Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Từ một góc khuất của tiểu sử Thái tổ Mạc Đăng Dung

GS.TSKH. Phan Đăng Nhật | Thứ Hai, 13/01/2020 16:29 GMT +7

Thái tổ Mạc Đăng Dung, chủ yếu và cơ bản là thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, có lúc làm nghề sông nước, chỉ  là giai đoạn ngắn, không thể lấy một đoạn ngắn thổi phồng lên nói đó là toàn thể một cuộc đời và một dòng tộc.      

                                                              

 

            MỞ ĐẦU

            Tiểu sử của Thái tổ Mạc Đăng Dung có một góc khuất, ít ai biết đến. Đó là ông Mạc Đăng Hùng,  chú ruột của Thái tổ, và em của thân sinh Thái tổ, bị tử hình dưới triều Lê Uy Mục. Chúng tôi tìm hiểu vấn đề này, chỉ ra đặc điểm cơ bản của gia tộc Mạc Thái tổ.

            TRIỂN KHAI

  1. Giới thiệu tư liệu

Có 5 tư liệu:

1.Họ Mạc ở Nghệ Tĩnh

Ban biên tập: Phan Xuân Thúy, Phan Đăng Diêu, Phan Đăng Ngạn.   Bản tộc phả này hoàn thành tại từ đường họ Mạc ngày 20-7 năm Kỷ Mùi (11 tháng 9 năm 1979). Sau đó, anh em ở Hà Nội có tham gia biên tập: Phan Xuân Hạt, Phan Đăng Tài, Hoàng Văn Đồng, Phan Đăng Nhật.

2.Lich sử sơ yếu chi họ Phan Đăng

Phan Xuân Thúy, Phan Đăng Diêu, Phan Đăng Ngạn, viết tại từ đường Phan Mạc tộc, Hoa Thành, Xuân Giáp Dần, 1974.

3.Hợp biên thế phả họ Mạc.

Ban liên lạc họ Mạc, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2007

                 4.Giòng tộc ta, tổ tiên ta…

Ban liên lạc Mạc tộc thành phố Vinh, Xuân Đinh Sửu, 1997.

                 5. Câu đồi tại nhà thờ họ Vũ Mạc.

Nguyên lưu thế phả,Đông Hải, Thanh Hà huyện, dỹ lai;

Phiệt duyệt gia thanh, Trần triều, Mạc trạng nguyên, chi hậu.

(Tạm dịch: Thế phả còn lưu, Đông Hải, huyện Thanh Hà , mà đến;

Gia thanh phiệt duyệt, hậu duệ của Mạc trạng nguyên, triều Trần)

  1. Các  nội dung chính

1.Tóm tắt vụ án túc cầu

-TL1 viết: “. Ông Mạc Đăng Hùng. Ông là con thứ ông Đăng Thiệu, thông minh lỗi lạc, võ nghệ siêu quần, thi đậu trạng nguyên võ dưới triều Lê Uy Mục.

Ông giỏi đá cầu, cưỡi ngựa, bắn cung nên được vua Lê Uy Mục rất thân tín, thường triệu vào cung cùng chơi cầu, tỉ thí. Muà xuân năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Đoan Khánh, vua Lê Uy Mục cưỡi thuyền rồng ra chơi trên sông Thiên Đức (tức là con sông Bắc Giang ngày nay, đi qua hai huyện Đông Ngàn và Quế Dương), để xem các quan đá cầu, diễu võ. Ông Hùng biểu diễn đá cầu một cách tuyệt diệu, suốt trăm lần, quả cầu không rơi. Vua đứng trên thuyền  xem mãi không chán. Chẳng may, sau đó, quả cầu rơi vào thuyền ngự, phạm vào vua, ông bị kết án tử hình.”( Sách Họ Mạc ở Nghệ Tĩnh, tr.22)

-TL2 viết: “ Mạc Đăng Dung  (niên hiệu Minh Đức). Ngài là con cả ông Mạc Đăng Thuật, có sức khỏe hơn người, dung mạo khác thường tài kiêm văn võ, trí dũng xuất quần, luận văn chương thì tam hoài Khổng, Mạnh; bàn võ lược thì chí sánh Tôn, Ngô (Tôn Tẫn, Ngô Khôi). Người đương thời đều biết tiếng và cảm phục.

            Lúc bấy giờ, vua Mục Tông nhà Lê thường cùng triều thần đấu võ, đá cầu, vui chơi. Các bậc tài năng trong thiên hạ đều về Kinh thi đấu võ. Mạc Đăng Dung  là cháu  Đăng Hùng cũng về Kinh. Đăng Hùng đậu trạng nguyên, được nhà vua thân yêu cho ra vào cung cấm, thường cùng vua đấu cầu cưỡi ngựa. Một hôm, vào tháng giêng năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Đoan Khánh, vua Mục Tông ra chơi ở sông Thiên Đức, cùng bá quan đá cầu , diễu võ. Đăng Hùng đá cầu một cách tuyệt diêu, trên 100 lần cầu không rơi. Vua ngự  trên thuyền rồng xem không chán. Bỗng quả cầu rơi vào thuyền rồng, phạm vào vua. Nhân việc đó Đăng Hùng và Đăng Thuât bị vạ.

            Đăng Dung bèn đem mẹ lánh nạn tại vùng Tam Giang, làm đình trưởng, chèo  đò qua sông để dấu hình tích.” (Sách  Lịch  sử sơ yếu chi họ Phan Đăng, tr.12)

2. Kết án

-TL2 viết “Bỗng quả cầu rơi vào thuyền rồng, phạm vào vua. Nhân việc đó Đăng Hùng và Đăng Thuât bị vạ.” (Sách  Lịch  sử sơ yếu chi họ Phan Đăng, tr.12)

-TL4 ghi”Nhưng sau khi vụ án túc cầu xẩy ra, trạng nguyên Mạc Đăng Hùng bị giết. (Sách Giòng tộc ta,Tổ tiên ta,…. Bài của Phan Đăng Hồng, tr 53)

-TL1 viết: “ Chẳng may, sau đó, quả cầu rơi vào thuyền ngự, phạm vào vua, ông bị kết án tử hình.”( Sách Họ Mạc ở Nghệ Tĩnh, tr.22)

 3.Ảnh hưởng của vụ án

-Tư liệu 4 ghi “ Nhưng sau khi vụ án túc cầu xẩy ra, trạng nguyên Mạc Đăng Hùng bị giết, gia tộc thất sủng, bị giáng xuống thứ dân, gia cảnh trở nên điêu đứng, đành phải lấy nghề đánh cá nuôi thân” (Sách Giòng tộc ta,Tổ tiên ta,…. Bài của Phan Đăng Hồng, tr 53)

-Tư liệu 2 ghi: “Bỗng quả cầu rơi vào thuyền rồng, phạm vào vua. Nhân việc đó Đăng Hùng và Đăng Thuât bị vạ. Đăng Dung bèn đem mẹ lánh nạn tại vùng Tam Giang, làm đình trưởng, chèo  đò qua sông để dấu hình tích.” (Sách  Lịch  sử sơ yếu chi họ Phan Đăng, tr.12)

4. Nhận định về gia thế

Tư liệu 4 ghi: “Là dân “hạ bạn” nhờ ngành võ mà nên, như Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép: “ Đăng Dung người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, lúc bé làm nghề đánh cá, đến khi lớn có sức khỏe thi đô lực sỹ xuất thân khoảng năm Hồng Thuận, thăng làm đô chỉ huy sứ Vũ Xuyên bá”. Từ một người đánh cá mà đạt đến tước bá của triều Lê đầy rẫy các nhà khoa bảng, chắc không phải à đơn giản. Phải chăng họ Mạc là những người lao động đánh cá sông biển vùng Đông Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là những người tiếp cận với thị trường nôi địa và ngoài biển ở thế kỷ 16, khi mà giao thương hàng hải vùng biển Đông đã phát triển” (Sách Giòng tộc ta, tổ tiên ta,… bài của GS Văn Tạo, tr. 21)

            “Đấy là chưa kể tổ tiên họ Mạc, không ai quên, là có Mạc Đĩnh Chi, một trí thức tài năng triều Trần Anh Tông, đỗ trạng nguyên, đi sứ sang nhà Nguyên đã làm rạng dang đất Việt một thời. Từ quê hương miền bán sơn địa Chí Linh, nổi tiếng với kiếp bạc , Côn Sơn, họ Mạc đã tỏa ra sinh sống rải rác ở vùng Hải Đông. Một nhánh định cư ở vùng “hạ bạn Cổ Trai huyện Nghi Dương, không phải đã không kế thừa  được những tinh hoa của cha ông, vừa  lao động nông công thương nghiệp, vừa lao động trí óc theo dòng Mạc trạng nguyên.

            Nêu ra như vậy không nhằm chỉ đề cao họ Mạc, mà muốn là để có thái độ công bằng hơn, chống lại những luận điểm coi Mạc là “Dân võ biền , vô học” “Dân ngu khu đen”… ; để đến chỗ lên án hành động “thoán nghịch” có tính chất “Ngu đần, dại dột “ của họ”  (Sách Giòng tộc ta, tổ tiên ta,… bài của GS Văn Tạo, Nhà Mạc không phải là ngụy triều, tr. 22)

            Gia thế-những người đỗ đạt và làm quan dưới triều Lê:

            -Mạc Đăng Thành : Ông là con thứ hai của ông Mạc Đăng Vỹ, tư chất thông minh lỗi lạc. Năm 18 tuổi thi đỗ trạng nguyên, niên hiệu  Thiên Bình triều Lê Thái Tông, tứ là vào khoảng 1434-1439. Ông làm quan đến thượng thư bộ Binh, thọ 64 tuổi. Vợ là Tào tiểu thư, húy là Đát.

            -Ông Mạc Đăng Quế: Ông là con thứ ba của ông Mạc Đăng Thành, đậu giải nguyên.

\           -Ông Mạc Đăng Bồi: Ông là con thứ 5 cả ông Mạc Đăng Quế, làm quan trấn phó.

            -Ông Mạc Đăng Cầu: Ông l;à con thứ 6 ông Đăng Quế, làm quan phó tổng trấn Sơn Nam.

            -Ông Mạc Đăng Phú: Ông là con một của ông Mạc Đăng Xương, đậu giải nguyên đời Qang Thuận, triều Lê Thánh tông, tức là vào khoảng 1460-1469.

            -Ông Mạc Đăng Tiến: Ông là  cả ông Mạc Đăng Nghị, đậu tiến sỹ đời Hồng Đức, triều Lê Thánh Tông, tức là vào khoảng năm 1480-1489.

            -Ông Mạc Đăng Đạt: Ông là con thứ ông Mạc Đăng Nghị, đậu tiến sỹ đời Hồng Đức, triều Lê Thánh Tông.

            -Ông Mạc Đăng Hoành: Ông là con trai ông MạcĐăng Đạt, đậu tiến sỹ đời Lê Hồng Đức, làm thượng thư bộ Hộ, tước Diệu Đức hầu, hiệu là Đạm Khê tiên sinh. Ông đã đi sứ Trung Quốc.

            -Ông Mạc Đăng Hào: Ông là con thứ 3 ông Mạc Đăng Đạt, hàn quan đế Hàn lâm Hậu thảo.

-Ông Mac Đăng Thuần: Ông là con thứ 5 ông Mạc Đăng Đạt, năm 19 tuổi theo anh là Mạc Đăng Hoành đi sứ sang Trung Quốc, thi đậu Hiệp Tài ở bên ấy, làm quan đến chức nội Hàn Điển, triều đình Hiển Tông. Ông lấy công chúa nhà Minh là Gia Bình và ở lại Trung Quốc..

            -Ông Mạc Đăng Thuật: Ông là thân sinh Thái tổ Mạc Đăng Dung,

con cả ông Đăng Thiệu, đậu tiến sỹ niên hiệu Đoan Khánh, triều Lê Uy Mục.

            - Ông Mạc Đăng Lượng: Ông là con cả ông Đăng Trắc, đậu tiến sỹ năm 17 tuổi, làm quan triều Lê, được phong Quận công.

            KẾT LUẬN

Chúng tôi đã rút ra 4 điểm chính về nội dung: tóm tắt vụ án túc cầu, kết án, ảnh hưởng của vụ án, nhận định về gia cảnh; từ đó kết luận như sau:

1.Trước hết phải khẳng định gia tộc của Mạc Thái tổ vốn là trâm anh thế phiệt, từ đời Lý qua Trần,  đến đời Lê có nhiều khoa bảng và quan tước.

Đời Lý có Mạc Hiển Tích đỗ đệ nhất giáp tiến sỹ, hàn lâm viện học sỹ, thượng thư bộ Lại.

Mạc Kiến Quan, em của Mạc Hiển Tích, đỗ tiến sỹ , thượng thư bộ Công

Đời Lê có nhiều người đỗ đạt và làm quan: Mạc Đăng Thành, Mạc Đăng Quế, Mạc Đăng Bồi, Mạc Đăng Cầu, Mạc Đăng Phú, Mạc Đăng Tuấn, Mạc Đăng Đạt, Mạc Đăng Hoành, Mạc Đăng Hảo, Mạc Đăng Thuần, Mạc Đăng Phác, Mạc Đăng Lượng…

Trong số những người hiển đạt trên đây, tiêu biểu là lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.

 Lâu nay người ta chỉ thường ca ngợi Ngài một mặt, tài năng về văn chương:  phú Ngọc tỉnh liên, câu đối quá quan, đối đáp ở triều Nguyên , Trung Quốc,….Đúng là Ngài có tài về văn chương, và văn chương có vai trò quan trọng trong cuộc sống của cá nhân  và cộng đồng.

Nhưng, không những có thế, Mạc Đĩnh Chi còn là một tài năng về kinh bang tế thế. Ông làm tể  tướng dưới 3 triều vua Trần: Anh Tông (1293), Minh Tông (1314-1329), Hiến Tông (1329-1341), tất cả là 48 năm. Trong gần nửa thế kỷ làm tể tướng, Ngài đã chỉ đạo và xử lý hằng hà sa số công việc lớn-nhỏ, phức tạp-giản đơn, thuộc các lĩnh vực: nội trị, ngoại giao, coi sóc dê điều, khuyến học, khuyến nông, phát triền văn hóa, chăm sóc an dân,…. Trong số đó có hai sự nghiệp quan trọng: đắp đê và xây dựng.

Sử ghi lại: giữa năm vỡ đê, lũ lụt, vua Anh Tông định xây am Ngọc Vân, Ngài cương quyết can ngăn, không  xây am, mà đem tiền của đắp đê, cứu dân. Vua tưc giận, liền điều Ngài làm quan trông coi đê điều, đi chống lụt. Ngài không từ nan, đi khắp các địa phương, nghiêm trị các quan lơ là việc dân, việc nước, khôi phục đê diều, an dân, khuyến nông….

Về xây dựng, Ngài trực tiếp chỉ huy việc xây chùa Dâu ở Bắc Ninh, xây tháp 9 tầng, mỗi tháp treo một quả chuông; dựng cầu 9 nhịp, làm chùa 100 gian,mỗi gian đặt 3 pho tượng.

Như vậy, gia tộc của Thái tổ Mạc Đăng Dung  mà nguồn gốc ở Lông Động, nơi quê tổ, là một gia tộc trâm anh thế phiệt, tiêu biểu là lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.

Trên nền tảng cao đó đã sản sinh một Mạc Đăng Dung “ tài kiêm văn võ, trí dũng siêu quần, luận văn chương thì tam hoài Khổng, Mạnh; bàn võ lược thì chí sánh Tôn, Ngô (Tôn Tẫn, Ngô Khôi). Người đương thời đều biết tiếng và cảm phục.”. Đó là điều dễ hiểu.

2. Tuy nhiên, còn một mặt phụ nữa là có lúc gia đình sa sút phải bỏ trốn và làm nghề đánh cá/ chèo đò, do chú Mạc Đăng Hùng bị tử hình. Phải công nhận điều này vì đó là thực tế lịch sử, mặc dầu là một lịch sử đau lòng , qua đó lý giải tình trạng một gia đình đang thuộc  hàng đại gia vọng tộc, đột nhiên tụt xuông đi  đánh cá , một chuyện không đơn giản.

 Công nhận nó, chúng ta đồng thời,  tố cáo chế độ phong kiến, tàn bạo, coi mạng người như cỏ rác, đang tay giết môt trạng nguyên lại thân tín với vua, chỉ do một sơ suất nhỏ.

***

Tóm lại, Thái tổ Mạc Đăng Dung, chủ yếu và cơ bản là thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, có lúc làm nghề sông nước, chỉ  là giai đoạn ngắn, không thể lấy một đoạn ngắn thổi phồng lên nói đó là toàn thể một cuộc đời và một dòng tộc.

                                      Ngày 11-1-2002 tức 17 tháng Chạp Kỳ Hợi

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}