Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc (Kỳ 1)

PGS TS Cao Văn Liên | Thứ Năm, 07/01/2021 09:28 GMT +7

Sau khi đăng tải hết cuốn sách "Thuiyr hải chiến Việt Nam", Vanhien.vn trân trọng giới thiệu tiếp bài viết của PGS TS Cao Văn Liên về "Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc"

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

CHƯƠNG I

THỦY QUÂN THỜI SƠ KHAI                               

Nằm trên bán đảo Đông Dương, ở về phía Đông Nam châu Á, Việt Nam vừa nối liền với lục địa châu Á vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương. Với vị trí địa lý như vậy, Việt Nam hoàn toàn nằm trong vòng đai nhiệt đới. Tuy vậy, khí hậu Việt Nam lại không thuần nhất là nhiệt đới, đất nước ta vốn dài, khí hậu miền Nam, miền Bắc có sự khác nhau.

Vị trí địa lý như vậy đã tạo nên tính chất phong phú của thiên nhiên Việt Nam. Với một diện tích khoảng hơn 33 vạn km2, Việt Nam vừa có núi non trùng điệp, đồng bằng bát ngát, lại vừa có biển cả bao la, sông ngòi dài rộng. Bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên dài hơn 3.260km, còn bao gồm vùng lãnh hải rộng lớn với nhiều đảo và quần đảo. Nguồn nước dồi dào của miền khí hậu nhiệt đới là nguyên nhân của hệ thống sông ngòi dày đặc, dọc theo bờ biển cứ khoảng 20km lại gặp một con sông. Việt Nam là quê hương cuối cùng của những con sông lớn bắt nguồn từ lục địa châu Á trước khi đổ ra Thái Bình Dương như các sông Hồng, Tiền Giang, Hậu Giang... Những dòng sông đó hàng năm đổ ra biển hàng tỉ mét khối nước, tải một lượng phù sa khổng lồ tạo nên những châu thổ rộng lớn, màu mỡ.

Sự phát triển của xã hội loài người là do điều kiện địa lý, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định thúc đẩy phát triển.  Điều kiện địa lý như trên là một nhân tố quan trọng trong quá trình tiến hóa của xã hội Việt Nam.

Môi trường sống như thế nào thì cũng rèn luyện cho con người có khả năng thích ứng với môi trường đó. Sống trên một đất nước có biển rộng, có sông ngòi dày đặc như Việt Nam thì việc chinh phục sông biển phục vụ cho đời sống con người là một việc làm cần thiết, tất yếu. Bên cạnh nghề nông, nhân dân ta từ xa xưa đã biết dùng thuyền đánh cá, giao dịch buôn bán với nước ngoài bằng thuyền, tìm hiểu chế độ nước của hệ thống sông ngòi để phục vụ cho trồng trọt. Tất cả những công việc lao động đó đưa đến kết quả là cha ông ta từ rất xưa đã giỏi bơi lội, thạo nghề đi biển và tích lũy được nhiều kinh nghiệm.

Chính nằm ở phía Đông Nam châu Á, một vị trí chiến lược quan trọng, tiếp xúc với đất liền và đại dương, ở vào ngã tư của những con đường thủy bộ quan trọng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây cùng với sự phong phú về tài nguyên, Việt Nam bị nhiều kẻ thù dòm ngó và nhiều lần đem quân xâm lược, bị ngoại xâm đe dọa do vị trí địa lý của mình. Dân tộc ta tồn tại và phát triển không phải chỉ có lao động chinh phục thiên nhiên, tổ chức xã hội, phát triển kinh tế mà còn có nhu cầu cấp thiết chống ngoại xâm. Điều kiện khách quan đó đã làm cho dân tộc ta sớm nẩy nở ý thức dân tộc. Với tiến trình lịch sử, ý thức đó ngày càng thêm mạnh thể hiện tinh thần làm chủ đất nước của tổ tiên ta.

 Với một địa hình mà nhiều con sông đổ ra biển cả thì sẽ là cửa ngõ cho những đạo thủy quân của kẻ thù xâm lược tiến vào. Hành binh xâm lược bằng đường biển, quân giặc sẽ tiến quân nhanh chóng sâu vào nội địa nước ta. Do đó công cuộc chống xâm lược, giữ nước của cha ông ta ngoài lực lượng bộ binh bắt buộc còn phải có thủy quân mới đập tan được kẻ thù. Cha ông ta lại rất thạo nghề thuyền và đi biển. Dùng ngay cái phương tiện sinh hoạt lao động hàng ngày để biến thành vũ khí chống quân thù là một việc làm tất yếu phổ biến của nhiều dân tộc trong nhiều cuộc chiến tranh. Kẻ thù bắt buộc họ phải dùng đến phương tiện đó và dùng phương tiện đó họ sẽ phát huy được đầy đủ sức mạnh sở trường của họ, cái sức mạnh bắt nguồn sâu thẳm vô tận từ truyền thống kinh nghiệm của cả một dân tộc. Như vậy, do điều kiện cấp thiết chống ngoại xâm, giữ gìn đất nước mà thủy quân Việt Nam ra đời rất sớm. Sự ra đời của binh chủng này là một điều cần thiết, tất yếu khách quan của lịch sử.

Các công trình khảo cứu về dân tộc học và khảo cổ học đã chứng tỏ rằng thủy quân Việt Nam ra đời rất sớm, có thể cùng với sự xuất hiện của nhà nước đầu tiên: Nhà nước Văn Lang. Tài liệu dân tộc học cho  biết rằng nhân dân ta trong những ngày hội lớn, ngày lễ tết thường có những trò chơi thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc, phần lớn những trò chơi đó mang tính chất rèn luyện để nâng cao năng lực quốc phòng. Các trò chơi cưỡi ngựa bắn cung, đấu võ, đấu vật, chèo thuyền, bơi chải thường được tổ chức trong những ngày lễ kỷ niệm các anh hùng có công đánh giặc cứu nước. Chải cũng như những chiếc thuyền lớn, thân mình được chạm trổ hoa văn tinh tế rất đẹp, dưới có những bánh xe để khi chèo thuyền đi tượng trưng như đang lướt trên mặt nước. Như vậy, phong tục tập quán của dân tộc ta trong những ngày lễ tết long trọng đã phản ánh được phần nào những quân binh chủng tác chiến, trong đó thủy quân chứng tỏ đã ra đời rất sớm nên dấu ấn đã in sâu vào nề nếp của dân tộc. Từ những trận thủy chiến ngoài chiến trường với những chiến công oanh liệt đã qua, trong những ngày lễ hội long trọng, cha ông ta ôn lại nhiều cảnh hùng tráng, tỏ rõ tài thao lược sức mạnh của dân tộc, của thủy quân với một niềm tự hào. Tại kinh thành Thăng Long, ngày tết nguyên đán, trung thu, hội hè thường có trò chơi đua thuyền và múa rối nước. Múa rối nước là một nghệ thuật đặc sắc của dân tộc ta, đến triều Lý (1009-1225) đã phát triển mạnh mẽ. Đây là cảnh đua thuyền, múa rối nước tại kinh thành Thăng Long được mô tả trong bài văn bia Sùng Thiện (Duy Tiên, Nam Định) khắc năm 1121: ”Hàng nghìn chiếc thuyền bơi giữa dòng nhanh như chớp, muôn tiếng trống khua hòa nhịp với tiếng nước như sấm động..."[1]. Thật là một cảnh hùng tráng mạnh mẽ, không khác gì một trận thủy chiến đang diễn ra trước mắt người xem và nhiều người chèo thuyền đã tỏ rõ tài năng với một nghệ thuật tuyệt vời của một đất nước  lão luyện  thủy chiến lâu đời.

Trong lĩnh vực khảo cổ học, các nhà khảo cổ học qua hàng chục năm tìm kiếm nguồn sử liệu hiện vật đã khôi phục lại tương đối chân xác bộ mặt đời sống của văn hóa vật chất tinh thần của thời đại Hùng Vương, buổi bình minh của công cuộc lập nước, xây dựng đất nước Văn Lang. Các học giả khảo cổ học đã chứng minh được rằng Việt Nam bước vào thời đại đồ đồng cách đây 4000 năm. Khi thời đại đồ đồng thau phát triển thì đất nước bước vào thời kỳ nhà nước Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương. Với một nền văn hóa và kinh tế tương đối cao, người Lạc Việt, chủ nhân của đất nước Văn Lang đã có những tri thức về vũ trụ quan và đặc biệt sống trên mảnh đất có những sông ngòi nên kiến thức thủy văn của họ rất phong phú. Họ hiểu chế độ nước của hệ thống sông ngòi để trồng trọt và họ đã chiến đấu với sông nước để giành cuộc sống. Chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là thiên anh hùng ca đậm đà màu sắc thần thoại ca ngợi cư dân Lạc Việt đã chiến thắng lũ lụt, giành mảnh đất ven sông cho một đời sống định cư xuất hiện vào thời đại đồ đồng thau. Ngoài trồng trọt săn bắn, đánh cá là một phương thức quan trọng trong đời sống lao động của người Lạc Việt. Những tri thức đó về sông biển, cùng với phương thức kiếm ăn chinh phục sông nước là cơ sở để khi nhu cầu tự vệ cấp thiết sẽ ra đời những đội thủy binh đánh trả lại quân thù.

Minh chứng cho điều đó là trên trống đồng, thạp và những đồ đồng Đông Sơn được khắc rất nhiều cảnh đua thuyền sôi nổi trên sông nước, cảnh múa hát có vũ trang và hóa trang theo nhịp trống trầm hùng hòa với tiếng khèn tình tứ thể hiện rõ nhất là trên trống đồng Đông Sơn. Trống đồng Đông Sơn tiêu biểu cho một nền văn minh huy hoàng rực rỡ nhất của tổ tiên ta. Trên trống đồng ngoài sự thể hiện những chiếc thuyền đi biển lớn chở được vài chục người, thuyền chiến có cả vọng lâu ở đằng lái. Thuyền là phương tiện giao thông quan trọng nhất của người Lạc Việt. Người Lạc Việt rất giỏi chèo thuyền và tài bơi lặn.

Thực tế cuộc sống lao động, sinh hoạt, chiến đấu là cơ sở, là nguồn tài liệu phong phú cho nghệ thuật, dù nhà nghệ sĩ có cách điệu bao nhiêu thì trong  tác phẩm vẫn mang dấu ấn sâu sắc của hiện thực xã hội. Thuyền chiến có vọng lâu đằng lái, thuyền lớn đi biển chở được vài chục người, được khắc chạm trên trống đồng Đông Sơn chứng tỏ trong thời kỳ đó thủy quân của đất nước Văn Lang đã ra đời. Bởi vì trong thời đại Hùng Vương công xã nguyên thủy đang trên bước đường tan rã, xã hội đang phân hóa thành giai cấp, mà theo sự giải thích của Ăngghen thì trong thời kỳ này chiến tranh đã trở thành phổ biến và liên tục. Do vị trí địa lý quan trọng của mình, vừa mới ra đời, nước Văn Lang đã phải đương đầu với nhiều kẻ ngoại xâm. Chống ngoại xâm đã trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự lớn mạnh nhanh chóng của xã hội Văn Lang về mọi mặt.

Đặc biệt, ngay trong buổi đầu dựng nước, không những xây dựng lực lượng thủy quân mà cha ông ta còn kết hợp xây dựng thành quách với việc xây dựng  căn cứ thủy quân. Vào nửa sau thế kỷ thứ ba trước công nguyên, Thục Phán, một thủ lĩnh của người Âu Việt ở miền núi đã kết thúc triều đại Hùng Vương, hợp nhất hai  tộc Lạc Việt và Âu Việt thành lập nước Âu Lạc. Thục Phán làm vua lấy Đế hiệu là An Dương Vương. Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc dựa trên sự hợp nhất những bộ lạc gần nhau về địa vực, về dòng máu, về trình độ phát triển kinh tế - văn hóa là một nhu cầu tất yếu khách quan  lịch sử. Bởi vì khi nước Âu Lạc ra đời thì cục diện phương Bắc đang có nhiều biến chuyển lớn, thời chiến quốc (481-221 TCN) đã kết thúc với sự thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng. Nhà Tần theo đuổi chính sách bành trướng bình thiên hạ, phái quân xâm lược phương Nam. Sự thống nhất hai thành phần dân tộc Âu Việt và Lạc Việt làm cho nước Âu Lạc lớn mạnh, đủ sức đối phó với tình thế. An Dương Vương dời đô từ miền trung du (Việt Trì, Phú Thọ) xuống miền đồng bằng Cổ Loa (Đông Anh,Hà Nội) tỏ rõ lòng quyết tâm giữ gìn độc lập của đất nước.

Để chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh chống phong kiến phương Bắc xâm lược, bảo vệ tổ quốc, người Âu Lạc tích cực củng cố quốc phòng. Ngoài cung nỏ và những vũ khí bằng đồng rất lợi hại, người Âu Lạc đã sáng tạo nên một kỳ công về kỹ thuật quốc phòng là xây dựng thành Cổ Loa [2]. Thành Cổ Loa được xây dựng ở vị trí trung tâm của đất nước Âu Lạc với chức năng là kinh đô của vương quốc. Thành nằm trên một khu đất cao phía tả ngạn sông Hoàng Giang. Sông Hoàng Giang ngày xưa là một nhánh quan trọng của sông Hồng, nối sông Hồng với sông Cầu và qua đó nối với sông Lục Đầu ở phía Đông. Theo sử sách rất xưa thì thành được xây dựng 9 lớp quanh co hình xoáy trôn ốc. Chu vi hiện nay còn lại 3 vòng thành bằng đất tổng cộng dài 16km, không kể những ụ công sự và những đoạn lũy thành riêng lẻ. Nhiều đoạn chân thành được kè bằng đá rất vững chắc. Trên mặt thành có nhiều ụ đất cao và nhô ra phía ngoài. Đó là vọng canh và công sự phòng ngự. Ở phía ngoài mỗi bức thành đều có hào sâu rộng, thuyền bè có thể đi lại được. Hệ thống hào đó tạo thành một mạng lưới nối liền với sông Hoàng Giang. Trong thành có  Đầm Cả rộng mênh mông, hàng mấy trăm thuyền bè có thể đậu được.

Thành Cổ Loa đòi hỏi đóng góp sức lao động lớn của người Âu Lạc, số lượng đất đắp như vậy phải huy động tới hàng vạn nhân công. Thành Cổ Loa là một công trình không những thể hiện  tài năng sáng tạo, lao động tài giỏi của người Âu Lạc như vận dụng kiến thức địa lý xây đắp cho hợp lý, phát minh ra kỹ thuật kè đá tảng v.v... mà còn biểu hiện rằng những chủ nhân của thành đó có một tri thức tuyệt vời về quân sự. Giống như nhiều thành lũy của thời đại đó, Cổ Loa vừa là trung tâm chính trị đồng thời cũng là căn cứ quân sự thích ứng với phương thức chiến tranh thời cổ đại trong phòng ngự. Trước hết đó là một căn cứ bộ binh bao gồm nhiều công trình phòng thủ: lũy, hào, ụ, công sự liên tiếp nhau. Những chiếc ụ đất trên mặt thành nhô ra phía ngoài vọng canh và công sự phòng ngự giúp cho người chiến sĩ cố thủ trong đó có thể bắn địch được từ ba phía mà khó có thể bị quân thù tiêu diệt. Tính sáng tạo độc đáo của thành Cổ Loa ở chỗ nó vừa là căn cứ bộ binh vừa là căn cứ thủy quân. Ở phía ngoài mỗi chiến lũy đều có hào sâu, rộng ngập nước vừa là chướng ngại để bảo vệ thành vừa giúp cho thuyền chiến vận động. Tất cả những hào sâu đó hợp thành hệ thống hào nối liền với sông Hoàng Giang tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy thống nhất. Thuyền chiến của thủy quân Âu Lạc, khi tác chiến có thể xuất phát từ quân cảng Đầm Cả ở trong thành vận động theo hệ thống sông hào, phối hợp chiến đấu với bộ binh ở trên mặt thành, trên các công sự phòng ngự. Từ căn cứ Cổ Loa, thủy quân Âu Lạc có thể tỏa ra  sông Hoàng Giang xuôi sông Hồng, sông Cầu và tiến ra biển. Thủy quân Âu Lạc có thể ngăn chặn hoặc truy kích thủy quân địch trước khi chúng đột nhập vào nội địa hoặc khi chúng thất bại rút chạy. Khi lui về phòng thủ, thủy quân và lục quân có thể phối hợp tác chiến để phát huy hết sức mạnh phòng ngự tiêu diệt địch. Thành Cổ Loa là chung đúc truyền thống và tài năng quân sự của người Âu Việt và  Lạc Việt: truyền thống thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền và thạo cung nỏ. Thành Cổ Loa cũng thể hiện nghệ thuật triệt để lợi dụng địa hình thiên nhiên đồi, gò, sông nước để xây dựng công trình của người Âu Lạc.

Tóm lại, Cổ Loa là một căn cứ nói lên rằng cha ông ta không những biết phòng thủ mà còn biết tấn công, hết sức tạo điều kiện tấn công địch ngay cả trong công trình quân sự phòng ngự. Cổ Loa là một căn cứ mà tiến lên có thể tiêu diệt được địch, lui về có thể huy động được tốt sức mạnh các quân binh chủng để phòng thủ. Công trình quân sự đó đưa ta đến kết luận rằng, trong buổi đầu dựng nước, kế thừa truyền thống của Văn Lang, lực lượng vũ trang của nhà nước Âu Lạc gồm quân chủng bộ binh  và binh chủng thủy quân. Các nhà sử học nước ta đã chứng minh được rằng quân đội thường trực trong thời kỳ này có đến hàng vạn người, so với dân số đương thời thì đó là một đội quân lớn, được trang bị nỏ liên châu mỗi lần bắn được nhiều phát tên bằng đồng [3]. Đó là một loại vũ khí rất quan trọng, lợi hại được thần thánh hóa là “nỏ thần”. Ngoài "nỏ thần", quân đội Âu Lạc còn được trang bị những loại vũ khí thông thường lúc đó như cung tên, giáo, mác v.v...

 Chính nhờ có lực lượng vũ trang, tức là bộ binh và thủy binh mạnh mẽ đã làm nòng cốt trong cuộc chiến tranh mang tính chất nhân dân của đất nước Âu Lạc đánh bại nhiều lần xâm lược của Triệu Đà vào năm 207 trước công nguyên. Như vậy, ngay trong buổi đầu tiên dựng nước, Thủy quân Âu Lạc đã là một binh chủng cùng với bộ binh gánh vác trách nhiệm nặng nề bảo vệ tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm. Thủy quân Âu Lạc đã cùng với toàn dân nêu cao ý chí độc lập dân tộc, đánh bại kẻ thù xâm lược. Vai trò của thủy quân đối với công cuộc giữ nước đã được xác định  rất sớm. Thủy quân Âu Lạc với sự ra đời của quân cảng Cổ Loa đã được phát triển lên, là những viên đá tảng đầu tiên đặt nền móng cho truyền thống vẻ vang của thủy quân Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc.

 

(Còn nữa)

CVL

----------------------------

[1] Uy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Lịch sử Việt Nam tập I.NXB Khoa học Xã Hội. Hà Nội. 1971. Tr.166.

[2] Nay còn di tích ở huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội.

[3] Ở. chân thành ngoài Cổ Loa vài trăm mét về phía nam đào được 1 kho mũi tên bằng đồng gồm hàng vạn chiếc với nhiều hình loại khác nhau.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}