Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vài cảm nhận về bộ tiều thuyết lịch sử 5 tập “Việt Nam diễn nghĩa” (Kỳ 1)

Vũ Xuân Bân | Thứ Năm, 10/09/2020 08:29 GMT +7
Cuối năm 2019 và đầu năm 2020, Nhà xuất bản Hồng Đức đã ấn hành 5 tập tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa” (ảnh dưới) tổng cộng gần 2000 trang của PGS TS Cao Văn Liên. Sách khổ 14,5 x 20,5 Cm in giấy trắng, bìa cứng viết về lịch sử cổ trung đại Việt Nam.
 
 
Vì mỗi tập Nhà xuất bản chỉ in từ ba trăm đến 500 cuốn, rất ít đến được bạn đọc, sau khi đọc xong, tôi đã đề xuất, được PGS TS Cao Văn Liên đồng ý cung cấp phần mềm để phát dài kỳ cả 5 tập tiểu thuyết lịch này trên Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam (Vanhien.vn). Mỗi kỳ có độ dài từ 5 đến 6 trang in, bắt đầu phát trên vanhien.vn từ giữa tháng 11/2019 đến đầu tháng 9/2020 thì kết thúc để phục vụ đông đảo bạn đọc và công chúng. 
 
Còn hơn cả dự đoán và mong đợi, lượng bạn đọc của vanhien.vn không chỉ trong nước mà trải rộng ở 92 nước trên thế giới với số lượt bạn đọc truy cập ngày càng tăng. Có những hôm, vì bận công việc đột xuất không thể đăng ngay các kỳ tiếp theo vào đầu giờ buổi sáng, bạn đọc đã gọi ĐT, nhắn tin qua facebook để hỏi, thúc giục phát tiếp tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa” trên vanhien.vn. Cùng với đó, bạn đọc liên tục hỏi mua bộ tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa” ở đâu? Chúng tôi đều giới thiệu liên hệ với tác giả để hỏi xem bán ở đâu mà mua. Vanhien.vn chỉ đăng bộ tiểu thuyết đó chứ không bán. Nếu các bạn không mua được thì chịu khó mở vanhien.vn ra để đọc.
 
Đáng nể trọng
 
PGS TS Cao Văn Liên luôn nhớ lời dạy của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, đã thường xuyên tâm niệm: Nhân dân lao động rất yêu thích lịch sử của dân tộc mình nhưng không thể đọc được những công trình nghiên cứu khoa học của giới trí thức và của các nhà sử học khi họ trình bày lịch sử dưới dạng hàn lâm nặng về lý luận. Thứ  nhất là những công trình đó xa lạ đối với họ, thứ hai có đọc họ cũng không thể hiểu được nhiều, không thể nhớ và do đó không còn hứng thú. Cho nên nhân dân lao động nắm bắt lịch sử bằng những truyền thuyết, cổ tích, những giai thoại, qua các loại hình nghệ thuật tuồng, chèo, cải lương, ca dao, dân ca... Nhưng những hình thức này không giúp họ tiếp thu một cách hệ thống liện tục các sự kiện, nhân vật lịch sử, một thời kỳ lịch sử hoặc toàn bộ lịch sử dân tộc. Cho nên các nhà sử học kiêm nhà văn hay là các nhà văn muốn thông qua các loại hình văn học, nghệ thuật gần gũi để chuyển tải lịch  sử đến cho người đọc và công chúng. Từ đó thể loại tiểu thuyết lịch sử đã ra đời. 
 
PGS TS Cao Văn Liên (bên trái) đàm đạo về kinh nghiệm viết tiểu thuyết lịch sử với đồng môn Nhà báo Vũ Xuân Bân.
 
Cũng vì lý do đó, tác giả Cao Văn Liên đã viết bộ tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa”, hiểu nôm na tiêu đề sách này là Lịch sử Việt Nam được diễn giải bằng văn học dưới góc độ  phổ thông đại chúng để mọi người dù là trí thức cao cấp đến người bình dân đọc đều hiểu, thưởng thức phù hợp với mọi trình độ. Qua đó, bạn đọc và công chúng nắm bắt được những nét cơ bản nhất về lịch sử cha ông một cách có hệ thống, không chỉ luận bàn chuyện quá khứ của lịch sử mà tác giả muốn dùng lịch sử đã qua như một gương soi những vấn đề hiện tại của đất nước mà một trí thức, một nhà nghiên cứu lịch sử như PGS TS Cao Văn Liên không thể không thao thức, trăn trở. Bằng bút pháp văn học, tác giả đã khéo léo gợi mở những ưu tư của bạn đọc và công chúng trước vận mệnh đất nước trong suốt chiều dài lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Những trăn trở của tác giả cũng chính là suy nhĩ của những người con dân nước Việt luôn chất chứa trong tâm mình tình yêu tổ quốc và nỗi ưu lo trước sự tồn vong, thịnh suy của dân tộc. Trên cơ sở đó đi dần đến cái mà tác giả mong muốn sâu xa là nâng cao tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc và từ đó biến thành sức mạnh đại đoàn kết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Bước đầu thể nghiệm có vẻ như tác giả đã đạt được mục tiêu đề ra. 
 
Qua 5 năm lao động miệt mài sau khi về nghỉ hưu, với khối tư liệu phong phú, với kiến thức của nhà nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử, yêu thích văn học, tác giả Cao Văn Liên đã cho ra đời 5 tập tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam Diễn nghĩa”, gồm: Tập 1: Nghìn năm bất khuất. Tập 2: Ba triều dựng nước (Ngô- Đinh- Tiền Lê). Tập 3: Những khúc ca khải hoàn. Tập 4: Nội chiến Nam-Bắc Triều. Tập 5: Nội chiến Trịnh- Nguyễn và nhà Tây Sơn. 
 
PGS TS Cao Văn Liên bộc bạch: Tôi có nhiều người bạn, mỗi người một nghề nghiệp khác nhau nhưng khi được tặng tiểu thuyết “Việt Nam diễn nghĩa”, họ say sưa đọc và đến cùng tôi đàm đạo. Họ đã nói lịch sử Việt Nam vanh vách quên cả thời gian. Như vậy, loại hình văn học chuyển tải lịch sử, lịch sử thể hiện qua văn học dễ hấp dẫn người đọc, dễ nhớ, dễ hiểu và giúp người đọc nhận thức thời kỳ lịch sử cổ trung đại nước nhà có hệ thống và lôgic.
 
Có bạn đồng môn sử khoá 13 (1968 – 1972) Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) với Cao Văn Liên đã thốt lên: “Xuất bản không chỉ một tập mà liên tiếp 5 tập tiểu thuyết lịch sử ‘Việt Nam diễn nghĩa’, thật là kỳ tài, rất đáng nể trọng PGS TS Cao Văn Liên”.
 
Không được lơ là, mất cảnh giác
 
Lịch sử viết dưới dạng tiểu thuyết, tức là có quyền hư cấu, sáng tác nhưng tác giả tuân thủ nghiêm ngặt tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời kỳ vua Hùng cho đến nhà Nguyễn 1802 kéo dài hơn 3 thiên niên kỷ. Khác với viết sử truyền thống, bút pháp văn học đã giúp tác giả sử dụng khá thành công về hội thoại, đối thoại, độc thoại khắc họa những sự kiện, nhân vật lịch sử tiếp nối nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, sự kiên cường, bất khuất đấu tranh giải phóng dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, đấu tranh bảo vệ đất nước và thống nhất đất nước. 
 
Có thể nói đây là bộ lịch sử Việt Nam đầu tiên bằng văn học, góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc bất khuất, truyền thống đoàn kết toàn dân, chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Bộ tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa” bước đầu góp phần cung cấp kiến thức lịch sử cơ bản qua hình tượng văn học sinh động, góp phần khắc phục tình trạng sách sử rập khuôn, khô cứng với những số liệu, sự kiện, ngày tháng năm liệt kê liên tục, rất khó nhớ mà những năm gần đây học sinh phổ thông các cấp ngán ngại học và thi môn lịch sử, điểm thi tốt nghiệp phổ thông trung học môn sử đều “đội sổ”, có cả thí sinh bị “điểm liệt” (0 điểm). Bộ tiểu thuyết lịch sử này cũng góp phần giải mã những bí ẩn lịch sử mà trong chính sử và những công trình nghiên cứu rất khó có thể thực hiện được. Vì thế bộ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam diễn nghĩa dưới dạng văn học đã tạo hứng thú đam mê, thu hút độc giả, các sự kiện lịch sử dễ đi vào tâm thức con người.
 
Qua 5 tập tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam diễn nghĩa”, tác giả đã làm toát lên được “truyền thống đoàn kết đấu tranh kiên cường, chiến thắng kẻ thù xâm lược hùng mạnh” trong thời kỳ lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Dù đã trải qua nghìn năm Bắc thuộc nhưng dân tộc Việt không bị đồng hoá, kiên cường đấu tranh giành độc lập. Thời đại nào dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta cũng sinh ra những vị anh hùng dân tộc kiệt xuất để lãnh đạo nhân dân đoàn kết đấu tranh, vượt qua thách thức, chống giặc ngoại xâm, giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước. 
 
Bằng những câu chuyện lịch sử, tác giả đã nêu bật được vai trò của người lãnh đạo đất nước dù ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, cũng quan hệ mật thiết với dân tộc. Bởi những quyết định của người lãnh đạo đứng đầu đất nước luôn liên quan đến vận mệnh tổ quốc, bách tính (nhân dân). Đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ… là những người lãnh đạo anh minh, vì nước, vì dân, và ngược lại thì nội bộ mất đoàn kết, tranh giành, tha hoá quyền lực, thậm chí có những kẻ cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, “rước voi về dày mã tổ” đều chung kết cục bi thảm, bia miệng để đời, khiến đất nước suy vong, dân chúng điêu linh, lầm than.
 
Thông qua bộ tiểu thuyết lịch sử này, tác giả cũng lưu ý bạn đọc và công chúng, nhất là cấp có thẩm quyền đương thời phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước khi đang chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Bài học mất cảnh giác của Thục An Dương Vương đã bất chấp những lời can gián của các trung thần mà tiêu biểu là Đại tướng Cao Lỗ khuyên không nên gã công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ là Thái tử Nam Việt của Triệu Đà (tức Triệu Vũ Vương). Thuc An Dương Vương đã chủ quan cho rằng: “Nếu Triệu Đà trở mặt tấn công thì ta đã có nỏ thần và lực lượng quân sự hùng mạnh, lo gì không đập tan được chứ?” (trang 45 Chương I – Tập I “Cổ Loa thành thất thủ”). Trong khi đó, Cao Lỗ cảnh báo: “Khi không rõ âm mưu bụng dạ của Triệu Đà thì lời Thục Vương cũng chỉ là giấc mơ tốt đẹp tưởng tượng mà thôi. Cuộc hôn nhân này là việc riêng của gia đình Thục Vương nhưng nó quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Xin Thục Vương lấy giang sơn xã tắc làm trọng. Đặt Quốc gia xã tắc lên trên hết, lên trên quyền lợi của gia đình” (trang 45 Chương I – Tập I “Cổ Loa thành thất thủ”). 
 
Không nghe lời khuyên của trung thần, không lâu sau, Triệu Đà cất quân xâm chiếm Âu Lạc, Loa Thành bị thất thủ, cha con Thuc An Dương Vương chạy trốn. An Dương Vương buộc phải chém đầu con gái Mỵ Châu, đã khóc than: “Nhà tan nước mất và cả cái chết của con là do cha. Cha đã đem con gã bán cho loài ngoại bang lang sói, đã quá tin vào lời đường mật, tình thông gia, tình hữu hảo của hai nước, đã rước lang sói vào nhà, đã đặt viêc nhà lên trên việc nước, đã không nghe lời can gián của những trung thần như Cao Lỗ, lại còn bức hại họ. Cha đã có tội với con, với muôn dân Âu Lạc, với những bậc trung thần, với Tổ tiên, với xã tắc, với các vua Hùng” ( Trang 87 Chương I – Tập I “Cổ Loa thành thất thủ”).
 
Chình vì vậy, Tố Hữu trong bài thơ “Tâm sự” viết tháng 2/1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt, bối cảnh quốc tế lúc đó rất phức tạp, đã nhắc lại bài học lịch sử mất cảnh giác, bị mất nước này:
 
                                       “... Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
                                             Trái tim lầm chỗ để trên đầu 
                                             Nỏ thần vô ý trao tay giặc
                                             Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...”
 
Bài học không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác với các thế lực ngoại bang bành trướng luôn tìm mọi phương kế để xâm lược nước ta cho đến nay chưa bao giờ cũ, vẫn mang tính thời sự sâu sắc. 
 
Công chúa An Tư -  Tình báo viên đầu tiên trong lịch sử tình báo Việt Nam?
 
Không rõ ngành tình báo Việt Nam đánh giá thế nào nhưng khi đọc “Việt Nam diễn nghĩa” thì có lẽ tình báo viên đầu tiên của nước ta là công chúa An Tư thời nhà Trần (thế kỷ thứ 13). 
 
Công chúa An Tư là con gái của Tiên Hoàng Đế Trần Thái Tông, em của Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, cô của vua Trần Nhân Tông, em con ông chú của Trần Hưng Đạo. Công chúa An Tư không chỉ đẹp nổi tiếng Đại Việt mà còn đẹp nổi tiếng cả Trung Nguyên. Thoát Hoan ra điều kiện với sứ giả nhà Trần: “Muốn ta tha mạng cho triều đình (nhà Trần), không tàn sát Hoàng gia và bách tính thì đưa công chúa An Tư đến cho ta. Ngày mai ta sẽ chờ ở Long Hưng và đón người đẹp ở đó”(trang 140, Chương II, Tập III “Những khúc khải hoàn”). 
 
Bìa cuốn Tiểu thuyết lịch sử "An Tư" của Nguyễn Huy Tưởng.
Trong chiến thắng vang dội trước Nguyên Mông có một phần công sức không nhỏ của công chúa An Tư. Ở góc độ này, có thể coi An Tư là một "điệp viên cấp cao" của nhà Trần, là "công chúa tình báo" đầu tiên trong lịch sử tình báo Việt Nam. Nguồn: Soha.vn
 
 
Tác giả đã thuật lại việc Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo có ý ngăn Thái thượng Hoàng nhưng Trần Thánh Tông đã gọi, gặp Công chúa An Tư, nói: “ Nước nhà nay đang như nghìn cân treo sợi tóc. 40 vạn quân Thoát Hoan đang ở phía Bắc và đã đến Long Hưng. 10 van quân Toa Đô đang đánh đến Bắc Trường Yên. Triều đình, Hoàng gia và 30 vạn quân phải cần một ngày nữa mới rút về được Ái Châu. Phải làm sao giữ Thoát Hoan ở lại Bố Hải Khẩu (Thái Bình) hai ngày nữa. Huynh và Hoàng thượng vừa cho sứ giả vào hành dinh của hắn, hắn sẽ ở lại Bố Hải Khẩu chờ đợi và đàm phán. Ý của muội thế nào? Công chúa An Tư dịu dàng đáp: “Muội rất muốn được tham gia cứu dân, cứu nước. Nay vì non sông xã tắc mà vào trại giặc một mình và hy sinh muội cũng không từ… Rồi công chúa An Tư lên kiệu ra đi…” (Các trang 142, 143, 144 Chương II, Tập III “Những khúc khải hoàn”). 
 
Nhờ kế mỹ nhân đó và được Công chúa An Tư cung cấp nhiều tin tức nội bộ từ Thoát Hoan, đã cản được bước tiến  quân của chúng để vua, quân nhà Trần rút lui chiến lược từ căn cứ kháng chiến ở Trường Yên (Ninh Bình) và Thiên Trường (Nam Định) về Ái Châu (Thanh Hoá) an toàn để có thêm thời gian chuẩn bị thêm lực lượng, quân giặc thêm mỏi mệt, sau đó phản công thắng lợi trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai (1285). Tấm gương hy sinh vì nước của công chúa An Tư được những người dân Đại Việt muôn đời ca tụng và sử sách lưu truyền. 
 
(Còn nữa)
 
V-X-B
 
Đón đọc Kỳ 2: 'Bài học lấy dân làm gốc"
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}