Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Thế tục hóa tôn giáo là thuộc tính đặc thù

Trương Sỹ Hùng | Thứ Hai, 07/10/2019 07:45 GMT +7

 

 

     Nửa sau thế kỷ XX các tác giả nghiên cứu xã hội học tôn giáo Peter Berger, David Martin, Bryan Wilson… đã chỉ ra những điều không hợp lý trong xã hội hiện đại so với thuyết lý Công giáo, làm tan vỡ niềm tin ảo giác của công chúng vào tôn giáo, và cũng cũng ảnh hưởng không ít đến việc thực hành những lễ nghi tôn giáo cổ xưa hiện tồn. Nhận thức của các tín đồ tôn giáo cũng dần thay đổi theo thời gian. Sự tuyên truyền cải giáo hoặc truyền giáo gặp trở ngại khó có thể vượt qua.

    

Ban giám đốc Trung tâm văn hóa Minh Triết thăm viếng chùa Hương Sơn (Hà Tĩnh)

Thế nhưng trên thực tế, nửa sau thế kỷ XX và 20 năm đầu thế kỷ XXI đã và đang qua đi, các loại hình tôn giáo vẫn đang tồn tại. Bản chất thế tục hóa tôn giáo vẫn đã và đang phát triển; gặp khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển thịnh vượng, tôn giáo tín ngưỡng lại phục hưng; như là một nếp sống văn hóa thượng lưu. Nhu cầu thực hành nghi thức tôn giáo lại trở thành nguồn tri thức cao cấp, song hành  với các mối quan hệ đối nội, đối ngoại ở mức tinh vi hơn.

      Bất cứ tôn giáo nào từ khi hình thành và phát triển đến nay đều có vai trò làm biến đổi sự phát triển của diện mạo văn hóa. Nhiều khi, gặp điều kiện thuận lợi, tôn giáo đóng vai trò làm chủ thể trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, giáo dục và văn hóa. Phải mất khoảng gần 40 năm, hoạt động tôn giáo bị ảnh hưởng của chiến tranh lạnh và mâu thuẫn giữa hai mô hình XHCN và TGCN. Song, bước sang thế kỷ XXI, tin học được phổ cập toàn cầu, kinh tế xã hội phát triển theo xu hướng ổn định, quy mô và tốt đẹp, bền vững, thì dường như tôn giáo lại gặp cơ hội phục hưng. Có thể nói, thế kỷ XXI là thế kỷ của tin học, dân tộc và tôn giáo. Tôn giáo tín ngưỡng vẫn ánh phản tâm linh đa sắc màu tộc người,với những vẻ đẹp linh thiêng, huyền bí đậm nhạt khác nhau ở từng khu vực lãnh thổ quốc gia. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, tôn giáo được coi là một chuyên ngành hẹp, nhạy cảm, mà khi đề cập đến từng vấn đề cần phải thận trọng, chi tiết và sát thực. Mặc cho học thuyết “thế giới phẳng” đã lan tràn rộng khắp, nhưng tôn giáo tín ngưỡng với đặc thù thế tục hóa luôn trụ vững vị trí tác động đến diện mạo văn hóa, vì văn hóa là một nhu cầu vĩnh cửu đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của con người, cho dù nền khoa học, tin học còn phát triển hoàn mĩ hơn, cao hơn nữa.

      Thế tục hóa tôn giáo là một thuộc tính đặc thù, chi phối đời sống văn hóa tôn giáo mà không hề đối kháng với cách thần thánh hóa đời sống xã hội một cách vụng về của các tu sĩ, quản tự, quản từ…gặp thời “chen chân đến”. Đông đảo đội ngũ “tri thức bình dân” ấy đa phần chưa thực thụ được đào tạo bài bản trong hệ thống nhà trường về các loại hình tôn giáo. Các yếu tố siêu nhiên, huyền bí - đặc trưng của tôn giáo không phát triển được nữa trong giáo thuyết truyền giảng, tôn giáo.

      Tư tưởng đạo đức, bác ái đã trở thành nguồn sống tâm linh của mỗi thành viên trong từng cộng đồng tộc người, nên hành vi nhập thế của mọi tôn giáo đã biến đổi cả chất và lượng, biểu hiện trong đời sống văn hóa bằng cách trực tiếp tham gia vào tất cả mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Không chỉ tập trung làm từ thiện như xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ người già cô đơn, tàn tật thông qua các các tổ chức hành chính các cấp và trực tiếp cá nhân, thế tục hóa tôn giáo đã ngấm ngầm tinh thần nhân đạo, tôn khính, nhường nhịn, chia sẻ cảm thông qua hệ thống giáo dục tư tưởng tôn giáo theo các thế hệ trong gia đình. Với mô hình này, nhiều khi thế hệ trẻ lớn dần, tiếp nhận chậm chạp theo độ tuổi trưởng thành trong cuộc sống, lại có được kiến thức văn hóa ứng xử lâu bền hơn cả. Lẽ đương nhiên, kể từ khi tiếp cận chương trình giáo dục phổ cập, bản thân mỗi cá thể đã sẵn có một hành trang để hòa nhập với môi trường văn hóa giáo dục ở tầm vĩ mô. Một số tác gia lớn của thế kỷ XIX như Auguste Comte, Émile Durkheim, Max Weber, Sigmund Freud… đều tin rằng với sự phát triển của xã hội công nghiệp, tôn giáo sẽ không còn có ý nghĩa  trong cuộc sống. Thành tựu của thiên văn, vật lý, hóa học, y học hiện đại và triết học trong khoa học xã hội… củng cố nhận thức thiên nhiên xã hội theo xu thế biện chứng; đôi khi tưởng như tôn giáo bị bãi bỏ.

      Wright Mills trong tác phẩm The Sociological Imagination (1959) có nhận định: “Đã có thời thế giới chứa đầy những cái thiêng – trong tư tưởng, thực hành, và thể chế. Sau thời kỳ Cải cách và Phục hưng, những lực lượng hiện đại hóa đã quét qua địa cầu và thế tục hóa, một quá trình lịch sử theo sau nó, đã nới lỏng sự ngự trị của cái thiêng. Đến một lúc nào đó trong tương lai, cái thiêng sẽ biến mất hoàn toàn ngoại trừ, có lẽ, trong lĩnh vực riêng tư”.(1)Không hẳn “trong tương lai, cái thiêng sẽ biến mất hoàn toàn ngoại trừ, có lẽ, trong lĩnh vực riêng tư ”, thế tục hóa tôn giáo vẫn song hành với đời sống văn hóa của tất cả mội cộng đồng tộc người, vì đây là kiến thức giao thoa văn hóa, tổng kết lịch sử loài người. Tạm thời chấp nhận gạt sang bên cạnh vấn đề nhận thức sinh học để gom vào kho kiến thức khoa học thực nghiệm – thế tục hóa tôn giáo vẫn ngang nhiên hiển hiện trong đời sống văn hóa tâm linh. Không một thế lực khoa học điện tử, mạng số…nào có thể xóa bỏ vì nó vô hình, vô sắc mà sống động trong thế giới tư duy của từng cá nhân, của từng nhóm nhỏ gia đình và xã hội tộc người.            

     Trong thập niên 1960 và 1970, nhiều nhà xã hội học hàng đầu đã thúc đẩy lập luận của quan điểm duy lý đi xa hơn nữa. Những người nổi bật trong nỗ lực này là Peter Berger, David Martin, và Bryan Wilson. Thời đại Khai sáng đã tạo ra một quan điểm duy lý về thế giới, được xây dựng trên những chứng cứ thực nghiệm và kiến thức khoa học về các hiện tượng thiên nhiên và trên sự làm chủ vũ trụ về mặt kỹ thuật. Tư tưởng duy lý được xem là đã khiến cho những tín điều do Giáo hội đưa ra mất đi vẻ hợp lý trong xã hội hiện đại, cuốn đi vết tích của những tín lý mê tín. Sự mất niềm tin được xem là có tác dụng phá vỡ tôn giáo, xói mòn tập quán đi nhà thờ và sự tuân thủ những lễ thức tôn giáo, làm suy yếu ý nghĩa xã hội của những giáo phái, và làm giảm sút sự tham gia tích cực vào các tổ chức được xây dựng trên niềm tin tôn giáo cũng như sự hỗ trợ cho các đảng phái tôn giáo trong xã hội dân sự. Khoa học và tôn giáo có thể đối đầu trực tiếp với nhau trong một trận đấu chỉ có một bên thắng, trong đó những lý giải khoa học làm suy yếu sự giải thích theo nghĩa đen của Sáng thế ký.

       Ở xã hội công nghiệp, chức năng xã hội được chuyên môn hóa, các tổ chức và chuyên môn đảm nhận chăm sóc y tế, giáo dục, kiểm soát xã hội, chính trị, và an sinh xã hội, thay thế phần lớn các công việc một thời chỉ do các tu viện, giáo sĩ, giáo xứ đảm nhận. Sự lớn mạnh của các tổ chức nhà nước đã tạo ra trường học, mạng lưới chăm sóc y tế và an sinh xã hội. Durkheim tiên đoán rằng khi bị tước mất những mục đích xã hội cốt lõi của mình, những vai trò tâm linh và luân lý còn lại của các thiết chế tôn giáo sẽ suy tàn dần trong các xã hội công nghiệp, và chỉ còn lại những nghi thức truyền thống được cử hành trong những dịp sinh, tử, hôn nhân và vào các ngày lễ đặc biệt.

      Lý thuyết chức năng chính thống phổ biến trong xã hội học tôn giáo vào nửa sau thế kỷ XX. Chẳng hạn Jagodzinski và Dobbelaere, dùng cách tiếp cận chức năng để giải thích sự sút giảm về số người đi lễ nhà thờ ở Tây Âu.

      Mặt khác, nghiên cứu hiện tượng người đến các cơ sở thờ tự ngày càng giảm, cũng phản ánh một quá trình thế tục hoá của các loại hình tôn giáo, qua đó cho thấy sự suy giảm niềm tin tôn giáo hay xu hướng niềm tin tôn giáo trở thành một việc riêng tư, không còn giữ một vai trò ưu thắng trong đời sống công cộng hay trong những khía cạnh khác của quá trình quyết định. Durkheim cho rằng tôn giáo không chỉ là một hệ thống tín điều và quan niệm, nó còn là một hệ thống hành vi bao gồm những nghi thức và lễ nghi mang tính biểu tượng để đánh dấu những mốc lớn trong đời người như sinh tử và hôn nhân, cũng như những nghi lễ định kỳ theo mùa. Những lễ thức này giữ một chức năng quan trọng đối với xã hội bằng cách duy trì sự đoàn kết và cố kết xã hội, duy trì trật tự và ổn định, do đó mang lại những lợi ích chung.

    The Sacred Canopy (1969) của Peter Berger - tác giả trước đây nhiệt thành ủng hộ quan điểm thế tục hóa tôn giáo – nay lại chú ý đến khía cạnh đa nguyên tôn giáo trong xã hội hiện đại. Ông cho rằng tình trạng đa nguyên tôn giáo làm giảm sức sống của tôn giáo vì nó có ảnh hưởng không tốt đến tính hợp lý của tôn giáo: xã hội càng theo một thế giới quan thế tục bao nhiêu thì tôn giáo càng có vẻ ít hợp lý bấy nhiêu và càng có ít niềm tin tôn giáo và hoạt động tôn giáo bấy nhiêu. Khi có đa nguyên tôn giáo, người ta nhận ra rằng các tôn giáo khác nhau đưa ra những cách giải thích khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau về chân lý trong tôn giáo. Xã hội hiện đại là hệ quả tinh lọc tự nhiên và xã hội lịch sử các dân tộc khác nhau với nhiều nền văn hóa khác nhau, đã tiếp xúc gần gũi nhau. Kéo theo tình thế đó, thực tế đa nguyên tôn giáo không hề có biểu hiện làm “suy giảm tôn giáo cùng với những sự việc khác đồng hành với hiện đại hóa như công nghiệp hóa, đô thị hóa, hợp lý hóa”.

     Vào cuối của thế kỷ XX, lý thuyết thế tục hóa, đặc biệt là tiên đoán của nó về sự khai tử dần dần của tôn giáo, đã bị chỉ trích mạnh mẽ.

     Lý thuyết thế tục hóa giải thích vận mệnh của tôn giáo là do nhu cầu của các dân chúng tự nguyện làm tín đồ, mà cuộc sống đa dạng, phong phú của các tầng lớp dân chúng cũng luôn luôn thay đổi sao cho phù hợp với môi trường xã hội. Là lực lượng trực tiếp tham gia vào các hoạt động tâm linh vừa có tính chất xã hội, vừa có tính chất tổ chức; thế tục hóa tôn giáo luôn nắm bắt thực tiễn để kịp thời thây đổi qua thời gian.

     Các nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân “thực” của hiện tượng tôn giáo, tức tìm hiểu bản chất của tôn giáo là gì. Và hiện tượng tôn giáo được truy nguyên về xã hội tạo ra nó. Mỗi người đưa ra một cách lý giải khác nhau, về nguyên nhân của hiện tượng tôn giáo. Sigmund Freud quan niệm “tôn giáo là chứng bệnh thần kinh của quần chúng. Tôn giáo tồn tại như là một đáp ứng đối với những xung đột sâu xa và cảm xúc yếu đuối của con người. Nó là sản phẩm thứ yếu của tình trạng bất an tâm lý”. Tác giả cho rằng, cho rằng có thể loại bỏ những ảo tưởng của tôn giáo bằng cách làm vơi đi những nỗi bất an đó. Marx lý giải, tôn giáo là một ảo tưởng và mục đích chính của nó là đưa ra những lý do và những cái cớ để giữ cho xã hội vận hành theo cách của nó. Và:“Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư­­ ảo vào đầu óc con ng­ười – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực l­­ượng ở trần thế đã mang những lực l­­ượng siêu trần thế” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo 2004: đoạn 8). Friedrich Engels trong tác phẩm Chống Duyrinh

    Có thể nói, xu hướng đa dạng hóa tôn giáo là hiệu ứng tất yếu của toàn cầu hóa. Không gian lãnh thổ mở rộng dần, khiến con người không chỉ tiếp cận với một hoặc một số tôn giáo của dân tộc mình, mà còn biết tới tôn giáo khác; thậm chí không phải tiếp thu một cách thụ động mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê phán. Hậu quả tất yếu của đa dạng hóa tôn giáo là, nếu như tôn giáo truyền thống nào không đáp ứng được nhu cầu của quần chúng thì sẽ bị thay thế bởi một tôn giáo khác phù hợp hơn. Sự xuất hiện hàng loạt các tôn giáo mới với màu sắc rất khác nhau. Hiện tượng tín đồ thờ ơ, tỏ ý mất niềm tin, tự phân lập, tách biệt thành các giáo phái nhỏ hơn cũng đã xảy ra, Trong một con người song hành nhiều tôn giáo, mà chính bản than chẳng tường minh giáo lý một tôn giáo nào!. Tại đây còn xuất hiện các giáo phái kỳ lạ phi nhân tính, phản văn hóa, gây nhiều tác hại cho xã hội.

     Tuy vậy, việc áp dụng trình độ phát triển kinh tế vào một mô hình văn hóa tinh tế như tôn giáo đã biểu hiện sự lăp ráp khập khiễng. Không bao giờ và không có tổ chức tập thể hay cá nhân nào thành lập được “công ty tri thức tôn giáo”. Vả lại quy luật cung cầu trong các mô hình tôn giáo vi diệu đến mức chưa bao giờ thâu nhiễm bản chất của thương mại. Đa nguyên tôn giáo đã phát triển cùng với các tiến trình lịch sử các cộng đồng tộc người và gia nhập ngay vào mọi hoạt động xã hội với sự đồng thuận rất đa dạng, phong phú.

     Như vậy, cụm từ “thị trường tôn giáo” chưa hội đủ những dữ liệu khoa học để có thể tiến tới hoàn thiện một thuật ngữ trong tôn giáo học. Rồi sẽ như Rex Ahdar viết: “... Nhưng sớm muộn, những giới hạn của nó sẽ ngày càng rõ ràng và cũng giống như những cách tiếp cận trong quá khứ, nó sẽ trở nên cũ kỹ nhàm chán”.(1)
     Khi lý thuyết tục hóa tôn giáo bị đưa ra tranh biện trước thực tiễn đa tôn giáo ở trong hoàn cảnh kinh tế phồn thịnh, tin học phổ cập tinh vi, hai tác giả Pippa Norris và Ronald Inglehart vẫn nêu cao luận điểm chính là vị trí của tôn giáo trong thời đại công nghiệp hóa. Và có thể Comte, Durkheim, Weber và Marx sai lầm khi tin tưởng rằng tôn giáo sẽ suy tàn trong xã hội công nghiệp hóa. Rõ ràng là lý thuyết thế tục hóa vẫn đúng và chỉ cần điều chỉnh phần nào đó cho phù hợp. Tôn giáo vẫn ngang nhiên tồn tại đến đầu thế kỷ XXI, và chắc chắn không thể biến mất trong đời sống tâm linh con người. Thuật ngữ thế tục hóa đã thâu tóm được những nét bản chất phổ biến và tự thân biến đổi cách hành xử trong cuộc sống theo giáo lý nguyên thủy của nó để hòa nhập kịp thời. Trong muôn mặt đời thường của “thế giới phẳng” tôn giáo vẫn có tầm quan trọng và sức mạnh nội lực của di sản văn hóa. Và như Pippa Norris và Ronald Inglehart đã khẳng định rằng, công chúng của hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến trên thế giới trong vòng năm mươi năm qua đã và đang đi theo xu hướng thế tục hóa. Các tác giả Sacred and Secular: Religion and Politics Worldwide (2004) đã lấy số liệu người mộ đạo xuất hiện nhiều nơi trên thế giới, phân tích những hậu quả xã hội và chính trị của xu hướng thế tục hóa, và đề nghị bổ sung cho khung lý thuyết thế tục hóa tôn giáo một vài đặc điểm. Hệ thống những tập tục bị xói mòn theo thời gian, nhưng rõ ràng là giá trị và niềm tin tôn giáo vẫn được thể hiện sống động trong sự phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác, đối với một số cộng đồng dân gặp rủi ro, bị tổn thương về môi trường cuộc sống và chế độ thống trị o ép, thì số người mộ đạo có chiều hướng gia tăng, ai cũng muốn tự giác gia nhập, thực hành tôn giáo, củng cố niềm tin tôn giáo mạnh mẽ. Bởi lẽ, đa số dân chúng lao động là người lương thiện, mộ đạo nhất là ở những quốc gia còn đói nghèo, con người luôn phải  đối diện với những nguy cơ đe dọa đến sức khỏe và tính mạng.

     Hiện nay trong số các nước Hồi giáovẫn còn 13 nước đang áp dụng hình phạt tử hình đối với những người bỏ đạo, mặc dù chính quyền ở các nước này đã và đang cố gắng tìm cách thay đổi. Song, thực rế rõ ràng rằng, dù hình phạt tử hình của Hồi giáo có được hủy bỏ thì tội bỏ đạo vẫn bị xử như là một tội phạm hình sự nghiêm trọng, bị dư luận loài người lên án. Hình phạt tàn khốc là thế, nhưng ở các nước Hồi giáo vẫn có nhiều người bỏ đạo.

     Như vậy, vào cuối thế kỷ XX và những năm hai mươi ở đầu thế kỷ XXI, thuyết thế tục hóa đã trải qua một sự thách thức nghiêm trọng, nhưng chưa một học giả nào đưa ra được chính lý bác bỏ. Thế tục hóa vẫn đã, đang là một lý thuyết vững vàng. Nhiều tác giả có lúc tỏ ý nghi hoặc đã công khai rút lại quan điểm, tiếp tục lên tiếng ủng hộ thuyết thế tục tôn giáo. 1. Ahdar, Rex. 2006. The idea of religious markets. International Journal of Law in Context, 2, Cambridge University Press. 

______________________________________
http://journals.cambridge.org/action/displayAbstract;jsessionid=16A3F4CA86C2F1903EA126A025D69A62.tomcat1?fromPage=online&aid=440706
2. Norris, Pippa và Ronald Inglehart. 2004. Chapter 1. Sacred and Secular: Religion and Politics Worldwide. Cambridge University Press.
http://ksghome.harvard.edu/~pnorris/ACROBAT/Sacred_and_Secular/Chapter%201.pdf
http://www.google.com/books?id=dto-P2YfWJIC&rvie

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}