Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn:

 

Thơ Hoàng Kim Dung - Những vần thơ cháy bỏn yêu thương

Hồ Sĩ Vịnh | Thứ Tư, 06/04/2016 21:12 GMT +7

Có bao nhiêu nhà thơ là có bấy nhiêu thi pháp sáng tạo, ngôn ngữ chuyển tải ý thơ. Tình yêu lớn hơn thơ, nhưng để thơ đi vào lòng người, nhà thơ cậy nhờ ý tưởng và ngôn ngữ thơ.

Đọc hai tập thơ Dòng sông mùa hạ (2004) và Cánh rừng xanh gió thổi (2009) đều được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành của Hoàng Kim Dung, tôi có mấy cảm nhận sau:

1/ Cái tôi sáng tạo trùng khít với nhân vật trữ tình là lúc hình tượng thơ xuất hiện:

Sáng tạo thơ trước hết là xây dựng hình tượng. Trong quá trình tìm tòi và sáng tạo, nhà thơ luôn luôn linh cảm về “tiếng ồn ào” - những bước đi của hình tượng. Hình tượng trong thơ rất rộng, ngoài hình tượng tính cách, còn có hình tượng cảm nghĩ: trí tuệ và cảm xúc, hữu lý và phi lý, thực và hư để khám phá hiện thực đời sống và thăm dò chiều sâu lòng người. Thi pháp thơ phương Đông thường có đặc điểm hướng nội, “cảm vật ngôn chí” hơn là phản ánh hiện thực, thơ thường mang sức gợi hơn là miêu thuật. Bài thơ Bây giời mùa hạ là bài hay, khi nhân vật trữ tình trùng khít với nhà thơ: Sao em thèm ngọn gió từ núi cao/ Nơi có lần anh tìm cho viên đá trắng/ Hôm ấy gió heo may về/ Bầu trời thì xanh thắm/ Em đã mang nụ hôn qua gió/ Và cất đi những khao khát tràn ngập/ Giá mà đêm nay có thể bay lên được/ Em sẽ theo ngọn gió nhớ thương/ Trong vòng tay bé nhỏ của mình/ Từ mùa thu… đến bây giờ mùa hạ. Trong thơ chị, thật lạ, tình yêu cháy bỏng, nỗi nhớ, cơn khát lòng, sự chờ đợi… thường được đẩy cao hơn một vài cung bậc tình cảm đa đoan so với đời thường. Bài Nỗi nhớ tưởng như một chứng giải về thế giới biểu cảm của nhà thơ, khi phải trả lời con người có sức mạnh lý trí hay là sự yếu đuối tình cảm như quan niệm triết học nhân bản của Feuerbach (1).

Nỗi nhớ nào có lỗi

Đã bảo mình đừng nhớ

Lý trí sẽ trở thành sức mạnh

Mà sao trái tim yếu đuối

Có phải vì anh đi mãi chưa về

Có phải anh đã trôi vào im lặng…

Hai câu kết của bài Những con cá trong bể cũng có phong vị, dáng dấp thủ pháp, thi hứng phương Đông mà các nhà lý luận thường gọi là thủ tượng và đàm huyền tức là lấy cái cụ thể để giải thích cái trừu tượng? lấy cái huyền bí, trừu tượng để luận đàm cái cụ thể: Nhưng mãi mãi trong bể cá thủy tinh nhỏ và đẹp này/ Những con cá sắc màu có buồn nhớ đại dương? Chỉ tiếc là ít bài có hình tượng như thế!

Đề tài về thiên nhiên là đề tài muôn thuở của nhiều nhà thơ; mỗi thi nhân đều có một thi pháp, cảm hứng riêng, có khi rất độc đáo. Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ là ví dụ: Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngắt/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh… Thời gian chỉ đo bằng năm tháng, bằng mùa, sao lại đo bằng màu, bằng hương?! Ở Tế Hanh, mô típ thời gian được cảm tác bằng mùa thu, có màu sắc, có nắng vàng, mây trắng, có niềm vui và nỗi buồn: Mùa thu đã qua đi, còn giữ lại/ Một ít vàng, trong nắng, trong cây/ Một ít buồn trong gió trong mây/ Một ít vui trên môi người thiếu nữ…

Đối với Kim Dung, nhà thơ đầy nữ tính, mùa nào trong năm đều đẹp, gây ấn tượng, đầy tâm trạng. Viết tiếp mùa hạ, Đêm mùa hạ là để nói những điều chưa kịp nói những dự cảm tốt lành, đầy hương thơm của lúa, dịu dàng của hoa. Cảm thức nguyên vẹn mùa thu khi chiều không có hoàng hôn, khi cơn mưa đón bảy sắc cầu vồng, chỉ có chờ đợi, xa ngái. Còn mùa đông là còn nỗi nhớ đến cồn cào, hy vọng và hoài vọng, hẹn hò và tin cậy.

2/ Thơ hay cốt ở tình và ngôn ngữ:

Người xưa nói: “Tình sinh vụ văn, văn sinh vụ tình”. Nói đến thơ trữ tình là nói đến tình yêu. Rộng là yêu quê hương, đất nước, hẹp là gia đình, người thân, người yêu, tình vợ - chồng, hẹp nữa là buổi sương sớm, một nhành mai, một đóa hoa hồng, v.v… Tất cả muốn thành thơ đều phải có ý tưởng hay, bất ngờ đã đành, nhưng còn phải nhờ đến ngôn ngữ giao tiếp thơ. Ngôn ngữ là bản chất của văn chương, tạo nên ma lực của đoạn thơ, câu thơ có cánh. Ngôn ngữ thơ là bản thể của văn chương. Còn Kinh thánh thì nói: Khởi đầu là lời. Tôi nhận ra điều này khi nhận biết Kim Dung viết về tổ ấm gia đình. Đó là bà ngoại ngoài 90 tuổi vẫn say sưa chuyện kể tưởng như huyền thoại. Bà sống và hiền như lúa và “ra đi” nhẹ nhàng như lá, như cây; đó là đứa con trai làm mẹ chạnh lòng khi con vắng mặt; đó là hương hồn người mẹ nơi cõi tiên trong dòng đời thiếu mẹ con biết tựa vào đâu? Xúc động nhất là những trang thơ viết về cha, người lính, những ngày trọng bệnh, bởi vì cha là tất cả: Chúng con xót xa khi/ Hình dáng cha cứ nhỏ đi từng ngày/ Cha im lặng gồng lên chịu đựng/ Những cơn đau hành hạ/ Cha ơi! Có phải xưa kia vì cha là người lính/ Hay cuộc đời trầm luân đã cho cha biết chịu đựng…

Thơ Hoàng Kim Dung thật dung dị, cởi mở, nếu lời chưa kịp ý, thì câu thơ cứ hồn nhiên, và sau cái hồn nhiên kia là cả một tấm lòng rộng mở, một tình yêu bao la vừa đằm thắm vừa cháy bỏng, mà thường là cung bậc tình cảm như được nhân lên. Thì đây, chúng ta hãy đọc bài: Viết tiếp mùa hạ, Đêm mùa hạ. Tại sao thi hứng không dành cho mùa thu, mùa xuân mà lại thiên vị mùa hạ? Bởi hạ về có những ngày rất mát và trời trong xanh đẹp đến lạ kỳ. Đó là cái cớ của khái niệm thời gian để nói, để thanh minh cho mối tình thủy chung, thánh thiện của Anh:

Điều chưa nói, thì bây giờ ta nói

Yêu bao nhiêu cũng không đủ cho nhau

Ta giàu có mùa hạ về mưa nắng

Những nhớ thương, gừng cay muối mặn

Những chia xa, không định tặng trao

Mùa hạ về như dòng sông bất tận

Như mối tình say đắm của Anh

Là nhà thơ nữ với nhiều tập thơ được xuất bản từ những năm 90 trở đi, lại là nhà thơ sân khấu học, Kim Dung đã trải nghiệm cuộc đời thường nhật, cuộc đời nghệ thuật, nên trong thơ chị có những câu tuyên ngôn về thơ. Nói là tuyên ngôn nhưng tránh đại ngôn, mà thì thầm triết lý của người đã duyên nghiệp với thơ:

Thơ là đất cát, là đôi cánh bao la

Là giản dị sẽ chia ấm áp

Là mạnh mẽ thanh cao trong bão tố đường đời

                                      (Đêm mùa hạ)

hoặc:

Tôi vẫn đi tìm câu thơ

Trong đất cát mùa màng gió bão

                                      (Đôi khi)

Tại sao thơ là đất cát? Tôi bỗng nhớ đến câu thơ của Walt Whitman (nhà thơ Mỹ): “Thơ ở dưới chân bạn, hãy cúi xuống nhặt lên. Đấy là chân lý”. Chân lý đó đã và đang được Kim Dung cảm hứng và sáng tạo trước những hiện tượng đa màu muôn sắc của cuộc đời và lòng người của một nhà thơ nữ đa cảm và thánh thiện. Đất còn là nhau thai của sự sống. Các sinh vật từ siêu vi cho đến khổng lồ đều hiện diện trong đất. Đất sinh ra muôn loài, là bầu sữa của thiên nhiên.

Có người hỏi tôi, thơ Kim Dung có thiếu hụt gì? Thơ hay có một nghìn lẻ một câu trả lời, chỉ cần tránh và hạn chế miêu thuật sự kiện trần trụi, mà phải khám phá “tâm lý sự kiện”. Người ta nói văn xuôi là ngôn ngữ tự do, còn thơ là ngôn ngữ rào cản. Ngay cả ở trường ca, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng được sử dụng tự do phóng khoáng vô hạn, mà cần đi tìm hình tượng khái quát, cảm xúc thăng hoa, ngôn ngữ giàu âm sắc. Nguồn gốc của thơ là ở trái tim, là ở ý nghĩa triết học văn hóa. Mọi tâm hồn trong thơ là những nhạc điệu nối được trái tim với trái tim, với người và đời. Tôi tin ở cảm hứng dạt dào và tài năng luôn luôn sáng tạo ở Kim Dung để có những trang thơ trong sáng, vẫn thấy ở thơ có sức mạnh dù chỉ là nhỏ nhoi, góp phần cải tạo con người(2) như có nhà thơ đã từng mơ ước.

--------------------------------------
1. Ludwig Feurbach (1804 - 1872) nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất, tiền Marx; Marx và Engels chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa duy vật của Feurbach trong thời kỳ đầu. Hạt nhân cơ bản của triết học Feurbach là triết học nhân bản nói đến sức mạnh và sự yếu đuối của con người.

2. A. Artaud có lần nói: “Trong cơn điên loạn, vẫn thấy thơ cải tạo con người (refaire l’homme)”

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}