Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Truyền thống & phát triển:

 

Tuyên huấn Khu V anh hùng

Nguyễn Kim Tuấn | Thứ Bảy, 21/07/2018 21:22 GMT +7

vanhien.vn - Lời Tòa soạn : Vào ngày 29 tháng 7 năm 2018 sắp tới, tại Quảng Nam, sẽ diễn ra Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang do Nhà nước phong tặng cho Ban Tuyên huấn Khu V. Văn hiến trân trọng gửi tới bạn đọc toàn văn bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Kim Tuấn, Trưởng Ban Liên lạc Ban Tuyên huấn Khu V, tại buổi Lễ long trọng này.

Kính thưa các đồng chí!

Trong buổi lễ trọng thể đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được Đảng, Nhà nước phong tặng cho Ban Tuyên huấn Khu V thời kỳ chống Mỹ cứu nước hôm nay, tôi xin thay mặt Ban liên lạc Ban Tuyên huấn Khu V báo cáo khái quát những nét lớn về sự hình thành Ban Tuyên huấn Khu V và những thành tích tiêu biểu mà Ban Tuyên huấn đã đạt được trong những năm tháng chiến tranh.

Ban Tuyên huấn Khu V được thành lập tháng 5 năm 1960, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về đường lối cách mạng ở miền Nam Việt Nam từ đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang tiến đến giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Là cơ quan tham mưu cho Khu ủy về công tác tư tưởng chính trị trong kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường Khu V, Ban Tuyên huấn Khu V được Khu ủy giao quản lý và chỉ đạo nội dung chuyên môn thuộc các binh chủng như: tuyên truyền, huấn học, báo chí, thông tấn xã, giáo dục, văn hóa, văn nghệ, điện ảnh, các đoàn nghệ thuật, nhà in, Đài Minh Ngữ, Trường Đảng, Trường Tuyên huấn

Nhiệm vụ xuất sắc của Ban Tuyên huấn Khu V là vừa xây dựng bộ máy, vừa phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị trong mọi hoàn cảnh của chiến trường.

Khi mới thành lập, Ban chỉ có 3 đồng chí cán bộ do đồng chí Trương Chí Cương - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Khu ủy - làm Trưởng ban. Đến năm 1961, cán bộ từ miền Bắc vào và các địa phương điều động lên đã nhanh chóng hình thành các tiểu ban chuyên môn cùng một số bộ phận phụ trợ là nhà in, Đài Minh Ngữ.

Từ đó, tài liệu được in ấn, tin tức báo chí tài liệu tuyên truyền được chuyển tải nhanh chóng tới VNTTX,  TTX Giải phóng, ngay sau đó được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Giải Phóng, lan tỏa nhanh chóng đến toàn dân.

Đến năm 1964, Ban Tuyên huấn Khu V đã hoàn chỉnh bộ máy chuyên môn với lực lượng cán bộ trên 600 người. Khi quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ vô cùng ác liệt, Ban Tuyên huấn Khu V đã chỉ đạo đưa cán bộ tỏa xuống các địa phương bám sát dân để tuyên truyền vận động nhân dân không sợ Mỹ giàu, Mỹ mạnh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Cũng vào thời kỳ này, Ban Tuyên huấn Khu V đã khẩn trương mở trường Đảng, trường Tuyên huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các tỉnh thành để kịp có cán bộ lãnh đạo và chuyên ngành tuyên huấn cấp tỉnh, huyện trong Khu.

Thành tích xuất sắc ngay từ ban đầu thành lập Ban thể hiện ở các đơn vị nhà in giải phóng, Thông tấn xã và Đài Minh Ngữ.

Nhà in, với 1 khối lượng máy móc nặng nề, thường xuyên phải di chuyển bằng "vai trăm cân, chân nghìn dặm" nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu in ấn, phát hành hàng vạn tài liệu tuyên truyền, chuyển về các địa phương toàn Khu.

Tháng 8 năm 1969, khi Đài phát thanh Hà Nội đưa tin về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, Ban đã chỉ đạo nhà in nhanh chóng in hàng vạn bức ảnh Bác Hồ chuyển về tận các cơ sở và các vùng miền núi, làng bản Tây Nguyên cũng như các đơn vị quân đội. Ở một số thành phố, thị xã, cơ sở đã chuyển hàng ngàn tấm ảnh Bác Hồ để đồng bào làm lễ tang tưởng nhớ Bác. Đội Tự vệ của nhà in đã liên tục chống càn để bảo vệ nhà in, đã có nhiều đồng chí hi sinh.

• Thành tích xuất sắc của Thông tấn xã Khu V

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đầu tiên có mặt tại chiến trường Khu V tháng 4 năm 1959 là đồng chí Võ Thế Ái, người làng Hà Thân, thuộc quận Sơn Trà, Đà Nẵng. Đến năm 1965, Thông tấn xã Khu V có 60 phóng viên đủ các bộ phận chuyên môn nhiếp ảnh, kỹ thuật, và phóng viên thường trú các tỉnh miền Trung. Hằng ngày, thông tấn xã Khu V chuyển ra Việt Nam Thông tấn xã trên 20 tin bài. Đến ngày giải phóng miền Nam thông tấn xã Khu V có 180 phóng viên, kỹ thuật viên, hy sinh 8 đồng chí, bị bắt 1 đồng chí.

Thông tấn xã có Đài Minh Ngữ là phương tiện kỹ thuật đảm bảo giữ liên lạc thu phát với Việt Nam Thông tấn xã (và Thông tấn xã Giải phóng).

Thông tấn xã Việt Nam còn phát minh ngữ cho Thông tấn xã Khu V bản tin tham khảo thế giới để biên tập và nhân bản dành cho các đồng chí lãnh đạo khu ủy. Việc làm này tạo cho các đồng chí lãnh đạo có tầm nhìn rộng đa chiều rất cần thiết cho tư duy người lãnh đạo chiến tranh.

Trong điều kiện khó khăn, phải di chuyển liên tục nhằm tránh bị địch phát hiện, anh em ở Đài Minh Ngữ vẫn hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo thu phát tin tức bài vở nhanh chóng, chuẩn xác. Anh em còn có sáng kiến chế ra thủy điện nhỏ, lợi dụng sức nước để quay máy phát, giảm bớt lao động cơ bắp nặng nhọc.

• Thành tích xuất sắc của báo chí

Khu V có 2 tờ báo, đó là báo Cờ giải phóng Trung Trung bộ và Tạp chí nội san Tiền phong - tạp chí lý luận, học tập xây dựng Đảng của Khu ủy. Cả 2 tờ báo này đều ra số đầu tiên vào tháng 1 năm 1961.

Lúc đầu, báo Cờ giải phóng chỉ có 3 phóng viên, Tạp chí Tiền Phong chỉ có 1 người. Tất cả phải vượt qua mọi thách thức, khó khăn để hàng tháng ra được một số báo đầy đủ các chuyên mục. Đến năm 1963 được miền Bắc chi viện, báo Cờ giải phóng có 16 phóng viên, phân công bám các địa phương. Báo Cờ giải phóng mỗi tháng phát hành một kỳ, đến năm 1970 mỗi tháng ra hai kỳ với số lượng 6.000 tờ/kỳ. Báo Cờ giải phóng là tiếng nói của Mặt trận dân tộc giải phóng Trung Trung bộ, liên tục phản ánh những tấm gương anh dũng chống Mỹ - Ngụy và phòng trào đấu tranh chính trị của nhân dân từ thành thị đến nông thôn.

Nội san Tiền Phong mỗi tháng xuất bản một số, mỗi số 4.000 tờ, với các chuyên luận, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn chiến trường, giúp lãnh đạo các cấp có cơ sở lý luận để phân tích thực tiễn diễn biến tình hình cách mạng ở mỗi địa phương.

• Thành tích xuất sắc của điện ảnh Khu V

Điện ảnh Khu V trong thời kỳ chống Mỹ được bắt đầu với một đồng chí vừa đạo diễn vừa quay phim là đồng chí Trần Đống (Trần Quý Lục) với 1 chiếc máy quay 16 ly, có mặt ở chiến trường cuối năm 1960. Đến năm 1970 được miền Bắc chi viện, điện ảnh Khu V có 128 cán bộ, gồm đạo diễn, quay phim, kỹ thuật và đội chiếu phim lưu động. Cũng như các tiểu ban chuyên môn khác, cán bộ điện ảnh được phân công về các địa phương, bám sát các chiến trường để ghi lại hình ảnh của chiến tranh nhân dân.

Năm 1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, đồng chí Trần Đống đã theo trinh sát vào vùng ven Đà Nẵng ghi lại những hình ảnh quân Mỹ hành quân càn quét vùng nông thôn, ghi lại được hình ảnh lễ truy điệu sống của dũng sĩ Lê Độ trước lúc anh ôm bom vào thành phố đánh quân Mỹ ở khách sạn Mo-ranh Đà Nẵng, ghi lại trận đặc công đánh kho xăng Liên Chiểu, thiêu hủy hàng triệu tấn xăng của quân Mỹ.

Phóng viên điện ảnh Khu V đã dũng cảm bám sát chiến trường ghi lại hàng ngàn thước phim tư liệu có giá trị, có những bộ phim tài liệu đạt được các giải thưởng như giải Nguyễn Đình Chiểu với bộ phim "Những người dân quê tôi" của đạo diễn, quay phim Trần Văn Thủy sau đó bộ phim này đạt giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim quốc tế Lai-xích (Cộng hòa Dân chủ Đức) năm 1970. Bộ phim "Người săn thú trên núi Đắk Sao" của Trần Thế Dân và Ivang năm 1971 được Huy chương vàng Liên hoan phim Mát-cơ-va. Bộ phim "Làng nhỏ bên sông Trà" của Nghiêm Phú Mỹ được giải Bồ câu vàng Liên hoan phim Lai-xích (Cộng hòa Dân chủ Đức) năm 1970. Bộ phim "Chúng tôi buộc phải cầm súng" của đồng tác giả Tràn Đống, Trần Thế Dân, Trần Văn Thủy, đã được giải Băng Đung tại Liên hoan phim Châu Á Indonexia. Những bộ phim tài liệu có giá trị về chiến trường Khu V cùng với phim tài liệu, phim truyện từ miền Bắc đưa vào đã được đội chiếu phim lưu động gùi cõng máy móc vượt đèo cao, suối thẳm đến vùng giải phóng, bản làng đồng bào Tây Nguyên, các đơn vị quân giải phóng để chiếu, góp phần củng cố niềm tin con đường tất thắng của cách mạng miền Nam.

• Thành tích xuất sắc của Tiểu ban văn nghệ, hội họa Khu V

Tiểu ban văn nghệ Khu V được hình thành giữa năm 1961 khi có các nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ từ miền Bắc vào như các nhà văn Phan Tứ, Nguyễn Chí Trung, nhà thơ Vương Linh, Thu Bồn, Lưu Trùng Dương, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, họa sĩ Lý Châu Hoàn, Thế Vinh v.v... Đầu năm 1962, tạp chí Văn Nghệ được xuất bản, mỗi số 4.000 bản được phát hành đến tận cơ sở. Để mở rộng mặt trận văn nghệ chống Mỹ, Ban chủ trương tập họp các văn nghệ sĩ yêu nước chống Mỹ trong vùng địch kiểm soát, nhất là các thành phố lớn và văn nghệ sĩ là người dân tộc Tây Nguyên. Mặc dù gặp địch đánh phá và bao khó khăn về điều kiện đi lại ăn ở, Ban đã kiến nghị Thường vụ Khu ủy mở đại hội văn nghệ. Đại hội diễn ra tại căn cứ cách mạng Trà My với gần 300 người là các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nghệ sĩ. Nhiều người đến từ các thành phố thị xã và buôn làng Tây nguyên. Sau đại hội trong vùng địch kiểm soát đã xuất hiện nhiều tờ báo với các tác phẩm văn nghệ yêu nước chống Mỹ, yêu hòa bình phản đối chiến tranh.

Văn nghệ Khu V đã tập hợp được một lực lượng sáng tác đầy tài năng. Phan Tứ viết tiểu thuyết Gia Đình Má BảyMẫn và Tôi, Thu Bồn có Trường Ca Chim Chơ Rao được giải thưởng hội nhà văn Á Phi. Các họa sĩ Thế Vinh, Lý Châu Hoàn, Hà Xuân Phong, Trần Việt Sơn, Hồng Chinh Hiền, Phạm Hồng, Giang Nguyên Thái có nhiều ký họa chân thực cảm động về đồng bào chiến sĩ Khu V thời đánh Mỹ, Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, nhà văn Phan Tứ, nhà thơ Thu Bồn, đã vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh, nhiều văn nghệ sĩ được giải thưởng nhà nước.

Văn nghệ sĩ Khu V dũng cảm bám dân bám chiến trường, nhiều đồng chí đã hy sinh như nhà văn Chu Cẩm Phong, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhà văn Dương Thị Xuân Quý, nghệ sĩ múa Phương Thảo, nhà thơ Nguyễn Mỹ, nhà báo Lê Ái Mỹ, Trọng Định, các họa sĩ Hà Xuân Phong, Trương Công Nghĩa, Phan Hồng Châu, Phạm Đức Minh, Nguyễn Quang Việt, Nguyễn Xuân Nam, Trịnh Xuân Núi...

• Thành tích xuất sắc của các đoàn nghệ thuật Khu V

Đoàn nghệ thuật đầu tiên của Khu V gồm các con em các dân tộc Tây Nguyên được chọn từ các hạt nhân phong trào văn nghệ quần chúng. Với thế mạnh là các làn điệu dân ca dân vũ và các nhạc cụ của Tây Nguyên, đoàn được đồng bào chiến sĩ Khu V nhiệt liệt hoan nghênh. Đoàn đã vào tận Trung ương cục biểu diễn, được các đồng chí lãnh đạo mặt trận và cán bộ đồng bào, chiến sĩ ở căn cứ rất yêu thương.

Năm 1966, đoàn Tuồng bao gồm các nghệ sĩ nỗi tiếng từ Nhà hát Tuồng liên Khu V như Võ Sĩ Thừa, Tư Bửu, Nguyễn Kim Hùng, Nguyễn Thị Xuân Viên đã vào chiến trường Khu V. Đầu năm 1967 đoàn về Bình Định biểu diễn, đến huyện Hoài Ân bị địch đổ trực thăng vây bắt, 13 diễn viên bị cầm tù. Các nghệ sĩ khác thoát hiểm; nhiều người sau đó được cử về Quảng Nam, Quảng Đà xây dựng các đoàn Tuồng ở địa phương và giúp đỡ dàn dựng nhiều vở diễn. Đoàn Ca múa nhạc đi đến các đơn vị quân giải phóng và vùng giải phóng biểu diễn.

Ca sĩ Thanh Đính cùng một nhóm gọn nhẹ trình diễn ở vùng sâu đồng bằng cũng như ở miền núi được nhiệt liệt hoan nghênh.

• Thành tích xuất sắc của Tiểu ban Huấn học

Tiểu ban Huấn học thực hiện nhiệm vụ mở trường Đảng, trường Tuyên huấn để huấn luyện, đào tạo cán bộ trung cấp cho các tỉnh, thành, quận huyện trong Khu.

Cuối năm 1961, các trường Đảng, trường Tuyên huấn của Khu được thành lập, mở các khóa học đào tạo, bồi dưỡng cho lãnh đạo từ cấp huyện, tỉnh các nơi về học, mỗi khóa học đào tạo 6 tháng, bồi dưỡng 3 tháng, mỗi khóa có từ 500 - 600 học viên, trường còn đi về các tỉnh mở lớp bồi dưỡng cho cán bộ địa phương. Trong những năm chiến tranh ác liệt, trường Đảng Khu, trường Tuyên huấn đã đào tạo, bồi dưỡng trên 6.000 cán bộ các cấp hoạt động trên các chiến trường.

• Thành tích xuất sắc của Tiểu ban tuyên truyền

Tiểu ban tuyền truyền được xem như lực lượng xung kích bám sát các địa phương tuyên truyền đường lối cách mạng. Kết hợp với Tiểu ban văn nghệ sáng tác ca dao, hò vè, truyền đơn in ấn phát hành đến các địa phương.

Phương tiện của công tác tuyên truyền trong chiến tranh chủ yếu tuyên truyền miệng. Vì vậy, cán bộ tuyên truyền phải bám sát dân, đến từng người dân để tuyên truyền, thuyết phục họ có ý chí hướng theo cách mạng. Đồng thời cũng là nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát.

• Thành tích xuất sắc của Tiểu ban giáo dục

Tiểu ban giáo dục thuộc Ban tuyên huấn Khu V được hình thành vào cuối năm 1961, trên cơ sở cán bộ giáo viên tập kết trở về.

Nhiệm vụ chính trị được giao cho Tiểu ban giáo dục trước mắt tập trung xóa nạn mù chữ và có kế hoạch đào tạo cán bộ để phát triển ngành giáo dục trong thời chiến ở Khu V.

Tiểu ban giáo dục đã mỏ nhiều lớp học bổ túc vừa làm vừa học cho cán bộ thoát ly, mở trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp I cho đồng bằng và miền núi.

Đến năm 1964 trên địa bàn Khu V cơ bản xóa được mù chữ cho đồng bào dân tộc, đã từng bước nâng lên trình độ văn hóa cấp I, rồi cấp II cho cán bộ thoát ly.

Trong suốt những năm chiến tranh đến ngày giải phóng thống nhất đất nước, giáo dục Khu V đã xóa mù chữ, nâng lên trình độ văn hóa từ cấp I đến cấp II cho 4.000 người. Đào tạo 2.000 giáo viên từ cấp I đến cấp II.

Trường cấp III có 400 học sinh theo học chương trình cấp tốc hết lớp 10 được đưa về bổ sung đội ngũ cán bộ cho các địa phương.

• Thành tích xuất sắc của công tác hậu cần phục vụ chuyên môn và đời sống

Một đặc điểm của chiến tranh chống Mỹ ở khu V là cán bộ vừa làm chuyên môn vừa phải sản xuất tự túc để cùng đơn vị nuôi sống mình. Mỗi cán bộ phải đảm bảo 50% tâm sức dành cho công tác chuyên môn, còn lại 50% phải lo gùi cõng sản xuất đảm bảo cuộc sống. Ban Tuyên huấn Khu còn tuyển chọn một số thanh niên từ vùng địch lên thành lập lực lượng hậu cần, không chỉ lo sản xuất tự túc, mà còn làm nhiệm vụ vận chuyển tài liệu báo chí về các địa phương, họ còn lặn lội xuống tận vùng ven để tìm mua lương thực, thực phẩm cho cơ quan, có lúc lên đến 1.000 người, khi địch càn lên căn cứ, họ là lực lượng chống địch.

Khi đường Hồ Chí Minh mới là đường mòn, hàng chi viện cho Khu V chủ yếu là vũ khí, thuốc men, đến sau hiệp định Paris, có đường xe ô tô, mới nhận được lương thực, thực phẩm chi viện. Nguồn lương thực khai thác từ vùng địch bị địch kiểm soát thường xuyên. Nguồn sản xuất tự túc thường bị rải thuốc độc không thu hoạch được, nhất là vào năm 1965 - 1970 nạn đói ăn, lạt muối thường xuyên xảy ra. Những lúc như vậy đều trông cậy vào lực lượng hậu cần đi vào vùng ven, vùng địch để tìm kiếm lương thực, thực phẩm, nhiều đồng chí đã hy sinh.

Lúc địch càn đến căn cứ phải vận chuyển nhà in, điện đài hàng tấn thiết bị máy móc bằng sức gùi cõng, khiêng vác, có lúc phải trực tiếp đánh địch. Bộ phận hậu cần có số lượng liệt sĩ cao nhất của Ban Tuyên huấn Khu V.

Kính thưa các đồng chí,

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, Ban Tuyên huấn Khu V đã phục vụ xuất sắc chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tháng 3 năm 1975, Ban Tuyên huấn Khu V đã tập trung lực lượng phóng viên, điện ảnh, tuyên truyền bám sát các đơn vị quân đội, giải phóng đến đâu phối hợp với địa phương tiếp quản đến đó, tuyên truyền, thành lập các chính quyền cơ sở để nhanh chóng ổn định tình hình. Tin tức thắng lợi giải phóng Tây Nguyên ngày đêm liên tục phát ra Hà Nội loan truyền khắp thế giới.

Chuẩn bị cho giải phóng các tỉnh miền Trung và thành phố Đà Nẵng, Ban Tuyên huấn Khu đã sử dụng 100% lực lượng cán bộ, phiên chế thành các đội công tác tiền phương đưa về các tỉnh thành trong toàn khu, bám theo các đơn vị quân đội tại các mặt trận. Cán bộ Tuyên huấn Khu V có mặt tại khắp các tỉnh thành trong Khu giúp địa phương phương tiếp quản xây dựng chính quyền, quản lý vùng mới giải phóng.

Trưa 29/3/l975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng cũng là lúc cán bộ Tuyên huấn Khu có mặt tiếp quản Nha thông tin, Đài phát thanh, kết hợp với cán bộ địa phương sử dụng các phương tiện thông tin của địch tuyên truyền ổn định tình hình trật tự trong thành phố. Riêng Đài phát thanh, chiều 29/3/1975 đã được tiếp quản sử dụng nhân viên kỹ thuật của chế độ cũ ở lại thực hiện tiếp sóng Đài giải phóng và đúng 10 giờ ngày 30/3/1975, buổi phát thanh đầu tiên của Ủy Ban quân quản thành phố Đà Nẵng được cất lên, sau 117 năm bị đô hộ và kiên cường đấu tranh, chính quyền cách mạng thành phố Đà Nẵng tuyên bố thành phố đã quét sạch quân xâm lược.

Kính thưa các đồng chí,

Nhìn lại những năm tháng chiến tranh đầy gian khổ hy sinh, chúng tôi những chiến sĩ trong đội quân chính trị tư tưởng của Khu ủy V, luôn tự hào về những trải nghiệm và cống hiến của mình.

Điều đầu tiên chúng tôi ghi nhớ là Khu ủy V, cơ quan lãnh đạo một chiến trường ác liệt vào bật nhất, đã luôn luôn khẳng định vai trò của công tác chính trị tư tưởng. Khu ủy luôn xem công tác chính trị tư tưởng tổ chức tuyên truyền cho quần chúng thông suốt về tư tưởng, từ đó tự giác phát huy các hành động cách mạng là công việc phải làm trước hết.

Để công tác tư tưởng chính trị có hiệu quả thiết thực, Khu ủy V luôn chăm lo bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên huấn, khuyến khích anh em đi ra phía trước.

Chính từ thực tiễn công tác, chúng tôi đã tìm ra lời đáp cho nhiều câu hỏi của cuộc chiến.

Khu ủy V luôn yêu cầu và bồi dưỡng chúng tôi có tinh thần kiên trì vượt khó và có phương pháp công tác phong phú, sáng tạo.

Cho phép tôi nói thêm đôi lời về vùng núi phía tây Quảng Nam là căn cứ Cách mạng của các cơ quan của Khu ủy V suốt thời kỳ chống Mỹ. Đây là một phần của dãy Trường Sơn hùng vĩ, có ngọn Ngọc Linh cao 2.600m, địa hình hiểm trở vực sâu tiếp dốc đứng, vùng căn cứ là nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người.

Đây là cộng đồng các dân tộc trung kiên chí cốt với Cách mạng, họ không hề bị khuất phục ách thống trị của thực dân. Đặt căn cứ ở đây, anh em chúng tôi được bà con nuôi nấng, chở che. Họ trồng tỉa đến mùa thu hoạch chỉ giữ lại một ít lúa giống và lương thực cho người già và trẻ nhỏ, còn tất cả còn lại để nuôi quân. Những kho gạo muối của Bác Hồ ở rừng luôn được bảo vệ cẩn mật, dù đói cơm lạt muối bà con vẫn ăn sắn ăn rau, không động đến dù chỉ là một chút, để dành cho cách mạng. Khi có yêu cầu động viên thì bà con hăng hái tham gia. Nhiều chị bồng con phía trước gùi đạn trên lưng, nhiều mẹ 70, 80 vẫn đi dân công cả tháng, cả người mù cũng đi tải đạn...

Đặc biệt họ là những người bảo vệ căn cứ tuyệt vời, không một phần tử thù địch nào xâm nhập được, không một hành động chống phá nào qua được mắt đồng bào. Nhưng kẻ địch luôn tìm cách đánh phá bằng chất độc hóa học, bằng phi pháo, kể cả B52 và thả những nhóm biệt kích lùng sục.

Anh em chúng tôi, cán bộ cùng đồng bao dân tộc, nhiều người đã ở trong vùng chúng thả chất độc da cam, có người vì không có sự lựa chọn nào khác, đã phải ăn sắn bắp nhiễm chất độc. Nhiều người là nạn nhân chất độc da cam, hiện nay có người thế hệ con cháu đều mang di chứng chất độc quái ác đó trong cuộc sống đau đớn đến tột cùng.

Giờ đây mỗi người cán bộ của Khu ủy V nói chung và anh em cán bộ Tuyên huấn nói riêng đã sống những ngày tháng trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình với đồng bào các dân tộc, chỉ mong sao Đảng và Nhà nước có chế độ chính sách phát triển vùng miền núi thật tốt để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc, đền đáp công ơn trời biển của đồng bào.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí đại biểu,

Kết thúc chiến tranh tháng 4/1975, Ban Tuyên huấn khu V có 1.098 cán bộ, trong đó hy sinh trên chiến trường 128 đồng chí, bị thương 193 đồng chí, nhiễm chất độc da cam 19 đồng chí, bị bắt cầm tù 12 đồng chí, qua đời từ sau ngày hòa bình đến nay 68 đồng chí, trong đó có 16 đồng chí cán bộ lãnh đạo Ban.

Tháng 6/1976 Khu ủy Khu V có quyết định của Bộ Chính trị giải thể sau khi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Ban Tuyên huấn Khu V giải thể, cán bộ đủ điều kiện công tác được bố trí về các bộ ngành Trung ương và địa phương. Một số đồng chí còn trẻ tuổi được đi học để đào tạo phát triển. Từ đó, Ban liên lạc cán bộ Tuyên huấn Khu V được hình thành với mục đích giữ mối liên hệ từng đồng chí, đồng đội động viên nhau tiếp tục giữ vững ý chí, phẩm chất cách mạng của một thời chinh chiến, tiếp tục phát huy trong môi trường hòa bình, xây dựng đất nước. Nhìn chung mục đích đó đã được phát huy, nhiều đồng chí là nhà văn, nhà báo, cán bộ lý luận, quản lý... trở thành những cán bộ cốt cán ở nhiều lĩnh vực, có đồng chí nguyên là công nhân nhà in sau nhiều năm rèn luyện và trưởng thành trong chiến tranh, trong hòa bình đã được tín nhiệm giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy.

Hơn 43 năm qua, mặc dù không còn cơ quan đơn vị, nhưng trong lòng mỗi cán bộ Ban Tuyên huấn Khu V vẫn mang trong mình một ước mong được Đảng, Nhà nước xem xét ghi nhận những thành tích trên mặt trận tư tưởng của chiến trường chống Mỹ tại Khu V.

Niềm mong ước bấy lâu nay đã thành hiện thực, nay được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Ban Tuyên huấn Khu V là một vinh dự cho những người đang sống, một sự an ủi cho linh hồn những người đã khuất.

Chúng tôi ý thức được rằng vinh dự này không chỉ dành riêng cho Ban Tuyên huấn Khu V, mà còn có thành tích to lớn của nhân dân Khu V cũng như các thế hệ lãnh đạo các tỉnh thành của miền Trung đã từng đùm bọc, che chở, giúp đỡ cho cán bộ Cách mạng trong đó có cán bộ Tuyên huấn Khu V thời kỳ chống Mỹ gian khổ, hy sinh. Tại hội nghị này, tôi xin được thay mặt cán bộ Tuyên huấn Khu V còn lại xin được trân trọng cảm ơn Đảng, Nhà nước, cảm ơn và tri ân nhân dân và các thế hệ lãnh đạo của các tỉnh thành miền Trung trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Kính thưa các đồng chí,

Trong niềm vui hôm nay trong lòng anh em đồng chí chúng tôi có mặt hôm nay ai cũng có nỗi buồn vì nhiều đồng chí anh em mình một thời bên nhau trên chiến trường nay vĩnh viễn không còn, không được hưởng niềm vinh dự về danh hiệu cao quý có đượm máu đào của các đồng chí. Nỗi buồn này sẽ đọng mãi trong ký ức của chúng tôi.

Xin các đồng chí đại biểu cùng chúng tôi hãy đứng dậy dành một phút tưởng nhớ đến những người đã hy sinh.

Một lần nữa xin cám ơn các đồng chí.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}