Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc (Kỳ 4)

PGS TS Cao Văn Liên | Chủ Nhật, 10/01/2021 08:17 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp bài viết của PGS TS Cao Văn Liên về "Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc"

Kỳ 4.

Diễn biến của trận thủy chiến hoàn toàn chứng minh sự phân tích và lãnh đạo đúng đắn của Ngô Quyền. Toàn dân đã tham gia lấy gỗ làm cọc bịt sắt xây dựng trận địa ngầm. Huy động toàn dân vào cuộc kháng chiến là một thành công lớn trong chỉ đạo chiến dịch của Ngô Quyền. Thủy quân ta đã triệt để lợi dụng thủy triều, địa thế, dụ địch vào trận địa do quân ta bố trí sẵn, phát huy cao độ yếu tố bất ngờ để tấn công. Tất cả những điều đó đã hạn chế ưu thế của địch về số lượng, làm cho địch đông chiến thuyền, binh sĩ mà bó tay bị tiêu diệt, làm cho quân ta số lượng và chiến thuyền tuy ít mà phát huy được cao độ sức mạnh, mãnh liệt tiến công tiêu diệt địch. Đó cũng là thành công lớn trong nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch của nhà quân sự kiệt xuất Ngô Quyền. Có thể nói Ngô Quyền với chiến dịch Bạch Đằng  đã đặt nền móng vững chắc cho nghệ thuật quân sự lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít đánh nhiều. Kinh nghiệm đó đã được các tướng lĩnh lỗi lạc của dân tộc ta về sau kế thừa và phát huy một cách xuất sắc.

Trận chiến quyết liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền chỉ huy đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Nguồn: Internet.

Về chiến thuật, thủy quân ta trong chiến dịch Bạch Đằng đã áp dụng chiến thuật phục kích để tiêu diệt địch. Nét độc đáo là ở chỗ lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang, nhân dân ta đã thành công trong việc đánh bại kẻ thù không chỉ bằng đánh du kích mà bằng cả đánh chính quy, đã phối hợp được tác chiến giữa bộ binh và thủy binh. Do địa điểm của chiến trường mà thủy binh làm nhiệm vụ chủ yếu trong việc tiêu diệt địch. Chiến dịch Bạch Đằng là biểu hiện sự trưởng thành lớn mạnh về mọi mặt nói chung và về quân sự nói riêng của dân tộc ta. Chiến dịch Bạch Đằng với nghệ thuật quân sự tuyệt vời đã chứng minh một thực tế lịch sử: dân tộc ta có thể đánh bại bất cứ kẻ thù xâm lược nào nếu biết đoàn kết nhất trí và có đường lối chỉ đạo chiến tranh đúng đắn.

Trận thủy chiến Bạch Đằng năm 938 thắng lợi thật  rực rỡ mà ý nghĩa cũng thật là lớn lao đối với lịch sử dân tộc. Bàn về Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng, Lê Văn Hưu nhà sử học nổi tiếng đời Trần viết: "Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể bảo là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu nhưng mà chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được"[1].

Thật vậy, đất nước ta sau hơn 1.000 năm bị phong kiến phương Bắc xâm lược vừa mới giành được độc lập, sự tổ chức xây dựng đất nước về mọi mặt, nhất là về quốc phòng chưa được nhiều. Trong tình hình  đó, sự xâm lược của quân Nam Hán với một lực lượng quân sự lớn, với kế hoạch tấn công hai đạo thủy bộ là một nguy cơ đe dọa nghiêm trọng vận mệnh của Tổ quốc. Chiến thắng oanh liệt của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng cuối 938 là một trận tiêu diệt lớn lực lượng vũ trang của địch, do đó đập tan mưu đồ xâm lược của nhà Nam Hán, đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược của chúng. Chiến thắng đó đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước hơn 1.000 năm của dân tộc ta, nhân dân ta giành lại được quyền làm chủ đất nước. Trên cơ sở ý thức dân tộc đã trưởng thành mạnh mẽ qua quá trình đấu tranh liên tục, lâu dài và gian khổ, Ngô Quyền và quân dân ta đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt. Với chiến thắng quân sự đó, Ngô Quyền đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đặt ra trong hơn 1.000 năm là giải phóng dân tộc. Chiến dịch Bạch Đằng là một cái mốc kết thúc thời kỳ đen tối trong lịch sử dân tộc.

Chiến thắng Bạch Đằng cuối 938 cũng mở ra một thời kỳ mới, một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Thời kỳ khẳng định một cách dứt khoát sự tồn tại vững chắc nền độc lập của đất nước, khẳng định dứt khoát sự xác lập của chế độ phong kiến với sự thống trị về chính trị của giai cấp phong kiến Việt Nam. Do đó, đây là thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến độc lập, sự lớn mạnh của dân tộc Việt Nam, nâng cao ý thức làm chủ của dân tộc, làm chủ đất nước. Ngô Quyền người anh hùng của cuộc kháng chiến đã tiến một bước lớn trên con đường củng cố nền độc lập dân tộc. Với chiến thắng quân sự trên sông Bạch Đằng, mùa xuân năm 939 Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập đường hoàng, lấy Cổ Loa làm kinh đô của vương quốc. Đó là một việc làm có ý nghĩa lớn, khẳng định dứt khoát nền độc lập dân tộc, nêu cao truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời của dân tộc, biểu thị ý chí quyết giữ vững độc lập vừa mới giành được sau hơn 10 thế kỷ bền bỉ đấu tranh.

--------------

[1] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư dẫn theo Lịch sử Việt Nam tập I ,NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1971,trang 141.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}