Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Vài suy nghĩ về bảo tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội Đền quan Hoàng Mười Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, cơ hội và triển vọng*

PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng - Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam | Thứ Hai, 19/06/2017 06:37 GMT +7

Nhìn chung các truyền thuyết cho thấy trong tâm thức dân gian quan Hoàng Mười là hóa thân của các vị danh nhân nổi tiếng gắn bó với xứ Nghệ, quan Hoàng Mười trở thành biểu tượng anh hùng văn hóa quy tụ tất cả những phẩm chất giá trị của người con quê hương có đóng góp cho việc xây dựng và bảo vệ xứ Nghệ trong thời quân chủ.

Đền ông Hoàng Mười (ảnh trên) tại làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (còn được gọi là Mỏ Hạc linh từ, hay Đền Xuân Am) được xây dựng vào thế kỉ XVII, dưới thời hậu Lê.

1. NHẬN DIỆN DI SẢN

1.1 Tên gọi, địa điểm

Đền thờ Quan Hoàng Mười được gọi theo tên làng là đền Xuân Am[1]. Ngoài tên đó  ra, cũng như những ngôi đền khác trên đất nước ta xưa, đền còn có tên gọi theo âm Hán- Việt  là “Mỏ Hạc Linh từ”. Theo quan niệm phong thủy, ngôi đền dựng trên vùng đất có hình tượng đầu một con hạc, do những con sông tạo thành, đầu con hạc đội Lam giang, mỏ chầu về Đồng Trụ Sơn, đền thờ quan Hoàng Mười xây dựng ở nơi được cho là mỏ hạc. Đền được xây dựng tại một khu đất có cảnh quan đẹp, ở khu vực ngã ba sông, nơi gặp nhau của một số dòng sông nhỏ đổ vào sông Lam, các công trình kiến trúc của đền nhìn ra phía sông Lam (hướng nam), phía sau dựa vào các núi Kỳ Lân, Dũng Quyết. Bao quanh ngôi đền là những cánh đồng trải dài mênh mông, đồi núi nhấp nhô.

1.2 Nhân vật được thờ

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ của người Việt ở nước ta (Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ, Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ, Mẫu Thoải cai quản Thủy phủ, Mẫu Địa cai quản Địa phủ), Quan Hoàng Mười đều được phối thờ trong các thần điện thờ Mẫu. Duy nhất ở đền Xuân Am (Mỏ Hạc Linh từ) Nghệ An là nơi thờ chính của quan Hoàng Mười. Bên cạnh việc thờ quan Hoàng Mười, trong đền còn thờ hệ thống tượng Mẫu, Song đồng ngọc nữ và Phụ quốc thượng tướng quân Nguyễn Duy Lạc (một võ quan thời hậu Lê quê ở Xuân Am). Trong khu vực đền người dân địa phương có xây khu lăng mộ cho Ngài.

Theo các truyền thuyết lưu hành tại địa phương (xứ Nghệ) hiện nay, có khá nhiều dị bản về lai lịch tiểu sử, thân thế của quan Hoàng Mười. Hầu hết các truyền thuyết đền gắn quan Hoàng Mười với một trong những vị danh nhân của xứ Nghệ, người có công lao trong quá trình đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hương xứ Nghệ. Với người này Ông là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, được giao cai quản châu Nghệ An. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Ông. Với người kia thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài trong khởi nghĩa Lam Sơn. Sau kháng chiến chống quân Minh, làm quan được phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân.Khi Ông mất người dân vùng Nghệ An gọi ông là “Đức thánh minh”, lập nên đền thờ để hậu thế đời đời tưởng nhớ. Nhiều người khác lại nghiêng về giả thuyết, quan Hoàng Mười chính là Cương quốc công Nguyễn Xí, một người con xứ Nghệ từng tham gia nghĩa quân Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh. Nguyễn Xí là một vị quan tài hoa lỗi lạc. Sau chiến tranh Ông được triều đình giao cai quản đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi về đây, ông đã truyền dạy cho dân trồng lúa nước, đắp đê ngăn lũ, làm thủy lợi nội đồng... 

Lại có những thuyết coi quan Hoàng Mười là một trong những người con của đất Xuân Am, Nguyễn Duy Lạc là người có tài thao lược, đã từng phò tá vua Lê, được phong đến chức Đô chỉ huy sứ, có công lao lớn trong việc đánh đuổi quân nhà Nguyễn ở Đàng trong tiến ra cướp 7 huyện Nam Hà (nay là vùng đất Hà Tĩnh và tả ngạn sông Lam bao gồm Thanh Chương, Nam Đàn), được phong Vị quốc công, đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân.

Nhìn chung các truyền thuyết cho thấy trong tâm thức dân gian quan Hoàng Mười là hóa thân của các vị danh nhân nổi tiếng gắn bó với xứ Nghệ, quan Hoàng Mười trở thành biểu tượng anh hùng văn hóa quy tụ tất cả những phẩm chất giá trị của người con quê hương có đóng góp cho việc xây dựng và bảo vệ xứ Nghệ trong thời quân chủ. Người đã phấn đấu quên mình cho quê hương, khi mất trở thành thánh phù hộ cho dân, cho nước thái bình thịnh trị và được nhân dân địa phương lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và nhắc nhở con cháu đời sau nêu gương sáng của ngài. Công lao của quan Hoàng Mười đã được các triều dại quan chủ trước đây ghi nhận, ban sắc phong, hiện tại đền còn lưu giữ một số sắc phong, trong đó đạo sắc ghi ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) phong Ngài là: “Quang uý Trung đẳng thần”.

1.3 Di sản văn hóa vật thể

Theo tài liệu hiện biết, đền được xây dựng năm 1634, thời Lê trung hưng trên mảnh đất bằng phẳng, địa hình cảnh quan đẹp, phù hợp với quan niệm phong thủy của người phương đông. Khu đền có diện tích hơn 1 ha, theo trí nhớ của người dân địa phương trước đây đền có quy mô khá lớn bao gồm các công trình kiến trúc như: tam quan, sân, ba toà: hạ điện, trung điện và thượng điện.Tam quan có voi quỳ, hổ phục, có hai cửa tả, hữu với đôi cột nanh cao lớn.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khu đền bị hư hỏng,xuống cấp, hoang tàn đổ nát, việc thờ Ngài phải tạm rời vào làng. Sau khi thống nhất đất nước, từ năm 1975  đến năm 1995 trong quá trình đất nước thực hiện đổi mới, phát triển, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng lại đền trên khu đất cũ với các hạng mục: thượng điện, hạ điện, tả hữu vu, điện cô Chín, điện Cửu trùng và mộ ông Hoàng Mười. Bên cạnh việc khôi phục lại kiến trúc, nhiều di vật trong đền như: hệ thống tượng, hoành phi câu đối, đại tự, kiệu, đồ tự khí.v.v. cũng được sưu tầm, phục hồi, làm mới. Các hiện vật gốc còn lại là 21 đạo sắc, bản thần tích một số tài liệu hán văn. Đến năm 2002, đền được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng di tích cấp tỉnh. Từ đó đến nay, khu đền vẫn được bảo quản chu đáo phục vụ cho việc thờ cúng quan Hoàng Mười và các hoạt động tín ngưỡng của người dân địa phương cũng như khách thập phương. Do di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An phát huy giá trị khá tốt thu hút ngày càng nhiều du khách nên UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt dự án "Bảo tồn, tôn tạo và mở rộng di tích lịch sử văn hóa đền ông Hoàng Mười". Dự án được quy hoạch với tổng diện tích xây dựng 13,68 ha, bao gồm 4 khu vực: khu tâm linh, khu dịch vụ, khu lễ hội và khu cây xanh cảnh quan. Dự án được thực hiện với 2 giai đoạn (năm 2014 - 2017 và năm 2018 - 2020).

1.4 Di sản văn hóa phi vật thể

Trải qua nhiều thăng trầm  lịch sử tại đền vẫn duy trì hai kỳ lễ hội lớn hàng năm vào rằm tháng 3 âm lịch (lễ hội khai điểm) và 10/10 âm lịch  (giỗ ông Hoàng Mười).

Lễ hội khai điểm: Phần lễ: Sáng ngày 14/3 âm lịch: lễ yết cáo ; Tối ngày 14/3 âm lịch: lễ đại tế; Sáng ngày 15/3 âm lịch: Lễ dâng hương; Tối ngày 15/3 âm lịch: lễ yết cáo. Phần hội: Chiều ngày 14 tháng ba âm lịch: Rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền; Chiều ngày 15 tháng ba âm lịch: Hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người; Sáng ngày 16 tháng ba Rước sắc bằng thuyền từ đền về nhà thờ họ Nguyễn tại làng Xuân Am

Lễ giỗ ông Hoàng Mười: Lễ giỗ để ghi nhớ công ơn của ngài là lễ hội lớn ở đền. Lễ hội được thực hiện từ mùng 8 đến mùng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Theo chương trình lễ hội năm 2015 tại đền như sau:

- Ngày 8/10: 8h:  Lễ Khai quang tại đền

      - Ngày 9/10: 14h: Lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn làng Xuân Am về đền.

                      16h: Lễ Yết cáo tại đền

-nNgày 10/10: 9h30  Lễ đại tế tại đền

                                  19h: Lễ tạ và rước sắc về đền thờ họ Nguyễn trong làng.

Phần hội trong thời gian này có các trò chơi dân gian, như: hát Chầu văn, đánh cờ người, kéo co, chọi gà, nhảy bao bố bịt mắt đập niêu, đua thuyền, thả đèn hoa đăng  tại dòng sông trước cửa đền và các hoạt động văn hóa thể thao mới như giao lưu văn nghệ, bóng chuyền.

5. Quan Hoàng Mười trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta có khá nhiều vị thần được thờ, hình thành một hệ thống thờ tự bao gồm phủ, đền, điện, tĩnh ban. Tượng thờ trong thần điện bao gồm các tượng Mẫu (Thiên, Địa, Thủy, Nhạc), Quan lớn ( Đệ nhất, đệ nhị , đệ tam, đệ tứ và đệ ngũ), Tứ vị chầu bà, Quan hoàng, Thánh cô , Thánh cậu,  các con vật thuộc về tứ phủ tiêu biểu có ông Hổ, rắn (ông Lốt), Trên  ban công đồng trong thần điện còn có Ngọc hoàng Thượng đế, Nam tào, Bắc đẩu, vua cha Long thần Bát hải đại vương, có nơi còn thêm cả tượng Phật, Quan Âm Thánh Mẫu. Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là Mẫu và các vị thần bản địa của nước ta. Những vị xuất hiện trong các giá đồng trong nghi lễ hầu đồng của tục thờ Mẫu.

Quan Hoàng Mười nằm trong nhóm các vị quan Hoàng, trong các thần điện thờ Mẫu, quan Hoàng Mười thường được thể hiện là tượng mang trang phục màu vàng, Quan hoàng Bẩy mang trang phục màu xanh.

Tương truyền trong tín ngưỡng thờ Mẫu, Ông là con thứ mười của vua cha Bát Hải,theo sự phân công của vua cha và đệ nhất thánh Mẫu Thượng Thiên, quan Hoàng Mười được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh, được đặc cách toàn quyền kiểm sát khâm sai ở xứ Nghệ. Quan Hoàng Mười là một người văn võ toàn tài, có công dựng nền thịnh trị, ổn định cuộc sống cho nhân dân quanh vùng, ông luôn quan tâm, gần gũi, giúp đỡ những người dân lao động nghèo khó. Quan Hoàng Mười là một "Đức Thánh Minh" trong hàng các quan Hoàng của tín ngưỡng thờ Mẫu, được nhiều người ngưỡng mộ và được thờ ở nhiều địa phương trong nước.Quan Hoàng Mười  được triều vua Khải Định sắc phong Trung Đẳng thần, nhưng trong tâm thức dân gian Ông luôn được coi là vị thần thượng đẳng.

Trong các buổi hầu đồng (vấn đồng) của tín ngưỡng thờ Mẫu, hiếm khi vắng mặt giá quan Hoàng Mười. Trong số mười vị Quan Hoàng, Quan Hoàng Mười thường được mời về ngự đồng. Khi ngự đồng, quan Hoàng Mười mặc long phục màu vàng; thêu chữ “thọ”, đầu đội khăn xếp, thắt dây vàng, cài chiếc trâm lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương, khai quang, lúc múa cờ xông pha chinh chiến, lúc lấy quạt làm sách, khi lấy bút làm trâm gài đầu, vừa đi vừa ngâm thơ, khi cầm dải lụa vàng cùng người dân lao động kéo lưới trên sông. Khi quan Hoàng Mười ngự đồng, thường có bát chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu…là những sản vật quen thuộc của quê hương xứ Nghệ. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, quan Hoàng Mười và quan Hoàng Bảy được Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng nên Ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như quan Hoàng Bảy. Tuy nhiên khác với quan Hoàng Bảy, những người nào có căn quan Hoàng Mười thường hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương.

Theo quan niệm của giới hầu đồng, quan Hoàng Mười là vị thánh chuyên ban lộc cho phát về công danh sự nghiệp. Chính vì thế, ai cũng muốn đến đền xin lộc ông vào mỗi dịp đầu năm. Đó cũng là lý do khiến ngôi đền thờ quan Hoàng Mười Nghệ An luôn tấp nập du khách vào mỗi dịp đầu xuân.

2. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH VÀ LỄ HỘI

Kể từ khi được xây dựng đến nay (1634), trải gần bốn thế kỷ, dù trải qua nhiều thăng trầm biến đổi, dựng rồi đổ, đổ rồi lại dựng, ngôi đền thờ quan Hoàng Mười vẫn được chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng tại vị trí cũ, nơi “Mỏ Hạc”, trong hình thế: “đầu đội Lam Giang, mỏ chầu đồng trụ”, trên mặt bằng, diện tích như ban đầu, quy mô, phương hướng, các hạng mục của đền không kém khi xưa là mấy. Hiện khu đền đang đuợc quy hoạch mở rộng.

Hai kỳ lễ hội tháng 3 và tháng 10 âm lịch hàng năm ở đền vẫn được diễn ra đều đặn. Các quy trình, hoạt động lễ hội tại đền được duy trì, nhất là sau khi đất nước đổi mới, ngày càng có xu hướng phát triển kể từ sau khi đền được xây dựng lại từ năm 1995. Từ đó đến nay, di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An ngày càng thu hút được sự chú ý quan tâm của không chỉ những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn của nhân dân, khách thập phương trong cả nước. Giá trị văn hóa của di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An cùng các hoạt động liên quan đến quan Hoàng Mười trong tục thờ Mẫu đã góp phần đưa tín ngưỡng thờ Mẫu của nước ta ra Thế giới. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản văn hóa phi vật thể “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Lễ đón bằng của UNESCO đã diễn ra vào ngày 2/4/2017).

Trong bối cảnh đó để di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An được bảo tồn và phát huy giá trị một cách hiệu quả, xứng đáng với vị thế của một di sản văn hóa nằm trong Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp với thực trạng di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An hiện nay. Thứ nhất: Cần nhanh chóng triển khai chương trình Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu sau khi được ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Thứ hai: Sớm đưa di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An vào chuỗi hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cũng như các hoạt động của Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

Chúng ta biết rằng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, các vị thần linh được thờ chung trong hầu hết các thần điện. Tuy nhiên mỗi vị thần đều có những nơi thờ chính tương tự như trường hợp của đền thờ quan Hoàng Mười tại Nghệ An. Mẫu Liễu được thờ ở Phủ Giầy (Nam Định), Quan Hoàng Bảy ở đền Bảo Hà (Lào Cai), Quan Đệ Nhị Triệu Tường ở Gia Miêu (Thanh Hóa), Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh ở đền Tranh (Hải Dương), cô Ba tại đền Bơ Bông (Thanh hóa)… Ngày nay nhiều cơ sở thờ tự mới của tín ngưỡng này vẫn đang tiếp tục ra đời. Ngoài di tích và lễ hội truyền thống liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu, các hoạt động hầu đồng diễn ra ngày càng nhiều[2]. Vì vậy việc tập trung nghiên cứu và phát huy giá trị các di tích và lễ hội ở các khu di tích gốc liên quan đến các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu như đền thờ quan Hoàng Mười Nghệ An, phủ Giầy Nam Định… trong bối cảnh hiện nay nhằm bảo tồn và phát huy tốt những giá trị văn hóa đích thực và hạn chế những yếu tố tiêu cực, không phù hợp với các giá trị văn hóa hiện nay là rất cần thiết. Đối với các di tích và lễ hội gốc như đền quan Hoàng Mười Nghệ An cần có những giải pháp để nâng tầm di tích và lễ hội ngang với vị thế là một trong những di tích gốc về một trong những vị thánh trong tục thờ Mẫu của người Việt. Muốn vậy cần phải tăng cường nghiên cứu xác định chính xác các giá trị lịch sử văn hóa của di tích và lễ hội.   

2.1 Nghiên cứu xác định giá trị di tích

Từ sau khi đền quan Hoàng Mười được xây dựng lại năm 1995, địa phương đã có mong muốn khu đền được xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Tuy nhiên do chưa đáp ứng được các tiêu chí của di tích cấp Quốc gia theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ngày 4/4/1984 của Hội đồng nhà nước nên khu đền chưa được xếp hạng di tích. Sau khi Luật Di sản văn hóa được Quốc hội ban hành năm 2001 quy định việc xếp hạng Di tích cấp Quốc gia đặc biệt, Di tích cấp Quốc gia và Di tích cấp Tỉnh. Theo đó năm 2002, khu đền đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ra quyết định xếp hạng Di tích cấp Tỉnh. Nay “Thực hành thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Quan Hoàng Mười là một trong những vị thánh có vị trí quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu, đền quan Hoàng Mười Nghệ An là nơi duy nhất thờ riêng ngài, những nơi khác đều là phối thờ với Mẫu, tại đây có mộ của ngài.Tuy nhiên việc nâng cấp xếp hạng khu đền là Di tích cấp Quốc gia còn gặp nhiều khó khăn vì những lý do sau:

Theo quy định tại điều 28 Luật Di sản văn hóa[3] và khoản 10 điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa[4], Nghị định 98/2010NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa[5], di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được phân loại như sau: 1. Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); 2. Di tích kiến trúc nghệ thuật; 3. Di tích khảo cổ; 4. Danh lam thắng cảnh.

“Di tích Quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của Quốc gia, bao gồm:

a) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;

d) Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù.”

Hiện nay, những di tích liên quan đến tục thờ Mẫu nước ta đã được xếp hạng cấp Quốc gia thường nằm trong loại hình di tích lịch sử (lưu niệm danh nhân) và di tích kiến trúc nghệ thuật (Phủ Giầy)

Với đền quan Hoàng Mười Nghệ An, về giá trị lịch sử còn có những khúc mắc, nếu như ở các di tích khác, sự tích các vị thần được thờ liên quan đến một nhân vật cụ thể, còn về thân thế sự nghiệp quan Hoàng Mười như đã nêu ở trên được gán cho khá nhiều nhân vật nổi tiếng ở xứ Nghệ, vì vậy việc xác định tiểu sử thân thế sự nghiệp của ngài còn khá nhiều phức tạp, gây khó cho việc xếp hạng di tích dưới góc độ di tích lịch sử lưu niệm danh nhân. Trong tình hình tư liệu hiện nay rất khó để xác định quan Hoàng Mười là một nhân vật cụ thể nào trong số các vị: Lí Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Nguyễn Duy Lạc. Vì vậy, để có thể xác định tầm vóc lịch sử của Quan Hoàng Mười nên triển khai theo hướng xác định thân thế sự nghiệp của các vị nêu trên. Các ngài Lí Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Xí công lao đối với đất nước đã được ghi nhận, một số đền thờ các ngài đều đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia, như: đền Nen (xã Thạch Tiến, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh), đền thờ Uy Minh vương Lí Nhật Quang (xã Vĩnh Quỳnh, huyện Quỳnh Lưu), đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc, Nghệ An), đền Chiêu Trưng đại vương Lê Khôi (xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh). Vấn đề còn lại là làm rõ tầm vóc công lao sự nghiệp của vị Quốc công, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Nguyễn Duy Lạc, góp phần khẳng định dù quan Hoàng Mười là hóa thân của nhân vật nào cũng đều xứng dáng được tôn vinh ở cấp Quốc gia.

Về giá trị kiến trúc nghệ thuật, đền mới được dựng lại năm 1995, hầu hết các hạng mục đều làm mới, hiện nay địa phương đang triển khai dự án bảo tồn tôn tạo và mở rộng khu đền, nên rất khó đáp ứng các tiêu chí về di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Trong tình trạng hiện nay của đền, để nâng cao giá trị kiến trúc nghệ thuật, trên cở sở kiến trúc hiện có, cần tiến hành sưu tầm tư liệu về di tích (ảnh, bản vẽ hoặc những ghi chép, lời kể về di tích), có thể tiến hành khảo sát, thăm dò khảo cổ học để xác định quy mô kiến trúc, vị trí các hạng mục kiến trúc, phát hiện, sưu tầm các hiện vật gốc về kiến trúc ở di tích. Từ đó nghiên cứu điều chỉnh  quy hoạch mặt bằng tổng thể và các hạng mục kiến trúc theo hướng kiến trúc truyền thống tại địa phương trong khu vực tâm linh của dự án. Kết hợp với đó là tăng cường sưu tầm hiện vật liên quan đến di tích để làm tăng thêm giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.

2.2 Nghiên cứu xác định giá trị  di sản văn hóa phi vật thể

Lễ hội: Từ sau khi đền được phục dựng đến nay, hàng năm tại đền diễn ra hai kỳ lễ hội vào rằm tháng 3 và 10/10 âm lịch. Lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An ngày càng có sức hút mạnh mẽ đối với những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu và nhân dân cả nước. Trong bối cảnh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, có cơ sở để địa phương tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia tương tự lễ hội phủ Giầy ( Nam Định) lễ hội đền Suối Mỡ ( Bắc Giang).v.v.

Nghi lễ hầu giá Quan Hoàng Mười: Trong lễ hầu đồng từ trước đến nay hầu như chưa bao giờ vắng mặt giá hầu Quan Hoàng Mười. Tùy theo từng bà đồng các điệu múa diễn tả về quan Hoàng Mười trong múa phong cách, múa đạo cụ hay múa mô phỏng được thể hiện khác nhau (do lối dạy và học theo lối truyền trực tiếp, không ràng buộc theo một lý thuyết nhất định nào), tùy hứng sáng tạo ( xuất thần) của từng người (ông đồng, bà cốt). Tùy theo từng nhóm cung văn lời hát, điệu nhạc trong giá quan Hoàng Mười cũng có những dị bản khác nhau, tạo nên phong cách riêng của từng nhóm cung văn, làm đa dạng các hình thức diễn xuất về quan Hoàng Mười và góp phần cho sự đa dạng tính cách của quan Hoàng Mười.

Việc thực hành nghi lễ hầu giá quan Hoàng Mười không chỉ diễn ra trong những ngày lễ hội tại đền thờ quan Hoàng Mười Nghệ An mà còn được thực hành vào nhiều dịp trong năm cùng với các giá đồng khác. Việc nghiên cứu giá trị nghệ thuật của giá hầu quan Hoàng Mười tại đền sẽ góp phần làm rõ hơn tính đại diện của các di sản văn hóa phi vật thể ở đền liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu (quan Hoàng Mười) ở nước ta, bổ sung vào hồ sơ đưa lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia.

2.3 Xây dựng hồ sơ đưa vào Danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia

Theo quy định tại Thông tư  04 /2010/TT-BVHTTDL ngày 30/06/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định việc Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Một di sản văn hóa được lựa chọn để lập hồ sơ khoa học đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia phải có đủ các tiêu chí sau:

1. Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương;

2. Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ;

3. Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài;

4. Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ”[6]

Theo quy định trên, để có thể đưa lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, trong thời gian tới chúng ta cần triển khai một số công việc sau:

- Đi sâu nghiên cứu các đặc điểm lịch sử của lễ hội, như: sự sáng tạo của cộng đồng địa phương trong quá trình hình thành, phát triển và định hình chương trình nội dung lễ hội; vai trò, sự tham gia của các thành phần cư dân trong cộng đồng địa phương vào các hoạt động của lễ hội; những sắc thái riêng, tính địa phương của lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An so với các lễ hội khác ( ví dụ so sánh với lễ hội đền Củi- Hà Tĩnh); mối quan hệ giữa họ Nguyễn Xuân Am với các hoạt động của di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười tại địa phương; những tác động của lễ hội đền quan Hoàng Mười tới đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế của cộng đồng địa phương như tạo nên sự gắn bó đoàn kết trong cộng đồng, mở rộng giao lưu, trao đổi văn hóa, giao thương với bên ngoài, phát triển kinh tế (du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, công nghiệp văn hóa).

- Đẩy mạnh nghiên cứu về đặc điểm tín ngưỡng trong lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An trên các mặt không gian và thời gian diễn ra lễ hội tại địa phương, theo chu kỳ hoạt động nông nghiệp, một năm hai lần vào dịp cuối xuân ( rằm tháng 3 âm lịch) và cuối thu ( 10/10 âm lịch). Sự linh thiêng của lễ hội thông qua sự tích của quan Hoàng Mười và các hoạt động lễ, hội, nghi lễ, trò chơi, trò diễn mang tính thiêng như rước sắc, hầu đồng…

- Tiếp tục nghiên cứu các đặc điểm nghệ thuật trong lễ hội (nghệ thuật trang trí sắp đặt, nghệ thuật trình diễn). Trang trí sắp đặt gồm có các hoạt động như: các loại cờ,  màu sắc nội ngoại thất của đền, việc sắp đặt tượng, các loại đồ tự khí trong nội ngoại thất, trang phục cho các đội tế, màu sắc nhạc cụ, ý nghĩa của nghệ thuật sắp đặt tại đền trong và ngoài lễ hội. Nghệ thuật trình diễn bao gồm: lễ tế, rước sắc, các trò diễn, các giá hầu đồng trong đó có giá hầu quan Hoàng Mười, hát chầu văn, trò chơi (đánh cờ người, kéo co, chọi gà, nhảy bao bố, bịt mắt đập niêu, đua thuyền, thả đèn hoa đăng  tại dòng sông trước cửa đền…)

- Nghiên cứu so sánh để làm nổi bật những nét riêng, đại diện của di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An trong hệ thống di tích và lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở nước ta.

- Trong tình hình tư liệu về thân thế sự nghiệp quan Hoàng Mười hiện nay, cần tiếp tục: Nghiên cứu, sưu tầm tư liệu về thân thế sự  nghiệp của quan Hoàng Mười, làm sâu sắc thêm công lao sự nghiệp của đối với dân với nước của ngài; Nghiên cứu ý nghĩa của việc thờ cúng quan Hoàng Mười trong tín ngưỡng dân gian Nghệ An - Hà Tĩnh và cả nước; Xác định rõ hơn vai trò của quan Hoàng Mười trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu.

- Nghiên cứu, sưu tầm, lưu trữ các tài liệu, lời văn, điệu nhạc, nghi lễ hầu đồng liên quan đến giá quan Hoàng Mười ở Nghệ An và trong các nhóm đồng trên cả nước.

2.4 Về công tác quản lý di tích và lễ hội

Một số việc cần làm đối với công tác quản lý di tích và lễ hội:

- Tiếp tục củng cố bộ máy quản lý di tích và lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An, theo hướng phát huy vai trò tự chủ của cộng đồng địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước có kế hoạch hỗ trợ trong việc bảo vệ trật tự, an ninh, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường, xử lý các diễn biến tiêu cực tại di tích và lễ hội.

- Hướng dẫn các nội dung tuyên truyền phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, quan Hoàng Mười nói riêng trong các chương trình hành động phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: “ Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”.

- Hạn chế và loại bỏ các tác động tiêu cực do những nhận thức sai lệch mang nặng yếu tố mê tín, dị đoan vốn đã bị phê phán của tín ngưỡng này.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về quan Hoàng Mười.

- Đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa và công lao sự nghiệp của quan Hoàng Mười ra cả nước và Quốc tế.

- Thực hiện dự án bảo tồn tôn tạo và mở rộng đền đúng tiến độ đề ra.

- Xúc tiến xây dựng hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nâng cấp xếp hạng Di tích cấp Quốc gia cho di tích đền quan Hoàng Mười Nghệ An và đưa lễ hội đền quan Hoàng Mười Nghệ An vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia./.

------------------------------

* Tham luận tại Hội thảo “Giá trị lịch sử - văn hóa của di tích đền Ông Hoàng Mười huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An” do UBND huyện Hưng Nguyên phối hợp với Viện Nghiên cứu Truyền thông Văn hóa Dân tộc và Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tổ chức ngày 10/6/2017 tại Hà Nội.

Tài liệu tham khảo.

1. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Di sản văn hóa, số: 28/2001/QH10, ngày 29/06/2001.

2. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam( 2009) Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, số  32/2009/QH12,  ngày 18/06/2009.

3. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ( 2010), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/09/2010.          

4. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ( 2010), Thông tư  của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, số 04 /2010/TT-BVHTTDL, ngày 30/06/2010.

5. Nguyễn Quốc Hùng (1985), Bài trí ở một thần điện quanh Hà Nội “Những phát hiện mới về khảo cổ học 1984”. tr 217-219.Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

6. Nguyễn Quốc Hùng (1995), Đức Thánh Trần trong tâm thức người Việt “Kỷ yếu hội thảo khoa học thời Trần và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà”, tr 274-27. Sở Văn hóa Nam Hà.

7. Nguyễn Quốc Hùng (2016),Vài suy nghĩ về việc bảo vệ và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại. Bộ VHTTDL- Viện VHNTQGVN- UBND tỉnh Nam Định- Sở VHTTDL Nam Định. Hội thảo Khoa học Quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại- trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu. Nam Định, ngày 5-6 /1/2016.

8. Nguyen Van Huyen (1944), Le Cultes des Immortels en An Nam, Imprimerie D’Extrême- Orient, Hanoi.

8. Vũ Ngọc Khánh (2012), Tục thờ Thánh – Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

9. Đăng Văn Lung (2004), Văn hóa Thánh mẫu. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

10. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) 1996, Đạo Mẫu ở Việt Nam. Nxb Văn hoá, Hà  Nội.

[1] Làng Xuân Am thuộc xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An hiện nay. Theo một số tư liệu cho biết làng Xuân Am, trước đây gọi là Âm Công, đến cuối thời nhà Nguyễn xã có tên là Yên Pháp

[2] Nguyễn Quốc Hùng (2016), Vài suy nghĩ về việc bảo vệ và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại. Bộ VHTTDL- Viện VHNTQGVN- UBND tỉnh Nam Định- Sở VHTTDL Nam Định. Hội thảo Khoa học Quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại- trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu, Nam Định, ngày 5-6 /1/2016

[3] Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Di sản văn hóa, số: 28/2001/QH10, ngày 29/06/2001.

[4] Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam( 2009) Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, số  32/2009/QH12,  ngày 18/06/2009.

[5] Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ( 2010), Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/09/2010.      

[6] Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ( 2010), Thông tư  của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, số 04 /2010/TT-BVHTTDL, ngày 30/06/2010

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}