Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Bảy, 16/11/2019 05:47

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

TỔ QUỐC

Hà Minh Đức | Thứ Bảy, 01/10/2016 10:20 GMT +7

 Lời người viết : Cuộc đời rộng lớn và đổi thay luôn tạo cho con người nhiều suy nghĩ. Theo dòng thời gian tôi muốn ghi lại đôi cảm nghĩ dưới hình thức của tản văn, của lời nói gần gũi với đời thường. Đã có những danh ngôn, ý tưởng đẹp tôi tìm đến, ghi nhận để tham khảo, học tập. Như con thuyền nhỏ trước cơn sóng lớn, như cánh chim bay lượn trong không gian hẹp của vùng quê. Làm sao hiểu được cái bao la, rộng lớn của cuộc đời. Tuy nhiên, bằng sự trải nghiệm của bản thân, với cái thấy, cái nghe và cảm nghĩ trực tiếp, tôi ghi lại đôi dòng về Tổ quốc, gia đình, văn hóa, hạnh phúc, thời gian, cá nhân, nghệ thuật, quyền lực và lịch sử. Mong được sự thông cảm.
Tháng 5/2015
Hà Minh Đức

GS Hà Minh Đức

I. TỔ QUỐC
1. Không có gì quý hơn độc lập tự do, phương châm và mệnh lệnh thiêng liêng của Tổ quốc.
2. Nam quốc sơn hà, Bình ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập là những bản hùng ca của đất nước, thấm đẫm lòng tự hào dân tộc và vẻ vang thay những kỳ tích của dân tộc qua những chặng đường lịch sử.
3. “Tổ quốc hay là chết”, sự đối kháng cao điểm về ý tưởng và ngôn từ nói lên sự thiêng liêng của tổ quốc, không thể gì so sánh và đánh đổi được.
4. Trong cuộc đời mỗi người chỉ có một mẹ, một trái tim và một Tổ quốc để yêu thương.
5. “Tình yêu Tổ quốc là tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi con người”.
6. Nhà thơ Xuân Diệu viết:
Tình yêu tổ quốc là đỉnh núi bờ sông
Đến lúc tột cùng là dòng huyết chảy
7. Nhà thơ Chế Lan Viên viết:
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi căn nhà, ngọn núi, con sông
8. Tổ quốc nghèo ta yêu thương, Tổ quốc anh hùng ta tự hào, Tổ quốc giàu có là điều mong ước, Tổ quốc bị xâm lược mọi người xin hiến dâng cuộc đời của mình để bảo vệ Tổ quốc.
9. Nhà thơ Tố Hữu viết:
Ta sẵn sàng xé trái tim ta
Cho Tổ quốc và cho tất cả
10. Tình yêu Tổ quốc khởi đầu là tình yêu quê hương và mở ra đến trăm miền của đất nước và nhân lên với trăm nỗi yêu thương.
11. Phản quốc là tội lỗi, xấu xa, tệ hại nhất, không thể tha thứ.
12. Những người có hai quốc tịch phải tự hiểu những gắn bó máu thịt của mình với quê hương, Tổ quốc nào.
13. Tình yêu Tổ quốc không mâu thuẫn với tình cảm quốc tế chân chính.
14. Mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có quyền bình đẳng trong quan hệ quốc tế.
15. Dùng sức mạnh của nước lớn để áp bức nước nhỏ là hành động của kẻ xâm lược.
16. Mỗi quốc gia phải biết tự trọng và tôn trọng trong mối quan hệ với các quốc gia khác.
17. Tình yêu Tổ quốc trước tiên phải thể hiện ở ý thức và trách nhiệm của một công dân tốt, tiếp nữa là phải hiểu bản chất, sức mạnh và vị thế của dân tộc mình.
18. Hiểu biết về một dân tộc là điều khó khăn kể cả với dân tộc mình. Điều đó luôn nhắc nhở sự thận trọng ý thức tìm hiểu những giá trị của mỗi dân tộc.
19. Đặc trưng và sức mạnh của một dân tộc được biểu hiện qua truyền thống của dân tộc, vị thế hiện tại của dân tộc về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho đến sự giàu có và vẻ đẹp của  thiên nhiên.
20. Trong cuộc đời cũ một số người chỉ hiểu đất nước qua quê hương với hình ảnh làng quê chân thực, đậm nét. Cách mạng đã mở ra tầm nhìn về trăm miền đất nước.
21. Sau cách mạng tháng Tám, dân tộc Việt Nam có một vị thế quan trọng, đặc biệt sau chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược rồi công cuộc đổi mới thắng lợi. Nhận thức về Tổ quốc được mở ra theo sự phát triển của lịch sử.
22. Tổ quốc không phải là một khái niệm trừu tượng, một nội dung khép kín mà là một thực thể luôn mở rộng, vừa tiếp nhận, vừa quảng bá những cái mới. Thái độ tự ti dân tộc là thiếu ý thức tự trọng, thiếu trách nhiệm công dân và tinh thần thực sự cầu thị với những đổi thay của đất nước.
23. Đất nước Việt Nam theo báo chí có 8 triệu người có công với cách mạng, trước hết là những liệt sĩ, thương binh, những bà mẹ anh hùng, những chiến sĩ có công lao trong các cuộc kháng chiến. Mỗi người cũng phải tự biết mình đã đóng góp gì cho đất nước và đã xứng đáng chưa khi nghĩ đến cuộc đời chung của mọi người, nhất là những người đã hy sinh cho Tổ quốc. Ngoài 8 triệu người có công đức với cách mạng còn có hàng chục triệu người trong nhà máy, ruộng đồng, trường học đã ngày đêm lao động để xây dựng nên non nước này.
24. Tổ quốc hôm nay rạng rỡ trong những kỳ tích của công cuộc đổi mới, và vị thế chính trị với các dân tộc. Tuy nhiên, đất nước cũng đứng trước những thử thách phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ từng tấc đất của cha ông để lại. Mỗi cá nhân phải sẵn sàng chờ nhật lệnh, phải luôn lắng nghe “Tổ quốc gọi tên mình”.
II. VĂN HÓA
1. Văn hóa là một trong những thước đo chính xác trình độ của một đất nước, một con người về giá trị vật chất cũng như tinh thần.
2. Văn hóa không phải chỉ là vẻ đẹp phù hoa trang trí. Bản chất và vẻ đẹp của văn hóa không cần nhiều đến sự tô điểm.
3. Trong phạm vi hẹp, văn hóa định hình rõ nét ở mỗi cá nhân và rộng ra là của cộng đồng.
4. Văn hóa tập trung ở lời nói, cử chỉ, đạo đức, học thức và cách ứng xử của mỗi người. Những phẩm chất ấy không tự nhiên mà có mà phải do sự giáo dục, rèn luyện, học tập trong suốt cuộc đời.
5. Mỗi người thường không dễ tự nhận thức được trình độ văn hóa cá nhân, cũng giống như tự phê bình phải có sự hỗ trợ của phê bình.
6. Sự huênh hoang về trình độ văn hóa thường dẫn đến sự khôi hài.
7. Trong xã hội cũ thường có sự phân chia giữa hai dòng văn hóa bác học và bình dân, giá trị của văn hóa không phụ thuộc vào giai cấp và quyền lực chi phối đến dòng văn hóa chính thống hay không chính thống.
8. Văn hóa phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế nhưng có một bộ phận ít lệ thuộc là văn hóa phi vật thể.
9. Văn hóa cộng đồng là văn hóa nền của một dân tộc nhưng trên cái nền chung phải có đỉnh cao của văn hóa dân tộc, nhất là sự thăng hoa của tài năng cá nhân.
10. Văn hóa truyền thống phong phú nhưng không dễ phát hiện và tôn vinh.
11. Văn hóa phi vật thể mang sức sống của dân tộc, cho dù cơ sở xã hội có sự đổi thay, văn hóa phi vật  thể vẫn tồn tại với thời gian như cách nói của Ăng-ghen với những ca khúc Ai-rơ-len.
12. Văn hóa phi vật thể thường là sản phẩm của từng vùng, từng địa phương nhưng lại có giá trị phổ cập trong cộng đồng.
13. Với mỗi cá nhân, văn hóa có nhiều cấp độ, danh nhân văn hóa kiệt xuất mang tầm thời đại, danh nhân văn hóa của dân tộc, của văn hóa vùng, văn hóa chuyên ngành.
14. Nhận thức và sử dụng vai trò của văn hóa là điều không dễ trong chính sách của một nhà nước, nhất là trong chiến tranh và nền kinh tế thị trường.
15. Văn hóa đi trước dễ tạo nên sức mạnh về tinh thần kể cả vật chất cho một dân tộc.
16. Người có văn hóa có tầm nhìn xa không bị cái trước mắt, cái hữu hạn che khuất và ngăn chặn. Lãnh đạo văn hóa phải có văn hóa. Không chỉ một kinh nghiệm, một nguyên tắc mà cao hơn là một chân lý.
17. Văn hóa vật thể và phi vật thể là thành quả song hành của một dân tộc, nhưng không dễ bao giờ  cũng tạo được sự phối hợp hài hòa.
18. Chuẩn mực cao nhất của văn hóa là giá trị nhân bản gắn bó với con người, vì con người.
19. Văn hóa vật thể và phi vật thể là hai thành quả song hành của văn hóa một dân tộc, nhưng văn hóa phi vật thể thường phổ biến hơn, nhất là ở những nước nghèo khó.
20. Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” tỏa sáng chất trí tuệ và tầm nhìn xa, không chỉ ở một thời mà của muôn đời.
21. Giá trị văn hóa có thể biến hóa thành các giá trị chính trị, kinh tế, xã hội.
22. Thiếu văn hóa là cách nói có tính sỉ nhục nặng nề với con người.
23. Văn hóa có thể thâm nhập vào toàn bộ cuộc sống từ lời nói, cử chỉ, đạo đức, tri thức và cách ứng xử của mỗi con người. Tất cả được biểu hiện tự nhiên không tô điểm, giả tạo.
24. Có nhiều loại văn hóa: Văn hóa Đảng, văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử, văn hóa du lịch, văn hóa giao thông, văn hóa ẩm thực, văn hóa tình dục, văn hóa dịch vụ,...
25. Một xã hội văn minh, tất cả mọi hoạt động văn hóa đều phải có chuẩn mực và trình độ cao.
26. Văn hóa là trình độ, là nội lực của mỗi con người. Đó là yếu tố nội sinh nhưng cũng là sự cộng hưởng, tiếp nhận những giá trị văn hóa cộng đồng.
27. Một quốc gia có sức mạnh và thế lực ở mặt nào thì thường có văn hóa về mặt ấy.
28. Sự nghèo khổ không dễ tiêu diệt nhưng có thể hạn chế và cản trở sự phát triển của văn hóa.
29. Văn hóa truyền thống Việt Nam nặng về văn hóa đồng quê, văn hóa lúa nước, văn hóa hội hè và ứng xử.
30. Việt Nam đang phát triển văn hóa đô thị, văn hóa công nghiệp, những loại hình văn hóa của một nước phát triển.
31. Giao lưu quốc tế là một loại văn hóa tổng hợp bao gồm nhiều lĩnh vực về chính trị, xã hội, nghệ thuật, du lịch...biểu hiện trình độ phát triển của một đất nước.
32. Văn hóa là một dòng chảy từ truyền thống đến hiện đại, từ một quốc gia mở rộng ra đến thế giới. Đóng cửa văn hóa dễ rơi vào cảnh tù hãm, có thể làm hao mòn các giá trị văn hóa của dân tộc.
33. Người có văn hóa không dễ giao tiếp với người không có văn hóa và ngược lại.
34. Chế độ tư bản phát triển văn hóa hưởng thụ nhưng không hạn chế được sự hưởng thụ vô văn hóa.
35. Văn hóa làng có giá trị bền vững nhưng thường khép kín. Văn hóa làng là nội lực, là linh hồn của xứ sở nông nghiệp. Văn hóa làng là văn hóa cộng đồng có sức mạnh của tập thể và độ dày của thời gian.
36. Văn hóa cộng đồng suy cho cùng quy tụ ở mỗi cá nhân. Trình độ văn hóa của một quốc gia được thể hiện và cũng ghi dấu ấn rõ nét ở mỗi cá nhân.
37. Văn hóa của con người là văn hóa toàn diện, không nên và không thể hạn chế sự phát triển của văn hóa cá nhân ở bất kỳ phương diện nào.
38. C. Mác nói: Con người là sự tổng hòa của những quan hệ xã hội nhưng chủ yếu nói về bản chất xã hội của mỗi cá thể và chưa quan tâm đến con người thể hiện ở khía cạnh bản năng và nhu cầu tâm linh.
39. Văn hóa tâm linh là văn hóa mơ ước, tìm sự tin cậy, che chở ở thế lực siêu nhiên, không có trong trần thế.
40. Văn hóa tâm linh khác biệt với mê tín dị đoan. Nhưng không dễ phân biệt nhất là ở những miền đất còn nghèo khổ.
41. Bản năng là tiếng nói của thân thể, xương cốt, da thịt, chiếc bình chứa đựng tâm hồn. Ý chí có khả năng kiềm chế những nhu cầu bản năng và ngược lại những người thiếu văn hóa thường bị bản năng chi phối.
42. Xung lực bản năng có khi thường lớn hơn khả năng kiềm chế, nhất là người trẻ và người thiếu văn hóa.
43. Sự hình thành những nền văn hóa truyền thống gắn với lịch sử dân tộc qua độ rất dài về thời gian như văn hóa của Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có những sự đột phá ở một số dân tộc hình thành trong một vài trăm năm như Mỹ, Canada.
44. Văn hóa là những giá trị dễ cảm thông, giao hòa giữa các dân tộc, kể cả các dân tộc khác biệt về chế độ chính trị.
45. Trong một quốc gia, có thể có nhiều dân tộc. Mỗi dân tộc lại có nền văn hóa riêng. Vấn đề quan trọng là biết tổng hợp, tạo được văn hóa chung tiêu biểu cho các dân tộc, kể cả những dân tộc nhỏ bé.
46. Giá trị văn hóa mang dấu ấn thời gian. Có chiếc đàn piano nhưng không thể xem nhẹ chiếc đàn đá vì đó là tinh hoa của một thời.
47. Văn hóa một dân tộc như một tảng băng, phần nổi lên có thể nhỏ hơn phần chìm sâu, do đó việc tìm hiểu phát hiện phải có thời gian, phải có trình độ.
48. Văn hóa bắt đầu từ việc học hành, tiếp nhận tri thức. Những kiến thức trong nhà trường là bước khởi đầu và tiếp theo sau là những bài học của cuộc đời góp phần quan trọng cho việc lập thân, lập nghiệp.
49. Một người ngu dốt dễ mắc phải những lầm lỗi. Một dân tộc thiếu tri thức và tầm nhìn dễ rơi vào “bi kịch của sự ngu dốt”.
50. Ngoại ngữ là con đường mở ra cho việc giao lưu giữa các nền văn hóa. Người tinh thông nhiều ngoại ngữ có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa khác nhau của nhân loại. Không biết ngoại ngữ là tự bó, tự thu mình lại trong một vốn tri thức hạn hẹp.
51. Văn hóa gắn liền với  sự học hỏi và khiêm tốn. Người tự kiêu là tự không biết mình, hạn chế khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa.
52. Sự hòa hợp giữa nam và nữ trong hôn nhân trước hết là sự hòa hợp về văn hóa.
53. Đối với mỗi cá nhân, tiền bạc không dễ tạo nên những giá trị văn hóa. Sự nghèo khổ hạn chế sự phát triển văn hóa nhưng những kẻ giàu có, hãnh tiến, kiêu ngạo thường thể hiện tình trạng thiếu văn hóa trong ửng xử, giao tiếp.
54. Văn hóa phát triển đến một trình độ nào đó thì trở thành văn minh. Nhân loại đã tạo ra được nhiều nền văn minh ghi dấu ấn sự phát triển tỏa sáng trí tuệ của con người.
55. Các nền văn minh từ thời cổ đại, đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, động cơ hơi nước, điện khí, điện tử, thông tin đã nâng cao trình độ văn hóa các dân tộc nhưng sự tiếp nhận và ứng dụng cũng không dễ dàng.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}