Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Giáo dục:

 

Thầy Hoàng Văn Khoán - Ân nhân của tôi

Thái Chí Thanh | Chủ Nhật, 19/11/2017 23:39 GMT +7

Càng gần ngày 20/11 tôi càng nhớ đến thầy cô đã từng dạy mình. Tôi vẫn nhớ từ thầy dạy đầu tiên, năm 1960, tôi đi học lớp vỡ lòng, do thầy Ngọ (không hiểu sao gọi là Ngọ Vạc) và cô Nga dạy, nhưng tôi chỉ đi được mấy ngày rồi đành xa Diễn Hoa quê hương, lên Quỳ Châu với cha mẹ tôi.

Ở đấy, thầy dạy lớp 1 là Lang Văn Thanh, quê ở Châu Phong, người thầy để lại rất nhiều kỷ niệm, rồi cô Dương Thị Thu Ba quê ở Quỳnh Đôi dạy lớp 2 (năm học lớp 7, tôi đi thi văn ở Đà Sơn- Đô Lương, bỏ cả mấy ngày bồi dưỡng văn của tỉnh, đạp xe đạp đi thăm cô dù máy bay Mỹ quần đảo), thầy Tiềm, thầy Du dạy lớp 3, lớp 4 ... rồi cấp 2, cấp 3 .. bao thầy cô, tôi vẫn nhớ và tri ân suốt đời; lại có cả cô giáo rất đặc biệt, là Trần Thị Mùi - bạn học cùng tôi suốt thời phổ thông, là một trong những hoa khôi của trường; khi tôi đi bộ đội về, học lại cấp 3 thì đã là cô giáo dạy văn lớp mình... Nhưng người thầy sâu sắc nhất, gắn với cuộc đời tôi nhiều nhất là Nhà giáo Nhân dân, PGS-TS Khảo cổ học Hoàng Văn Khoán...

Chẳng phải đến sự kiện Trùng Cửu (ngày 9 tháng Chín năm 1981), hai thầy trò trong nỗi kinh hoàng lao lý mới có kỷ niệm đặc biệt, mà trước đó, như duyên trời, như định mệnh, hai thày trò đã có bao kỷ niệm đẹp và chẳng dễ phai mờ.

Thầy Khoán chụp trong ngày cưới Thanh - Hòa cùng anh Võ Nhai và Nguyễn Thanh Xuân tại Ngõ Tạm Thương

Ngay năm học đầu tiên ở Khoa lịch sử trường ĐHTH Hà Nội, lớp chúng tôi chia làm ba đoàn, một đoàn dưới sự dẫn dắt của thầy Trần Quốc Vượng khai quật ở Cổ Loa, một nhóm khai quật ở Thanh Hóa, còn đa phần lớp chúng tôi được thầy Khoán dẫn về quê tôi, Diễn Châu, khai quật khu di chỉ thời đồ sắt ở Diễn Thọ, chân núi Ruta (nghe như ở Tây, ở Nhật, nhưng đó là tiếng địa phương, tức rú của ta). Hồi đó, thầy là Phó tiến sỹ sau hai lần học và nghiên cứu ở Nga, còn trẻ, cao to, đẹp trai lồng lộng, tiếng nói vang và ấm, ai cũng mê....

Đó là tháng 3 năm 1978, đoàn chúng tôi khai quật 2 di tích dưới chân núi Ruta. Trong đời, ai đã một lần được khai quật khảo cổ học thì hẳn không quên cảm xúc tuyệt vời khi di chỉ phát lộ những di vật của nhiều nghìn năm trước. Di chỉ đồ đá mới (cách khoảng 5 nghìn năm) bên cạnh những lưỡi rìu đá, mảnh gốm quen thuộc còn phát hiện vòng đá của người nguyên thủy rất tinh xảo, chỉ dùng đá khoan đá mà sao họ làm giỏi thế, hàng chục viên đá bé tý lồng vào nhau thành chuỗi để đeo vào cổ; lại cả "son" của phụ nữ nguyên thủy là những lọ đất vàng chanh để xoa lên mặt, lên môi. Hóa ra người xưa đã thích làm đẹp, làm duyên và tinh xảo vô cùng. Hay nhất là ở di chỉ thứ 2, phát hiện ra 11 ngôi mộ cổ niên đại Đồ sắt, hơn 2 nghìn năm. Thầy trò hạnh phúc vô cùng. Ngay cả buổi trưa dưới nắng lửa và gió Lào, thầy trò quần quật ở di chỉ, tôi và mấy bạn trực nhật về làng gánh đồ ăn ra. Chúng tôi vừa về đến làng, bỗng thấy rất đông người chạy đến hỏi, có phải đoàn đào được nhiều người đang sống phải không? Có hai vợ chồng chôn từ mấy nghìn năm ôm nhau ngồi bật dậy à, lạ hè... Chúng tôi giải thích kiểu gì cũng không ai tin, các cụ, bà con hò hét nhau chạy ra Ruta. Thật không tưởng tượng được, khi chúng tôi trở ra thì đã đông nghịt những người là người vây quanh khu di chỉ. Có công an, dân quân địa phương giúp bảo vệ, thầy trò mới tiếp tục công việc được. Rồi chiều hôm đó và tiếp những ngày sau, dòng người hiếu kỳ càng đổ dồn về, có cả từ Vinh, từ nhiều địa phương khác, cho dù bảo vệ quyết liệt, nhưng đồng lúa xung quanh vẫn nát bét, may mà di chỉ vẫn được bảo toàn.

Theo yêu cầu của địa phương, sau khi khai quật xong di chỉ quý hiếm đó, thầy nhờ sân ủy ban xã, triển làm di tích Ruta. Thế mới thấy dân mình hồi ấy hiếu kỳ, thích của lạ thật. Nghe đồn thì tin, nhưng khi có cả vật chứng, người giới thiệu thì chẳng mấy ai quan tâm, chỉ mấy ngày là vãn người.

Nhưng sau lần ấy, tiếng tăm, uy tín của Đoàn Khảo cổ chúng tôi nổi như cồn. Nhất là thầy Khoán, các cụ, bà con địa phương nể lắm. Chúng tôi đến đâu cũng được mọi người trầm trò, thầy Khoán thì như vị thánh sống. Cũng vì thế mà khi gần kết thúc, thầy và trò chúng tôi được một phen hú vía bởi phải xử lý một cuộc tranh giành Thành hoàng của hai họ đã diễn ra hàng trăm năm của một làng bên cạnh

... Rồi vào một ngày đẹp trời, xuất hiện một đoàn người từ làng nào đó đến gặp thầy Khoán, trước là thăm hỏi, sau là nhờ thầy "đem khoa học" phân giải giúp xem mộ tổ thành hoàng là người của họ nào. Việc tế nhị vô cùng, không khéo lại làm nổ tung mâu thuẫn vốn ngấm ngầm từ bao đời. Thế mà thầy nói như đùa, thầy trò sẵn sàng, nhưng hai họ cũng phải giúp lại cái gì chứ. Các cụ lúc đầu không hiểu, thầy trò phải loanh quanh, cuối cùng có bác chủ nhiệm HTX đi cùng vỗ tay vui vẻ, khen thầy trò vui tính, chi chớ con lợn hay mấy gà qué thì HTX lúc nào cũng sẵn...

Các cụ hai họ dẫn thầy trò chúng tôi ra mộ tổ thành hoàng. Ở đó đang rất đông người của cả hai dòng họ. Quê tôi dân tốt thật, nhưng thủa ấy nghèo khủng khiếp. Ông chủ nhiệm HTX mặc quần ta, nhưng vẫn phải diện áo đại cán giữa mùa hè, nhuốm mồ hôi, sương gió nên trông như bức tranh sơn dầu thuộc trường phái trừu tượng. Ông sởi lởi, cũng là người dàn hòa hai họ. Ông mời thầy miếng trầu rồi chỉ một gò đất khá to, nằm đầu làng, giữa những vườn lạc vừa mới thu hoạch, bảo đó là mộ tổ thành hoàng của làng. Có lẽ vì chưa phân được mộ tổ của họ nào nên chưa được xây cất kiên cố như những lăng mộ thành hoàng nơi khác.

Lặng đi vài phút, xem ra căng thẳng, nhưng thầy vẫn điềm nhiên nhai hết miếng trầu rồi kính cẩn hỏi cụ mặc áo dài nâu, mộ tổ họ này có từ bao giờ? Cụ áo dài nâu trịnh trọng, bảo đã một nghìn năm trăm năm. Thầy hỏi sao biết, thì cụ bảỏ, có mười đời còn ghi trong gia phả, trước đó năm đời, kể cả cụ tổ thành hoàng. Vị chi là mười lăm đời, chẳng là nghìn rưởi năm sao. Nói xong, cụ áo dài nâu vuốt vuốt chòm rau cước, đắc ý nhìn sang cụ mặc áo dài đen, lúc nào cũng lom khom, đi lại phải chống gậy, trông như con ốc sên.

Thầy lại hỏi cụ áo dài đen, cụ áo dài đen cũng nói y chang, nghĩa là nghìn rưởi năm.

Nghe xong, thầy nói:

- Thưa cả hai họ, có vấn đề rồi đây. Cả hai họ chỉ mới về đây lập nghiệp hơn ba trăm năm thôi. Ấy... ấy, các cụ cứ bình tĩnh để thầy trò chúng tôi thưa chuyện cho tỏ tường. Tôi xin hỏi, làng mình có ai một trăm tuổi mới sinh con không? Tất nhiên là không. Khoảng hai lăm năm trung bình một thế hệ, phải không nào. Vậy thì ba trăm năm là phải rồi...

Thấy các cụ xem ra vẫn chưa chịu vì thầy giáo ăn bớt của họ cả nghìn năm gia phả, thầy lại cười. Thôi, chuyện đó tùy các cụ, còn bây giờ ta vào việc chính.

Chờ cả hai hộ hương khói, khấn vái xong, thầy Khoán mới cười cười nhìn cụ áo dài nâu, phán tưng tửng:

- Đây không phải là mộ tổ họ nhà mình.

Nghe vậy, các cụ áo dài nâu có vẻ khó chịu, còn các cụ áo dài đen thì gật gù, ra điều đắc ý. Thầy nói với cụ áo dài đen:

- Đây cũng không phải là mộ tổ họ nhà ta.

Đến lượt cụ áo dài đen tỏ ra bực dọc, hỏi:

- Hử ... hử..,. Rứa mộ ni của họ mô?.

- Chẳng của họ mô cả.

Vừa lúc đó, một cậu học trò buột miệng thành tiếng, mộ tổ không cúng lại cúng tổ mối. Lập tức cả hai họ bỗng như đỉa phải vôi. Cụ áo đen trừng mắt nhìn người vừa lỡ miệng, rồi hất hàm về thầy Khoán, ý bảo phải trị bọn láo này đi chứ thầy. Ấy vậy mà thầy lại cười, khen thằng này giỏi, làm cả hai họ như muốn lồng lên.

Một cụ bảo, thầy trò không "nói nhởi" đấy chứ. Thầy cười, bảo, không tin thì đào lên xem có đúng không? Trời đất, ai dám đào mộ tổ. Đã có cụ ngứa ngáy chân tay, mắt mũi đã chuyển màu. Đám con cháu của hai họ thì dường như chờ lệnh là sắn sàng xông vào xử lý đám thầy trò chúng tôi dám báng bổ thần làng của họ.

Chờ các cụ hạ hỏa, thầy bảo, nhờ thanh niên hai họ cầm xẻng ra, tất nhiên là không phải đào mộ tổ, mà để tìm mộ tổ.

Đất lạc mới dỡ, tơi xốp, thầy hướng dẫn đám thanh niên bạt một lớp đất 20 phân quanh mộ cổ. Thầy chỉ Lèn Hai vai cách gần chục cây số đường chim bay, ngắm hướng mặt trời và địa thế, rối khẳng định một khoảng đất chôn mộ tổ. Đúng như thầy nói, chỉ một chốc đã lộ ra hình vuông đất mầu sẫm hơn đất xung quanh. Thầy giải thích là mấy trăm năm, gió thổi, năm nào cũng bồi đặp lại nên mộ dịch chuyển thẻo hướng mà gió từ khe núi Ruta thổi qua...

Các cụ quá phục, lại tìm đúng ngôi mộ, nên mừng lắm, bắt đám thanh niên vật chú lợn chừng vài chục cân cảm ơn thầy trò chúng tôi. Thế mộ thành hoàng ấy là của họ mô? Thầy bảo, không có cơ sở để xác định, nhưng đó là người có công lập ra làng, nên tốt nhất là cả làng cùng nhau thờ, đừng cãi cọ nhau nữa mần chi. Lúc đầu mọi còn nhớn nhác, nhưng sau có vẻ gật gù, nhất là ông chủ nhiệm HTX thì mừng ra mặt. Âu cũng là dịp giải tỏa khúc mặc từ bao đời nay...

Thế là vui, hai họ dàn hòa mà thầy trò được một bữa liên hoan tươi ơi là tươi.

Năm học cuối, tôi muốn về quê thực tập, thầy Khoán OK luôn, lại cho cả hai bạn Lê Minh Thứ và Nguyễn Đức Chí cùng về Quỳ Châu ba tháng viết sử, góp phần cho cuốn Nghệ Tĩnh xưa và nay. Đây là thời gian thật thú vị bởi Quỳ Châu nghèo nhưng mà tuyệt vời. Ở đây có nhiều di tích người cổ đại như hang Bua, hang Thẩm òm. Theo bà con, từ cuối thế kỷ XIX, khi con đường 48 đang hình thành đã có những ông bà đầm (các nhà khảo cổ học của Pháp) cuốc bộ lên các hang này và phát hiện ra di tích người cổ đại... sau này các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục tìm kiếm, lấp vào những khoảng trống trong lịch sử thời cổ đại nước mình.

Cũng trong thời gian này, tôi được lọt vào mắt xanh của cán bộ lãnh đạo huyện, nên họ làm công văn xin tổ chức trường ĐHTH cho tôi về huyện làm cán bộ văn hóa. Nghĩ cũng hay, nhất là hợp ý cha mẹ tôi, nhưng lúc đó, chú Phùng Lộc ở NXB Quân đội đang ngỏ ý cho tôi về đấy vì biết tôi ham văn chương. Tôi phân vân. Ngại nhất là thương cha mẹ, nếu không về Quỳ Châu cha mẹ tôi buồn lắm. Tôi cũng nghi là mấy ông cán bộ huyện bị cha mẹ tôi xui nên mới quyết tâm lấy tôi về.

Thầy Khoán biết chuyện, đang vô cùng bận rộn nhưng vẫn bỏ mấy ngày về Quỳ Châu, vừa tìm hiểu giống lúa cổ địa phương, nhưng cái chính là làm công tác tư tưởng để cha mẹ tôi đồng ý cho tôi công tác ở Hà Nội. Nghĩ thương thầy vô cùng, mấy ngày đầu cha mẹ tôi mừng lắm, vì có ai ngờ một vị lãnh đạo của trường về nơi khỉ ho cò gáy thăm gia đình sinh viên. Nhưng đêm cuối cùng, khi thầy phân tích việc tôi nên công tác ở HN, tuy rất thuyết phục, nhưng cha mẹ tôi buồn rũ, vừa lau nước mắt, vừa gật đầu, để rồi sáng hôm sau, bị ốm, tôi và thầy ra quốc lộ 48, chờ nửa ngày mới bắt được xe chở gỗ để về xuôi. Lúc lên xe, thầy bảo tôi ở lại động viên cha mẹ rồi ra sau...

Tôi không về được NXB Quân đội vì lúc đó chú Lộc sang Camphuchia giúp nước bạn, nên về NXB Sự Thật. Chuyện đã lâu rồi, nhưng vẫn tươi rói trong tôi, bởi nếu không có thầy tận tình của thầy Khoán như vậy, chắc cuộc đời tôi đã khác, không thể có những quãng nhiều may mắn như đã trải qua... Hai thầy trò không hình dung được, sau đó, hai thầy trò và nhiều thầy bạn phải trải qua sự kiện Trùng Cửu 9/9 mà cho mãi đến giờ vẫn còn nhức nhối trong nhiều người...

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}