Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Tiểu thuyết Đất bản quê cha- bài ca quê hương sâu lắng của nhà văn Lường Vương Trung

Trần Đại Tạo | Chủ Nhật, 23/10/2016 10:00 GMT +7

Với nhiều tác phẩm nổi tiếng trong sáng tác: Inh Éng, Sóng Nặm Rốm, Núi mây và đàn bò, Mối tình Mường Sinh, Đất bản quê cha, và các tác phẩm nghiên cứu Mo khuôn, Táy pú xấc, Kén Kẻo, Nhà sàn Thái cổ...ông đã hiến tặng cho đời, cho đồng bào dân tộc Thái những khúc ca sâu lắng về tình yêu con người, cuộc sống trên quê hương Tây Bắc.Vương Trung- nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc và cả nhà Mo truyền thống của họ Lường nữa.
Khi tiểu thuyết Đất bản quê cha vừa xuất bản năm 2007 tôi đã được ông quý tặng. Có được vinh hạnh đó bởi tôi được quen biết ông từ lâu, được đọc nhiều tác phẩm của ông, được chia sẻ nhiều điều tâm sự gan ruột thầm kín của ông về thế sự vùng biên ải...  

Một ngôi nhà sàn ở Tây Bắc được làm bằng gỗ pơmu. (Ảnh: Điêu Chính Tới/TTXVN)

 Đọc tiểu thuyết Đất bản quê cha tôi có xúc cảm như vừa lạ, vừa quen về con người, cuộc sống, cảnh vật vùng Tây Bắc mà tôi đã gắn bó từ thời trai trẻ suốt 45 năm qua. Tôi cũng cảm xúc vừa quen, vừa lạ, vừa mới về bút pháp của tác giả viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng để ra đi mãi mãi.
Nội dung của tiểu thuyết là mối tình đầu của chàng trai trẻ tên Pâng cùng cô Sượi yêu nhau say đắm. Nhưng vì ông nội Pâng và ông nội Sượi xô xát tranh nhau nước ruông. Đến đời bố Pâng, mâu thuẫn hai nhà lại đẩy tiếp thành phân biệt giàu nghèo. Khi gia đình Pâng nhờ người đánh tiếng để đôi bạn trẻ xây dựng hạnh phúc, bố Sượi chê nhà bố Pâng: Chúng tôi đi đứng hai chân, không thể hạ thấp đi với rùa bốn chân. Rôi bố Pâng trả miếng thâm thù, nguyền rủa độc địa trước dân bản, mượn cả lời thiêng, vật thiêng là con rùa - tín ngưỡng của dân tộc: Xưa nay cả thiên hạ đã biết và mày cũng biết, rùa là đấng cứu tinh con người khỏi bị mắc sai lầm trước Then trời giả chết để cứu muôn loài. Con người mang ơn rùa, tôn thờ rùa đời đời kiếp kiếp và treo mai rùa trên xâu kẹ(cột thiêng trong nhà). Tao danh nghã rùa phán quyết tội mày, từ nay xâu kẹ của mày sẽ trơ trọi, khuynh gia bại sản, không xứng đáng làm người nữa, cả nhà mày hãy xuống đất đen làm mối". Thế là chậu nước đã đổ xuống đất không vớt lại được nữa, Pâng lang thang quyết chí làm giàu rồi cùng gặp Khay ở bản trong vùng đi làm đủ mọi việc, miễn là kiếm được tiền: làm thuê, làm công nhân lâm trường. bán hàng, đào vàng, buôn sừng tê giác, buôn thuốc phiện khắp các vùng Tây Bắc...nhưng đều thất bại, may mà thoát lưới pháp luật. Sau đó Pâng lấy Bua là em gái của Khay và lập nghiệp ở quê vợ. Rồi việc lại khó khăn, vợ chồng Pâng về quê làm lại từ đầu với bao vất vả, gian nan và trở thành nhà giàu có nhất vùng, là điển hình về làm ăn thời đổi mới. Cô Sượi- người yêu cũ của Pâng lấy chồng chính là anh trai của Khay nhưng vô cùng bất hạnh: chồng chết, mẹ góa, con côi. Ông Pâng có con gái là là Pun (ông Pâng pun) lại yêu say đắm cô Mín là cháu của ông nội bà Sượi. Hiềm khích hai gia đình vẫn chưa nguôi. Kết thúc câu chuyện là hận thù hóa giải, hai nhà đồng lòng, cháu con nên duyên, hạnh phúc. Đặc biệt ông Pâng đã tạo điều kiện đưa bà Sượi và con gái của bà trở về quê hương - cũng là nơi gia đình ông đang sinh sống, cùng xây dựng hạnh phúc cho các cháu cũng bởi ái tình mà coi con mình như con ta, con ta như con mình đó thôi. 
        Những mạch tư tưởng chính của tác phẩm Đất bản quê cha  là cuộc sống thường ngày, gian nan vất vả nhưng sâu nặng nghĩa tình của con người miền núi; Là việc đấu tranh bằng những việc làm cụ thể để xóa bỏ mặc cảm, mâu thuẫn để cùng nhau xây dựng hạnh phúc giữa hai gia đình và quê hương các bố đeo vác nặng mối thù đến nay cũng mệt rồi, rồi nên bỏ đi, đừng quàng sang cổ chúng con nữa, lôi cháu ra khỏi cành gai, chuỗi dằm móc mắc nhau giữa hai dòng họ; Là cuộc vật lộn làm ăn bền bỉ đầy chông gai, dũng cảm, táo bạo, trí tuệ để lột xác, vươn lên làm giàu chính đáng trong thời kỳ đổi mới ngay trên đất bản quê cha Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường không bằng mường treo nhau; Là những nét đẹp văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc được gìn giữ, phát huy; Là những cảnh cùng người đẹp đến xao lòng của xứ sở hoa ban; Đặc biệt là là tình yêu lãng mạn, bền bỉ vượt thời gian và không gian tưởng như trong huyền thoại mà ngồn ngộn giữa đời thường thực mà nhơ mơ, mơ giữa ban ngày vv... 
          Đọc Đất bản quê cha  ta thấy những tên người, dòng họ, địa danh bản, mường của quê hương Thuận Châu, các huyện, các vùng Sơn La, Tây Bắc. Tác giả đã cập nhật hiện thực đời sống đổi mới trên quê hương Sơn La: Định canh, định cư; phát triển kinh tế hộ; hợp tác, liên kết làm ăn; thuê khoán công việc; kinh tế trang trại: vườn, đồi, ao, chuồng; tích tụ ruộng đất; khai khẩn đất đai; làm lúa nước; đặc biệt là làm thủy lợi với bàn tay và trí óc thần kỳ của con người- điển hình là ông Pâng Pun đã làm mương dẫn nước qua vách đá Pha Dương huyền thoại cheo leo mà mọi người trong vùng mới đổi tên Pha Dương thành Pha Pâng Pun. Tên ông đã tạc vào vách núi và lòng dân Đất bản quê cha.
         Một tác phẩm văn học, nghệ thuật muốn vượt lên thời gian và không gian để sống được lâu bền trong lòng công chúng thì phải làm rung động vào 
sâu thẳm trái tim người đọc, để hút hồn, thôi miên họ, gợi cho họ những suy tưởng và cảm nhận nhiều chiều, nhiều vẻ. Với giá trị nghệ thuật tài tình của tác giả, Đất bản quê cha  đã làm được điều đó. Nói cách khác tác phẩm Đất bản quê cha  nổi trội nhất là ở nghệ thuật.
         Thứ nhất, kết cấu của Đất bản quê cha  khác nhiều so với truyện thơ truyền thống và cũng khác nhiều so với các tác phẩm trước đó của tác giả Vương Trung. Các kiệt tác dân gian Xống chụ xon sao, Khún Lú, náng Ủa và truyện thơ Inh Éng và tiểu thuyết Mối tình Mường Sinh của Vương Trung kết cấu đơn giản theo mạch thời gian, không gian. Nhưng Đất bản quê cha  đan xen hiện tại và quá khứ; đi từ giữa đi ra; đi từ sau mới lần ra trước. Mở đầu là ông Pâng pun cùng vợ là bà Bua lo chuyện cưới hỏi cho con gái nhưng lại vướng về mâu thuẫn gia đình hai bên từ thời ông, cha; tiếp theo lại là câu chuyện cu thể về sự mâu thuẫn, hiềm khích của thế hệ ông rồi truyền đến thế hệ cha; tiếp nữa là chàng trai trẻ Pâng không lấy được cô Sượi nên đã bỏ nhà đi trăm bản, mười mường kiếm sống; rồi lấy bà Bua nơi xa mong được yên ổn lập nghiệp; cuối cùng quyết tâm trở về đất bản quê cha làm lại từ đầu với việc làm ăn đổi mới, táo bạo, hiệu quả; rồi đón người yêu cũ trở về quê hương và xây dựng gia đình cho các con, các cháu; rồi lại hồi tưởng về mối tình lãng mạn thời trai trẻ Pâng- Sượi năm xưa; và kết thúc là hình ảnh ông già Pâng Pun ngồi đan lưới ngoài sàn và bà già Sượi cũng đang ngồi ngoài sàn bế cháu ngoại của ông. Họ lặng say nhìn nhau xa xa. Các tình huống: chàng trai nghèo không lấy được vợ, phải quyết chí đi xa làm giàu để có tiền quay lại cưới vợ; cảnh mối tình tay ba ta thường thấy trong các truyện thơ cổ dân tộc Thái như Tiễn dặn người yêu, Sự tích cây pí thiu...được nhà Văn Vương Trung kế thừa và phát triển. Khi sáng tác Vương Trung thường nói: không bó tròn trong dân tộc, nhưng không đi quá xa dân tộc. Có lẽ tất cả các tác phẩn truyện thơ dân gian và truyện hiện đại của dân tộc Thái chưa có tác phẩm nào lại kết cấu phức tạp, biến ảo như Đất bản quê cha. Đây cũng là bước đột phá, nâng cấp nghệ thuật so với các tác phẩm của chính ông đã viết. Ngay trong quá trình sáng tác thơ của Vương Trung cũng từng bước phát triển, vượt lên cái quen cũ, đơn điệu để tăng chiều sâu nghệ thuật mà đến bây giờ các tác giả thơ Thái mới đang mò mẫm. Ông là người mở lối cho cái mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật dân tộc Thái vùng Tây Bắc. Ông cũng tâm sự về con đường sáng tạo, nghệ thuật của mình: viết nhiều thơ rồi, cần phải viết tiểu thuyết để phản ánh kỹ hơn về đời sống. Viết tiểu thuyết khó quá, rồi quay về viết thơ, rồi lại quyết tâm viết tiểu thuyết...  
         Thứ hai, ngôn ngữ biểu đạt của Đất bản quê cha  vừa giàu tính truyền thống, đậm chất dân gian, vừa cập nhật ngôn ngữ hiện đại thời đổi mới, kinh tế thị trường. Những cụm từ nói về cảnh làm ăn bế tắc, khốn khó: "leo dốc gối va cằm, xuống đèo gót chạm mông", "trót lọt mấy chuyến, tiền nhanh như nước dâng", "nghĩ đi vướng lèn, nghĩ lại mắc sông", "thôi hết cách rồi đành phải gằm mặt suông, ngửa mặt nhẫn về với nhà", "kiếm đồng tiền vào tay trái rồi ra tay phải", "thằng đi bụi cùng đường về làm ve sầu đậu cột sàn kêu não nhà", "một người tiếp mười khách mong nghèo chẳng nghèo, một người ăn trộm mười lần cùng ngày mong giàu chẳng giàu". Nghe lời xưa, quyết tâm làm ăn trong đổi mới:"nương quá mắt không bằng ruộng một thửa", "bố nương, mẹ ruộng","nghe lời gió chết đói, nghe lời nước có ăn, nghe lời đất có mặc", "bạc mười tay nải không bằng tài năng đầy lòng". Cách tính toán làm ăn cần phải đổi mới theo cơ chế khoán việc, nếu không " người khỏe giảm sức, người tích cực giảm tinh thần". Trong mối quan hệ xã họi: "mười vội không bằng một thư, mười van không bằng một lạy", "câu thơ mọc từ bụng ai từ bao giờ không biết: nhìn đi nỗi khổ kề nhau chờ sắn, ngoái lại nỗi buồn kéo dài theo sau, "phận đàn bà như ống nứa rỗng"," dậu cũ nối lại thì tính gì tuổi tác", "mồm đi trước mắt, nghĩ ngắn bằng đoạn củi, nhìn đơn giản ngư quét rác"," tránh ao nổi sự đồn đại tai tiếng, gốc bằng đũa, đuôi bằng quạt", "nặng trên vai nặng có lúc, nặng trong lòng nặng triền miên", "xưa cũng vậy, nay cũng vậy, tè trong nước người ta cũng biết, cấm ai giấu kín việc gì"...Từng trang, từng trang của Đất bản quê cha  chúng ta như thấy tác giả làm xiếc ngôn từ của dân tộc Thái xa xưa và trong thời hiện tại.
          Thứ ba, Đất bản quê cha tả cảnh, tả tình thẫm đẫm chất thơ. Nếu như truyện thơ Inh Éng bằng tiếng Thái, đương nhiên là thơ rồi. Đồng bào Thái có lối hát thơ và thể hiện tác phẩm trên của Vương Trung cũng là hát thơ. Tiểu thuyết Mối tình Mường Sinh và Đất bản quê cha lại là tiểu thuyết văn xuôi bằng tiếng phổ thông. Thế mà nhiều cảnh, nhiều tình lại thấm đẫm chất thơ. Đôi lứa trao duyên, gửi phận cũng bằng thơ; sinh hoạt đời sống thường ngày cũng bằng thơ. Nhiều đoạn của tiểu thuyết dân hát thơ được. Cái tài, cái tình của Vương Trung đi vào lòng người là vậy. 
           Xuyên suốt mối tình của ông Pâng bà Sượi từ tuổi trăng rằm đến lúc về già đều là những bài thơ, khúc ca. Ông có tài huýt sáo đủ mọi làn điệu, nhất hát trao duyên. Bà lại đồng điệu tâm hồn những bài trao duyên đầy chất thơ hào hoa, đa tình, đa tài nơi ông. Họ gặp nhau là thơ; nghĩ đến nhau là thơ; thơ là tình, tình là thơ:
           Ngày ấy ta ra đi
           Khựng chân đây ngắm lại mường quê cũ
           Búi tóc sau gáy(1), đầy lòng nỗi buồn ái tình dở dang
           ....Giờ ta búi tóc trên thóp(2) mà vẫn cô đơn
            Mối tình đầu giữa Long và Nhói trong đêm thật thi vị: "có yêu không?""ừ...yêu lắm""lấy nhau chứ?""ứ"..ngả đầu vào nhau ghì xiết!"còn hỏi gì nữa không?""đủ rồi, rời nhau thế nào cho được" ngồi bên nhau ấm sườn, ấm tim". 
           Những câu ca trong lao động sản xuất: Thấy mường người chớ cầm đòn gánh đi rong/  Mường mình hoang hóa, cầm cuốc xới cào/  Hãy vỡ rừng lau nên ruộng/Phát rừng gianh nên bản/Bạt khóm chít mở đườn/...Có nước mới có ruộng/ Có cơm mới có cá/ Mới ở bền ăn nên
          Cảnh đồng quê đổi mới: Đồng tiếp đồng bao la/ Đồng xanh xanh cả mặt trăng/ Đồng vàng vàng cả trời mây... /Cá đàn lên gần sao bơi lượn/ lúa vàng ươm sát cử mặt trời/ Nóc nhà, trăng ghé lại chơi...  
          Người mẹ nựng con: Gội ngửa ngửa/ Gội nghiêng nghiêng/ Cho tóc đen/ Cho tóc mượt..
           Khi đọc các trang có các bài cúng của ông Mo thì đúng là những bài thơ đi thẳng vào tâm linh. Có lẽ chất Mo truyền dòng họ đã thấm vào máu thịt Vương Trung:
         Hãy xem kìa, 
         Quân tôi đông nghư cát 
         Voi ngựa tôi nhiều như mưa 
         Có thể nói: các bài Mo của dân tộc Thái là kho tàng đồ sộ của thơ ca dân gian, là cuốn bách khoa toàn thư tâm linh của đời sống xã hội Thái. Các truyện thơ, tiểu thuyết của Vương Trung, kể cả các tác phẩm nghiên cứu văn nghệ dân gian của ông đều có các bài cúng rất hay của các ông Mo.  
        Thứ tư, cái đẹp kinh điển, cái đẹp độc đáo, tươi mới của tình yêu đôi lứa được thể hiện tài tình trong Đất bản quê cha. Tình yêu đẹp đẽ ấy vừa thấp thoáng của Tiễn dặn người yêu, vừa có bóng dáng của Khún Nú náng Ủa vừa thấy đó đây trong Inh Éng, Mối tình Mường Sinh. Nhưng nổi lên là cái đẹp riêng không đâu có được giữa đôi trẻ Pâng và Sượi- Ông Pâng Pun và bà Sượi. 
         Tình yêu trong Hiến Hom là rượt đuổi hồn ma và người. Tình yêu trong Khún Lú náng Ủa xa xăm vời vợi chẳng bao giờ với được. Tình yêu trong Tiễn dặn người yêu có mối nhân quả đẹp đẽ trong tình yêu tay ba nhưng không khỏi day dứt- kết thúc là Người em yêu và Người anh yêu gặp lai nhau và lấy nhau, để cho cô vợ của Người anh yêu trở về quê ngoại. Tình yêu trong Inh Éng là cách trở rồi đoàn viên vui vẻ của anh Inh và cô Éng. Tình yêu trong Mối tình Mường Sinh giữa ánh giáo Sương và cô Ơn là đẹp đẽ, sáng trong nhưng không thể trở thành hôn nhân do bố người yêu là phản động. Tình yêu trong Đất bản quê cha có nét độc đáo hiếm có: Pâng và Sượi yêu nhau thời tuổi trẻ; Pâng và Bun kết hôn vợ chồng; ông Pâng Pun và bà Sượi vẫn giữ được tình yêu suốt đời và hai nhà cùng lo chuyện hạnh phúc cho con, cho cháu. Mối tình lãng mạn nhất đẹp nhất giữa Pâng và Sượi thời tuổi trẻ được tái hiện đoạn cuối cuốn tiểu thuyết xen trong hiện tai: Ông nhìn  sang Pom Pang bắt gặp bà Sượi ngồi giữa sàn, để yên đứa bé đỏ hỏn ngửa trên đùi phóng nắt về Ten Kó nhìn mình. Ông ngẩn người để quên tay trên mắt chài vá dở. Hai ông bà cùng ngồi thầm  lặng say mắt ngắm nhau xa xa. 
           Đọc Xống chụ son sao với mối tình tay ba, ta bùi ngùi cho vợ của Anh yêu phải nhường chồng cho Em yêu để về quê mẹ. Mối tình tay ba trong Đất bản quê cha cha lại lặng buồn cho bà Bua- vợ ông Pâng tuy có hôn nhân nhưng tình yêu lại nhạt nhòa quá. Cảnh huống ấy Vương Trung đã học được câu thơ cổ: 
            Hai ta không lấy được nhau
            Em hãy bế con ở gốc sàn
            Anh sẽ đan chài bên cửa sổ
            Nghe điều đẹp, lời hay ta cùng nhau cười
            Nghe điều đắng, lời cay ta cùng nhau khóc
           Tôi cũng được ông Cầm Kỷ kể về một mối tình lãng mạn của dân tộc Thái: tuổi trẻ yêu nhau, không lấy được nhau. Đến khi về già tình yêu vẫn còn đẹp: hai cụ ngồi sưởi nắng ở hai sàn nhà giáp nhau, trò chuyện cùng nhau, rồi các cụ cầm cây gậy móc vào nhau...Tình yêu của nhân loại là thế đó, tình yêu đặc sắc của đồng bào Thái cũng thế đó! 
         Trong Đất bản quê cha có nhiều đoạn tả tình yêu, tôi thấy 3 đoạn tả cảnh tình yêu tuổi trẻ Pâng- Sượi thật đẹp, thật thơ. Cảnh Pâng vô tình nhìn người phụ nữ tắm suối ban đêm: khối trắng lúc dựng đứng, trắng mịn, tỏa sáng trên mặt nước, lúc thì chìm mất trong nước. thỉnh thoảng khối trắng nằm dài di động. Rồi hai người nhận ra nhau... rồi Sượi nói"cứ thế mà nhìn, tiếc nhỉ?". Cảnh Sượi khóc nhớ mối tình đầu với Pâng trong đêm tân hôn trước khi chồng cô vào động phòng: cô lột vỏ chiếc gối của mình sắp gối ra, úp mặt vào ruột gối khóc, ruột gối vừa hứng hút lấy nước mắt cô như bầu nước vỡ, nước mắt vĩnh biệt mối tình đầu, vĩnh biệt người con gái:"nhớ tình nước mắt chảy ướt đệm, nước mắt đổ sũng gối, ngấm đậm vào bông gạo hồi sinh mọc mầm"...
          Tôi cảm phục nhất đoạn Pâng ban đêm đến gầm sàn viết thư cho Sượi để đi xa làm ăn: Bỗng nước mắt mình đổ xuống tưới mảnh thư. Mình đua thư qua lỗ hổng chân cột cạnh đầu đệm. một hồi mảnh giấy thò qua chỗ đó xuống. mình đỡ lấy mà đọc dưới trăng:" thư thấm đậm nước mắt của anh, em đang ngậm để để vị mặn ngấm cả lên óc, xuống tim! tí nữa em nuốt! Đừng nói nữa thêm buồn, thêm đau, trước khi đi anh ngửa mặt theo cột để em gửi giọt tình cuối cùng"....nước mắt mình trào hòa nước mắt cô...mình mở môi hứng nước mắt cô vào miệng....mình đứng lặng, quàng hai tay ôm chặt cột dường như áp má phinh phính, hôi hổi người yêu, ghì tấm thân thon tròn mềm mại người yêu...
        Có lẽ yêu đến thế là cùng, yêu như tạc hình vào tim, như khắc tượng đài vào đêm, vào núi rừng Tây Bắc...Đoạn tả tình đặc sắc này của đôi bạn trẻ được tác giả cố ý để ở đoạn cuối cuốn tiểu thuyết khi hai người đã là ông, là bà để càng treo giá ngọc của tình yêu xuyên thời gian, treo giá ngọc của Đất bản quê cha.    

------------
(1),(2)Búi tóc sau gáy là chưa có chồng, búi tóc trên thóp là đã có chồng  

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}