Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc (Kỳ 3)

PGS TS Cao Văn Liên | Thứ Bảy, 09/01/2021 08:10 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp bài viết của PGS TS Cao Văn Liên về "Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc"

 

Kỳ 3.

Trong những năm 90 của thế kỷ X, nhà Đường suy yếu, nội tình Trung Quốc bị phân liệt thành cục diện năm đời mười nước. Chớp thời cơ khách quan thuận lợi, nhân dân ta lại đứng dậy quyết định vận mệnh của mình. Khúc Thừa Dụ, tiếp theo con là Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đã nổi dậy xây dựng một chính quyền tự chủ, kết thúc cơ bản 1.000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, đặt cơ sở cho độc lập dân tộc. Năm 930 đất nước lại bị quân Nam Hán xâm lược. Người tiếp tục sự nghiệp giành độc lập là Dương Đình Nghệ, ông phản công đánh bại quân Nam Hán và một năm sau giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Nhưng sáu năm sau, năm 937 Dương Đình Nghệ bị một viên tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ. Lo sợ bị trừng trị, Kiều Công Tiễn cho người sang Nam Hán xin cứu viện để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình                                                       

Chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, cuối năm 938, vua Nam Hán phong con là Vạn vương Hoằng Thao làm Giao Vương sai đem thuỷ quân sang xâm lược. Mặt khác, vua Nam Hán đích thân tự cầm quân đóng ở Hải Môn (huyện Bác Bạch, Quảng Đông) sẵn sàng tiếp ứng cho Hoàng Thao. Bên trong thì nội phản, bên ngoài thì giặc sắp vượt biên giới tràn vào, nền độc lập dân tộc vừa mới giành được lại bị đe doạ cực kỳ nghiêm trọng, một mất, một còn.

Tranh minh họa: Trận thủy chiến trên sống Bạch Đằng, Ngô Quyền chỉ huy đánh tan quân xâm lược Nam Hán năm 938. Nguồn: Internet

Tổ quốc lâm nguy, Ngô Quyền đứng ra lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến cứu nước. Khi quân Nam Hán còn ở ngoài biên giới, được quân sĩ và nhân dân ủng hộ, Ngô Quyền kéo quân từ Châu Ái (Thanh Hoá) ra Bắc vây đánh thành Đại La, tiêu diệt tên phản bội Kiều Công Tiễn và gấp rút bước vào tổ chức kháng chiến. Nắm vững đường tiến quân của địch chủ yếu từ mặt biển tiến vào, Ngô Quyền huy động quân dân đẽo cọc, đầu bịt sắt nhọn cắm xuống lòng sông Bạch Đằng ở nơi hiểm yếu nhất gần cửa biển, làm thành một trận địa ngầm. Sau đó Ngô Quyền cho thuỷ quân và lục quân mai phục trong trận địa, chờ thuỷ quân giặc tới.

Quân ta chuẩn bị  xong thì thuỷ quân giặc vừa kéo tới. Lưu Hoằng Thao đem thuỷ quân ào ạt đánh vào sông. Cửa sông Bạch Đằng, khi đó nước thuỷ triều đang lên ngập hết bãi cọc, gió thổi mạnh. Ngô Quyền dùng một đội chiến thuyền nhẹ ra khiêu chiến, dụ thuỷ quân địch từ Vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng. Đang giao chiến thì thuỷ quân ta vờ thua chạy. Tên tướng trẻ Lưu Hoằng Thao kiêu ngạo  thúc đại đội binh thuyền đuổi theo và thế là toàn bộ chiến thuyền địch qua hết bãi cọc vào trong trận địa ngầm của quân ta. Quân ta cầm cự với quân giặc chờ thời cơ. Khi thuỷ triều rút xuống , Ngô Quyền hạ lệnh cho thuỷ binh và bộ binh mai phục hai bên ào ạt đổ ra đánh, đồng thời thuỷ binh ta cũng quay đánh quật lại. Cả hai bên  đánh dữ dội, mãnh liệt, thuỷ quân địch tan rã tháo chạy, ra đến gần biển chiến thuyền địch đụng phải cọc nhọn bị vỡ bị đắm rất nhiều. Quân giặc bị chết đuối, bị quân ta giết không biết bao nhiêu mà kể. Tướng giặc là Lưu Hoằng Thao bỏ mạng trong trận thuỷ chiến ác liệt đó. Thế là đạo thuỷ binh chủ lực xâm lược của quân Nam Hán bị tiêu diệt toàn bộ trong khoảng thời gian không đầy một ngày. Vua Nam Hán đang đem quân cứu viện cho con,  nghe tin đạo thuỷ quân đã bị tiêu diệt, Lưu Hoằng Thao đã bỏ mạng, rất hoảng sợ vội thu tàn quân rút chạy về nước.

 

 

Trận thủy chiến Bạch Đằng là trận thắng rực rỡ nhất trong lịch sử đấu tranh vũ trang giải phóng  của quân và dân ta kể từ trước cho đến lúc đó. Đó là chiến dịch mà vinh quang thuộc về toàn dân lấy lực lượng thủy quân làm nòng cốt. Đó là biểu hiện tài năng quân sự tuyệt diệu của dân tộc ta nói chung và về thủy chiến nói riêng mà Ngô Quyền là người tiêu biểu.

Ngô Quyền là một nhà chiến lược tài giỏi, sáng suốt, ông đã nhìn  thấy tầm quan trọng của hậu phương đối với cuộc chiến đấu sắp tới. Cho nên trước khi bước vào cuộc đọ sức với kẻ thù, ông phải ổn định, củng cố tình hình trong nước, củng cố vững chắc nền chính trị, tinh thần của hậu phương. Từ Châu Ái kéo ra ông đã gấp rút hạ thành Đại La để tiêu diệt Kiều Công Tiễn và các thế lực phản bội. Ngô Quyền hiểu rằng nếu để cho quân xâm lược tiến vào và cấu kết được với thế lực của Kiều Công Tiễn thì sẽ gây khó khăn rất lớn cho cuộc kháng chiến, quân đội của ông phải chống với hai lực lượng quân sự có lực lượng gấp bội thì kháng chiến có thể bị thất bại hoặc có thắng được cũng phải qua quá trình chiến tranh phức tạp, lâu dài. Trong trường hợp Ngô Quyền đem quân ra đánh tan quân xâm lược rồi về tiêu diệt thế lực phản bội sau thì lại càng nguy hiểm vì như thế hậu phương sẽ không vững chắc, quân đội của ông sẽ bị quân thù xâm lược đánh mặt trước, kẻ phản bội đánh mặt sau. Cho nên việc Ngô Quyền gấp rút tiêu diệt thế lực Kiều Công Tiễn trước khi bước vào chiến đấu có tác dụng chính trị quân sự rất lớn, củng cố tinh thần quân dân, củng cố hậu phương vững chắc, quyết định thành bại của cuộc chiến đấu sắp tới.

Trong khi nhận định, phân tích tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Ngô Quyền đánh giá rất đúng. Đây là nguyên tắc hầu như bất di bất dịch đối với bất cứ một nhà chiến lược nào. Từ sự phân tích đánh giá đúng đắn tương quan lực lượng giữa ta và địch mới đưa đến đường lối chiến tranh, kế hoạch tác chiến đúng đắn. Sự đánh giá sai lầm tương quan lực lượng, tự cho rằng ta mạnh hơn địch hoặc địch mạnh hơn ta đều dẫn đến sai lầm trong chỉ đạo chiến tranh và  nhà chiến lược đó phải thất bại. “Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng”, đó là câu châm ngôn cửa miệng của các danh tướng vĩ đại và là một chân lý trong lịch sử chiến tranh. Sau khi đã nắm chắc kế hoạch xâm lược của quân Nam Hán và khi được tin thủy binh giặc sắp tràn vào, Ngô Quyền bảo với các tướng rằng: "Hoằng Thao là một đứa trẻ dại đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía rồi. Quân ta sức mạnh, đối địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi về thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn ngầm đóng ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự, không kế gì hơn kế ấy cả"[1].

   Đấy là lời nhận định chính xác tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch và là phương châm chỉ đạo chiến dịch, kế hoạch tác chiến. Ngô Quyền đã nhìn thấy chỗ yếu cơ bản của địch là từ căn cứ xuất phát đến chiến trường tác chiến quá xa và như vậy thì đội quân viễn chinh  không có hậu phương, việc tiếp tế lương thực, vũ trang khó khăn, quân đội trước khi bước vào chiến đấu đã mỏi mệt. Hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Xa hậu phương thì một đội quân dù hùng mạnh bao nhiêu cũng không thể khắc phục được những khó khăn do quá trình chiến dịch đẻ ra và sẽ dẫn đến thất bại. Những tướng soái lỗi lạc nhất cũng đã từng chôn vùi danh tiếng vì đem quân vào  chiến trường cách biệt với hậu cứ. Đó cũng là chỗ yếu cơ bản nhất của quân Nam Hán, chỗ yếu đó chúng không thể nào khắc phục được. Để khắc phục chỗ yếu đó, quân địch định tiến nhanh vào nước ta hội quân với bè lũ phản bội Kiều Công Tiễn. Nhưng việc Kiều Công Tiễn bị giết đã làm cho quân Nam Hán mất chỗ dựa và do đó càng mất ưu thế. Việc tiêu diệt Kiều Công Tiễn trước khi bước vào chiến tranh của Ngô Quyền không những tạo ưu thế chính trị, quân sự cho quân ta mà còn có tác dụng lớn về quân sự.

Ngô Quyền cũng đã đánh giá chỗ mạnh của địch, đó là ưu thế về quân số và hùng mạnh về thủy quân. Hiện nay, không có một nguồn tài liệu nào cho ta biết chính xác vua Nam Hán đã dùng bao nhiêu vạn quân trong cuộc xâm lược năm 938. Theo Lê Văn Hưu một sử gia nổi tiếng đời Trần thì riêng số thủy quân của Lưu Hoằng Thao cũng đã có trăm vạn, đó là chưa kể số quân bộ do vua Nam Hán tự chỉ huy đang ở Hải Môn (Bác Trạch, Quảng Đông) chuẩn bị vượt biên giới tràn vào. Tuy không rõ cụ thể quân số nhưng trong cuộc chiến tranh này rõ ràng quân địch vượt xa quân ta về số lượng. Nhưng đó là chỗ mạnh không cơ bản, không lâu dài và ưu thế đó có thể bị mất nếu ta có đường lối chiến tranh đúng đắn.

Đánh giá lực lượng quân ta, Ngô Quyền nhìn thấy chỗ mạnh cơ bản của quân ta là tiến hành một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc ngay trên đất nước mình, có một hậu phương vững chắc, có ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc. Do đó sức mạnh tinh thần của quân ta là tuyệt đối. Nhưng chỗ yếu của quân ta là kém địch về số lượng. Trong cuộc chiến tranh này, quân ta phải lấy ít đánh nhiều, đánh một quân đội đông gấp bội về số lượng nhưng bạc nhược về tinh thần. Chỗ yếu của quân ta là không cơ bản, có thể khắc phục được.

Sau khi đã đánh giá toàn diện chính xác so sánh tương quan lực lượng ta và địch, Ngô Quyền định ra đường lối tiến hành chiến tranh. Có hai vấn đề đặt ra, một là quân ta tạm thời rút lui, tránh thế mạnh ban đầu của địch, sau đó nhờ thời gian quân ta tạo nên sự chuyển hóa tương quan lực lượng có lợi cho mình và phản công giải phóng đất nước. Hai là, tập trung lực lượng đánh tan đạo quân chủ lực xâm lược của quân Nam Hán là đạo thủy quân đang tiến vào sông Bạch Đằng. Ngô Quyền đã chọn cách thứ hai vì ông xét thấy quân ta dù ít về số lượng nhưng có thể khắc phục được bằng cách huy động sức mạnh của toàn dân vào cuộc chiến tranh, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, đồng thời hạn chế chỗ mạnh tạm thời của quân địch bằng cách triệt để lợi dụng vào địa thế, vào thiên nhiên, xây dựng trận địa ngầm, dụ địch vào trận địa do mình chọn để tiêu diệt. Có như vậy mới chớp được thời cơ, giành được quyền chủ động. Khi đạo thủy quân chủ lực của Lưu Hoằng Thao đã bị tiêu diệt thì đạo bộ binh của vua Nam Hán tự khắc phải tan vỡ. Nếu lúc này mà ta lui quân thì hai đạo quân thủy bộ của địch sẽ hội được với nhau, lực lượng của địch càng mạnh lên, quân ta hoàn toàn mất quyền chủ động, bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch và có nguy cơ bị quân địch tiêu diệt. Do đó, Ngô Quyền đã hạ quyết tâm chọn Bạch Đằng làm trận quyết chiến chiến lược và thủy quân là lực lượng nòng cốt để hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch: tiêu diệt hoàn toàn đạo thủy quân chủ lực của địch.

(Còn nữa)

CVL

---------------------

[1] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư dẫn theo Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội 1971,trang 140-141.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}