu phố của bà Lành, vốn là một giáo viên dạy văn học đã về hưu. Cuối phố là của ông Kim bộ đội mất sức. Tôi thích ngồi ở quán bà Lành, những lúc vắng khách chuyện trò với bà cụ suốt ngày không chán, bà có cả một kho chuyện dân gian, ca dao tục ngữ, giáo viên văn học mà lại. Lâu dần thành quen, dịp nào thấy tôi vắng mặt bà thường hỏi mấy ông bạn cùng ngõ phố: “Ông Cao về quê hay bị ốm mà tuần nay thấy vắng mặt”.
Đi đâu lâu ngày về đến nhà là tôi lại ra ngay quán bà Lành gọi một bát nước chè xanh cho bà vui lòng, lại được nghe bà trách:
- Rõ chán chửa, đi đâu mà mất hút con mẹ hàng lươn thế?
Tôi vẫn cứ đủng đỉnh, đăm đăm ngắm nhìn mái đầu bạc của bà, làn tóc mai phất phơ trong gió lạnh cuối năm. Hôm nay cũng vậy, vừa về quê sửa lại mấy gian nhà thờ tổ. Sáng nay tôi lại ra quán bà Lành. Tôi bưng bát nước nóng hôi hổi trong tay, vẫn đủng đỉnh ngắm mái tóc bạc của bà ái ngại cho tấm thân già nua hiu quạnh mà chẳng mấy thời gian nữa tôi cũng như bà. Không như mọi khi với câu điệp khúc “Rõ chán chửa” rồi hàng loạt câu ca dao, tục ngữ bà vẫn giảng giải cho tôi và mọi người cùng nghe. Hôm nay bà nói với tôi như có lời tâm sự trong lòng:
- Ông Cao này, con người ta mỗi người một phúc phận, chẳng nên so đo mà cũng chẳng biết thế nào là sướng, là khổ, cũng chả dám chắc là công hay là tội, nhiều khi tưởng là công hay lại là tội, tưởng vinh mà thành nhục có phải không ông?
Thật đúng là vô tâm, hơn một năm về hưu dễ đến trăm lần vào ngồi quán của bà, chỉ sơ sơ biết bà là nhà giáo về hưu hiện ở một mình, chồng mất sớm, hai đứa con đang ở nước ngoài cùng vợ con, bán hàng ở Tiệp Khắc, kinh tế bà không thiếu nhưng bà bảo mở quán bán nước cho đỡ hiu quạnh, còn có người để tâm sự.
- Dạ! Cuộc đời thường lắm đa đoan bà còn lạ gì?
- Có lẽ tôi phải về quê để sống nốt những ngày còn lại…
Tôi thấy đột ngột và có phần sững sờ khi nghe bà nói.
- Tôi biết bà mở quán cho vui cảnh già, chứ còn kinh tế bà thiếu gì, ngoài lương hưu, hàng tháng các anh đều gửi tiền đều đặn chu cấp cho cuộc sống của bà cơ mà?
- Giờ khác rồi ông ạ! Cả hai thằng ở nước ngoài chúng nó bàn nhau đưa tôi sang để chúng có điều kiện phụng dưỡng tuổi già. Tôi nhất quyết không nghe, bằng này tuổi rồi, sang đất khách quê người liệu có còn nắm xương để gửi về quê hương hay…
- Chẳng biết góp ý với bà thế nào. Thôi tùy bà định đoạt, “trẻ cậy cha, già cậy con” bà từng giảng giải mãi câu này cho chúng tôi đấy thôi. 
Tôi buột miệng nói để an ủi bà và chợt nghĩ “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” biết làm sao được. Bà Lành thở dài:
- Cũng chẳng định đoạt được đâu ông Cao ạ, chúng nó đã bán ngôi nhà này cho mấy ông ở Hàn Quốc đang làm doanh nghiệp ở ngoại ô thành phố rồi. Thôi ngày mai tôi chia tay ông tôi về quê tôi sống, còn có tổ tông chứ bỏ nắm xương tàn bên đất khách quê người, tôi thấy mủi lòng quá ông ạ!
Thế là phải chia tay bà Lành, thật là tiếc, không phải là tôi tiếc được buôn chuyện bên những chén trà ở quán bà lúc rảnh rỗi mà tiếc là đã mất đi một kho từ điển bách khoa mỗi khi quán vắng khách bà từng mang những câu chuyện dân gian, ca dao, tục ngữ bàn luận với tôi. Nói vậy chứ, lúc còn công tác mải mê công việc, có mấy khi để ý đến văn hóa tinh thần. Mấy năm nay được bà Lành giảng giải tôi vỡ ra nhiều điều, thật đúng như một Giáo sư nào đó đã từng có chính kiến: “Người đời nay và mai sau có thể qua tục ngữ, ca dao mà tái hiện được đời sống tinh thần của nhân dân trong quá khứ”. Khổ nỗi xã hội hiện nay chỉ vì “lợi ích cá nhân” mải chạy theo đồng tiền để đến nỗi nhiều gia đình phải ly tán khác gì câu chuyện dân gian bà Lành từng kể cho tôi nghe về “Hòn đá vọng phu”. Có lẽ là Lành cũng là một hòn đá vọng phu già khác với hòn đá vợ chờ chồng là ở chỗ người mẹ già bao năm khắc khoải mong những đứa con mình sống tha hương cầu thực mãi chẳng thấy về. Nay có về, nhưng thật nghịch cảnh lại đào “hòn đá vọng phu già” đem theo. Thôi thì đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu. Hai đứa con bà Lành thế còn cũng tốt chán. Khổ nỗi, hai thế hệ ít khi cùng một quan điểm, cách xử lý của bà Lành cũng là một cách. Tôi tin vào cách xử lý của bà vì bà từng am hiểu chân tơ, kẽ tóc của tục ngữ, ca dao và tự an ủi bà trong suy nghĩ “sông có khúc, người có lúc…”
Bẵng đi mấy tuần tôi chợt nhớ ra mình thật vô tâm. Bà Lành làm gì có quê mà bà bảo về quê để có tổ có tông. Bà từng kể cho tôi nghe, nạn đói năm bốn nhăm, bà bị bố mẹ bỏ ở bến đò, được ông lái đò mang về nuôi, rồi chiến tranh loạn lạc, bố con ông lái đò phiêu bạt đến thị xã này làm thuê. Bố bà tham gia bộ đội địa phương, trong một trận chống càn đã anh dũng hy sinh vì thế sau giải phóng miền Bắc bà được thừa hưởng ngôi nhà ở phố này của ông chủ hàng phở lúc bấy giờ cũng do loạn lạc mất tích không thấy về. Bà được đi học lớp sư phạm văn, ra trường về dạy học ở thị xã này đến khi về hưu. Bà xây dựng gia đình với một anh vệ quốc đoàn bộ đội địa phương cũng không rõ quê quán mình ở đâu; sau năm năm tự về làm công nhân nhà máy nước ở thị xã, ông mất đã gần hai chục năm nay. Bà Lành cũng chả trách tôi được, có họ hàng gì đâu, chẳng qua một ông khách, hay đúng hơn là một đứa học trò lớn tuổi tự nguyện thường ra nghe bà tâm tình thế thái, nghe truyện dân gian mà thôi. Nhưng quả thật tôi thấy mình có lỗi với bà với cả biết bao con người đang hối hả dưới những con đường ở thành phố này, ở đất nước này để kiếm sống để làm việc, mỗi người một việc, một hoàn cảnh. Vô tâm hay vô cảm, đừng tưởng về hưu là hết trách nhiệm với đời. Mấy đêm liền tôi mất ngủ, không biết bà Lành giờ đang ở đâu? Về với bến đò năm xưa chăng? Tôi hy vọng là vào quy y cửa Phật nào đó thì tốt biết chừng nào? Mô Phật. Tôi bật dậy thắp cho bà ba nén nhang trên bàn thờ của nhà tôi. Thằng con lớn vừa đi làm ca đêm về bắt gặp:
- Hôm nay bố làm sao vậy? Nếu bố ốm để mai con xin nghỉ đưa bố đi khám bệnh.
Tôi biết nói với nó thế nào đây, chỉ se sẽ bảo nó:
- Bố khó ngủ nên dậy thắp hương chõ dễ ngủ, bố không sao cả.
- Dạ! Dạo này con thấy bố có vẻ khang khác mọi khi. Thôi con xin phép bố con đi nghỉ. Bố nhớ bảo trọng sức khỏe.
May thằng con tôi nó chưa đến nỗi vô cảm như tôi.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}