Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Giáo dục:

 

Thời Hùng Vương đã có thầy giáo dạy chữ?

Từ Khôi | Thứ Tư, 25/04/2018 00:38 GMT +7

(Vanhien.vn) - Ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 Âm lịch hàng năm không chỉ thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn mà còn là niềm tự hào của người Việt trước bạn bè quốc tế.

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền viết theo lối chữ Việt cổ.

Về với cội nguồn dân tộc

Ngày 2/4/2007, khi điều 73 của bộ Luật Lao động được sửa đổi, bổ sung quy định cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ tổ Hùng Vương thì tâm thức người Việt Nam như được khơi gợi thêm về nguồn gốc dân tộc, Tổ quốc. Và đến ngày 6/12/2012, Lễ hội Đền Hùng đã được cả thế giới biết đến khi UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là một Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Năm nay, dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương đối chiếu sang lịch dương là vào ngày 25/4/2018. Nghĩa là gần với 4 ngày nghỉ cuối tuần và dịp lễ 30/4 và 1/5. Như vậy, dự kiến lượng du khách đổ về đền Hùng sẽ rất lớn.

Một Tổ quốc hình thành từ hàng ngàn năm trước công nguyên là điều rất hiếm đối với các quốc gia trên thế giới. Tiếc rằng trải qua thời gian lịch sử dài, nhất là bị ngoại xâm phương Bắc đô hộ, đồng hóa hàng ngàn năm nên quy mô, tổ chức của Nhà nước ta thời Hùng Vương đã dần bị mai một. Một số công trình nghiên cứu về thời đại Hùng Vương tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn không sao thỏa được ước nguyện của người dân Việt Nam.

Thế nhưng, qua hàng ngàn năm, hào quang rực rỡ của thời đại Hùng Vương vẫn còn đến ngày nay qua những chiếc trống đồng mà khảo cổ tìm được. Kỹ thuật làm trống đồng như thế nào vẫn là một bí ẩn. Những họa tiết, hình khối sinh động phản ánh cuộc sống đương thời hiển hiện. Chính điều đó khiến chúng ta suy nghĩ về một thời đại mà sự văn minh đã có chứ không phải là một xã hội bộ lạc, ăn hang ở lỗ, “chính sự dùng lối nút thắt” như có sử suy diễn.

Thần tích về những thầy giáo thời Hùng Vương

Niềm tin về thời đại Hùng Vương đã có những văn minh, có chữ viết, có những thầy giáo dạy chữ còn thể hiện ở nhiều tỉnh, thành. Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền (tức nhà văn Khánh Hoài mới mất), dành 50 năm nghiên cứu về chữ Việt cổ trong công trình của mình cho biết: Theo kiểm kê của Viện Viễn Đông Bác Cổ năm 1938 cho thấy, ở 16 tỉnh từ Nghệ An trở ra vùng đồng bằng Trung du Bắc bộ đã có nhiều di tích nêu lai lịch là trường học về thầy giáo, cô giáo, học trò thời Hùng Vương. Trong đó có tới 98 trường với 38 thầy giáo, 3 cô giáo, 107 học trò nam, 32 học trò nữ. Số địa phương có nhiều trường nhất là kinh thành Văn Lang (18 người), Hải Dương (14 người), Hưng Yên (12 người), Kinh Bắc (11 người), Hà Tây (cũ), Hà Nội, Thanh Hóa (9 người). Nhiều Ngọc phả còn ghi rõ tên thầy cô giáo và địa điểm nơi trường đóng.

Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền nêu cụ thể: Theo Thần tích thôn Xuân La, xã Nguyên Xá, phủ Tiên Hưng, Thái Bình có ghi Thời Hùng Vương thứ 6 có thầy Lý Đường Hiên dạy học ở trang Yến Vĩ, huyện Hoài An, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (nay thuộc Ứng Hòa, Hà Nội) có học trò là Cao Đường và Lý Đá đã về mở trường dạy học tại thôn Xuân La. Hai ông đã theo Thánh Gióng đánh giặc và hy sinh.

Thần tích thôn Tri La, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên cho biết: Thời An Dương Vương có Ngô tiên sinh dạy học ở Biện Sơn, huyện Lôi Dương phủ Thuận Thiên, châu Ái. Học trò là Phạm Đá và Phạm Dũng, con ông Phạm Đạt và bà Phạm Thị Duyên.

Thần phả thôn Tràng Đông, Việt Trì có viết: Thời Triệu có thầy Dương Như Tồn dạy học ở Lỗi Giang, Tế Giang (nay thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa) có học trò là Lữ Gia, tể tướng 3 đời nhà Triệu.

Thần tích thôn Hà Hào, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho biết: Thời Hai Bà Trưng có thầy giáo là Trương Long và cô giáo Phùng Thị Lan ở xã Đường Lâm (Sơn Tây) đến làng Hà Vĩ, tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn mở trường dạy học. Học trò là Thủy Hải và Đặng Giang sau là tướng của Hai Bà Trưng.

Tại thôn Khánh Hiệp, huyện Phúc Thọ (Hà Nội) có di tích đền thờ thầy giáo Đỗ Năng Tế và vợ là Tạ Cẩn Nương. Tương truyền đó là hai người thầy dạy của Trưng Trắc và Trưng Nhị. Đặc biệt, tại thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, hiện có di tích là một ngôi miếu nhỏ rộng chừng 7 - 8 m2. Đó là miếu Thiên Cổ, còn có tên khác là miếu Hai Cô. Miếu nằm dưới bóng hai cây táu cổ thụ có tuổi hàng ngàn năm. Mỗi độ hè về, từ trên cây lại rụng xuống những bông hoa vàng, hoa bạc. Trong miếu có đôi câu đối rất lạ: “Hùng lĩnh trung chi thắng tích/ Nam thiên chính khi linh từ” (Nghĩa là: Thắng tích của Hùng Lĩnh, đền chính khí của trời Nam).

Theo ngọc phả của miếu do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn thì đây là miếu thờ thầy Vũ Thê Lang người ở Mộ Trạch, Hải Dương và vợ là cô giáo Nguyễn Thị Thục quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc. Vũ Thê Lang là con của Vũ Công đã từng dạy học ở đây. Trong miếu thờ ngoài tượng thầy cô giáo còn có tượng hai học trò là công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa và thị nữ theo hầu.

Xung quanh thôn Hương Lan còn có một số địa danh liên quan đến việc học hành như Cầu Tràng, cây cầu đá bắc qua ngòi làm lối đi cho học trò về học trường Tràng Đông, Tràng Nam ở phía Đông kinh thành. Nơi ấy cũng có thầy Lỗ Công dạy học và có học trò Hoàng Trụ là con Lạc tướng Sơn Nam về theo học. Cách miếu chừng 1 km dưới tán cây da bò độc đáo là ngôi mộ của ba người con trai của thầy cô giáo Vũ Thê Lang, Nguyễn Thị Thục. Họ là những cận vệ của Hùng Duệ Vương và đã tự sát không chịu theo Thục Phán.

Ghi nhớ về người thầy xưa, ngày nay tại thành phố Việt Trì có một ngôi trường dân lập PTTH đạt chuẩn quốc gia mang tên Vũ Thê Lang.

Nguồn: langvietonline.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}