Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Văn hóa, văn nghệ dân gian trong Quan họ và sự ảnh hưởng của nó đối với âm nhạc đương đại

Kim Oanh - Tạp chí Người Kinh Bắc | Chủ Nhật, 14/05/2017 10:01 GMT +7

Kinh Bắc - Bắc Ninh, một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng, từ xa xưa đã mang trong mình đầy ắp chất thi ca của một miền quê cổ kính được xếp loại bậc nhất của cả nước. Đặc biệt, miền đất cổ này đã sản sinh ra loại hình dân ca độc đáo mang tên Dân ca quan họ Bắc Ninh.              

                                    

                           Ảnh minh họa. Nguồn: Internet                                                   

I. VĂN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN TRONG QUAN HỌ:


    Trong lịch sử của dân tộc, văn hóa, văn nghệ dân gian là yếu tố quyết định sự hình thành các loại hình nghệ thuật truyền thống. Văn hóa, văn nghệ dân gian là loại hình văn hóa do cộng đồng dân tộc sáng tạo ra, sau đó các thế hệ tiếp nối được truyền dạy qua các hình thức như: truyền miệng, hướng dẫn thực hành.
    Văn hóa dân gian bao gồm các hình thức: tín ngưỡng; phong tục tập quán; tri thức; nghệ thuật v.v…Chính vì vậy, văn hóa dân gian ngày càng đứng vai trò quan trọng ở nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, nhất là đối với nghệ thuật.
    Dân ca ra đời gắn liền với đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Mục đích chủ yếu là để mọi người có dịp bày tỏ tâm tình sau những thời gian làm việc vất vả nên đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực thanh nhạc, ngôn ngữ  phù hợp gắn liền với thiên nhiên. Dân ca xuất hiện và tồn tại luôn gắn liền với đời sống hàng ngày của người lao động như: gặt hái, quay tơ, dệt lụa, đan lát, kéo lưới…Các làn điệu dân ca từ Bắc vào Nam rất đa dạng và phong phú như: Hát Xoan, hát ghẹo (Phú Thọ); Dân ca quan họ (Bắc Ninh, Bắc Giang); Hát ví dặm (Nghệ Tĩnh)…Mỗi vùng miền trên đất nước ta đã gắn liền với một loại hình dân ca độc đáo, thể hiện rõ nét đặc trưng của chính vùng miền sản sinh ra nó.
    Kinh Bắc - Bắc Ninh, một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng, từ xa xưa đã mang trong mình đầy ắp chất thi ca của một miền quê cổ kính được xếp loại bậc nhất của cả nước. Đặc biệt, miền đất cổ này đã sản sinh ra loại hình dân ca độc đáo mang tên Dân ca quan họ Bắc Ninh mà vào ngày 30 tháng 9 năm 2009 đã được tổ chức Unesco thế giới chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong loại hình dân ca này, văn hóa, văn nghệ dân gian đã thấm đấm trong từng giai điệu, ca từ của nó.
    Trong nghệ thuật dân gian nói chung, ứng tác dân ca là một hình thức chủ yếu trong sáng tạo ca hát, người sáng tác không được chuẩn bị trước về nội dung đề tài, về thủ pháp nghệ thuật, vì vậy đòi hỏi cá nhân sáng tạo nghệ thuật phải có vốn sống dồi dào và nắm vững kĩ thuật sáng tạo. Riêng đối với 
Dân ca quan họ Bắc Ninh, ngoài những bài quan họ đã có sẵn từ trước thì các liền anh, liền chị giàu tài năng sẽ sáng tác ngay một lời ca quan họ nào đó để ứng với một làn điệu quan họ đã có sẵn trong tình thế đòi hỏi phải ứng phó kịp thời ở những cuộc thi hát.
    Xưa kia, những yếu tố của bài dân ca quan họ không bao giờ được tập thể phân công cho nhiều người phụ trách sáng tác mà các quá trình soạn lời và giai điệu đều chỉ do sự sáng tạo của một cá nhân. Song, quy trình sáng tác dân ca bắt đầu có tính chất chuyên nghiệp vào thời kì trước Cách mạng tháng 8. Ở vài nơi vùng quan họ đã bắt đầu có sự phân công sáng tác: người thứ nhất phụ trách phần giai điệu; người thứ hai chuẩn bị về ca từ và người thứ ba học hát, đồng thời ứng dụng ở các cuộc thi hát. Nhiều bài ca không chỉ sáng tác theo bản năng mà còn có ý thức sáng tạo, tìm tòi cái mới, tiêu biểu như các nghệ nhân Tư La, Cả Vịnh, Sáu Tương…với những bài quan họ cổ như: Chè mạn hảo; Con chim thước; Đêm qua nhớ bạn; Chia rẽ đôi nơi…
    Cũng như mọi loại hình nghệ thuật dân gian, Dân ca quan họ Bắc Ninh là nghệ thuật tự biên tự diễn. Nó tồn tại không phải do người nghe, người xem mà trước hết bởi chính người sáng tác và biểu diễn. Bất cứ liền anh hay liền chị quan họ đều có thể rời bỏ hay gia nhập các tổ chức này.
    Từ xa xưa, Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được đánh giá là loại hình nghệ thuật đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật diễn xướng thể hiện qua lời ca và giai điệu. Dân ca quan họ chính là vẻ đẹp hiện hữu được kết tinh từ những nét đẹp ngàn đời của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc.
    Quan họ Bắc Ninh được hình thành từ lâu đời do cộng đồng người Việt (Kinh) sinh sống ở 49 làng quan họ thuộc 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay (Bắc Ninh có 44 làng, Bắc Giang có 5 làng). Sau này từ 49 làng quan họ cổ còn có thêm 13 làng cũng nằm trong phạm vi lan tỏa của loại hình di sản này. Âm nhạc của dân ca quan họ là một thứ nhạc trữ tình, say đắm. Hầu hết những giai điệu, lời ca thường mềm mại, uyển chuyển; diễn tả tâm trạng yêu thương, nhung nhớ. Dù hát không có nhạc đệm, nhưng những âm điệu i, ơ, ứ hự trong lời ca và những âm nhấn, âm lặp, sự luyến láy đã tạo cho người nghe cảm giác như có nhạc đệm gắn vào trong lời ca quan họ.
    Trong quan họ, lối chơi đòi hỏi phải nhiều công phu, cần phải có nền nếp; quy củ, buộc người chơi phải tuân thủ luật lệ một cách chặt chẽ đối với thể loại ca hát quan họ: hát canh, hát đối đáp, hát kết chạ, hát lễ hội, hát giao duyên…Ngoài ra,quan họ còn có cách hát ngẫu hứng trong những canh hát hội ngày xuân. Chính vì vậy người xưa đã có câu:
    Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ
    Ngoại năm thành chỉ có Bắc Ninh
    Yêu nhau trở lại xuân đình
    Nghề chơi quan họ có tinh mới tường.
    Khi hát, người quan họ có thể gửi vào câu hát thay cho lời nói về tâm tư, tình cảm của mình. Họ tôn trọng lẫn nhau, quan tâm, ân cần, luôn khiêm nhường trong giao tiếp. Họ luôn đau đáu nhớ về nhau khi nảy sinh tình cảm lứa đôi mà phải chịu luật lệ do chính quan họ đặt ra:
    Yêu nhau chẳng lấy được nhau
    Mài dao, đánh kéo nạo đầu đi tu
    Người ơi! Tu ở chùa nào?
    Để tôi làm tiểu tôi vào tu chung./.
    Ca hát quan họ đòi hỏi người hát phải dày công rèn luyện mới có thể đạt chuẩn giọng hát của mình để đảm bảo 4 yếu tố: vang, rền, nền, nảy. Không chỉ đảm bảo về yêu cầu đối với cách thức và kỹ thuật đối với giọng hát mà trong ca hát quan họ, trang phục cũng là một yếu tố quan trọng trong những dịp ca hát. Người quan họ có một trang phục độc đáo mà vẫn không tách rời khỏi nét đẹp của trang phục truyền thống xứ Bắc nói chung. Người quan họ xa xưa đã biết chọn lọc, thiết kế cho mình một bộ trang phục mang vẻ đẹp nền nã, trang trọng. Liền chị thì áo mớ ba mớ bẩy, bên trong mặc yếm đào, đầu chít khăn mỏ quạ, tay cầm nón quai thao làm duyên. Liền anh thì mặc áo the, đầu đội khăn xếp, tay cầm ô lục soạn. Tất cả trang phục và đạo cụ làm cho vẻ đẹp của các liền anh, liền chị được tôn lên bội phần, lung linh và tỏa sáng. Vì vậy, câu ca xưa mới nói rằng:
    Ai làm ra nón quai thao
    Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.
Hoặc:
    Em là con gái Bắc Ninh
    Em nghiêng vành nón mái đình nghiêng theo.
    Đối với văn hóa ứng xử của người quan họ, sự tế nhị và khéo léo luôn được đặt lên hàng đầu.Trong giao tiếp họ luôn có cử chỉ nhún nhường, khiêm tốn. Hai bên luôn gọi nhau là anh (chị) và xưng hô là em. Mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, trong văn hóa dân gian nói chung luôn có quy tắc ứng xử lịch lãm, chu đáo qua từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói thì người quan họ thể hiện càng rõ nét hơn qua phong tục mời nước, mời trầu và mời “xơi cơm quan họ”:
    “- Nhất niên nhất lệ, năm mới tháng xuân, anh em chúng em có cơi trầu mời đương quan họ liền chị!
    - Chị em chúng em còn cả sữa non măng, ăn giầu đã vậy biết nói năng thế nào?”.
Hoặc:
    “ Đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa dưa, mâm đan bát đàn. Chị em chúng em xin mời anh Hai, anh Ba…nâng chén, dựng đũa xơi với chúng em lưng cơm để chị em chúng em được vui lòng”…
    Từ sau khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, dân ca quan họ Bắc Ninh ngày càng được tỏa sáng. Không chỉ ở những làng quan họ trước đây mà đã được đông đảo quân chúng nhân dân nhiều nơi trên cả nước, thậm chí cả kiều bào nước ngoài yêu mến và tổ chức học hát Dân ca quan họ Bắc Ninh.


II. ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN ĐỐI VỚI ÂM NHẠC ĐƯƠNG ĐẠI:


    Hiện nay, dưới tác động của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa cùng sự du nhập của nhiều nền văn hóa, âm nhạc đã có bước chuyển mình đáng kể và đạt được một số thành tựu đáng tự hào. Giới âm nhạc đã có nhiều gương mặt mới xuất hiện trong một số lĩnh vực như: sáng tác, biểu diễn, lý luận phê bình trong nước và quốc tế. Tuy nhiên sự hội nhập và phát triển một cách nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều mặt  đời sống của nhân dân ta, đặc biệt là lĩnh vực âm nhạc.Các nghệ nhân của chúng ta ra sức giữ gìn, bảo tồn những giá trị truyền thống về văn hóa, văn nghệ dân gian thì ngày càng già yếu và nhiều người đã mất. Lớp trẻ thì thờ ơ, không quan tâm dẫn đến những di sản quý báu về văn hóa, văn nghệ dân gian ngày càng bị mai một. Trong sáng tác, nhiều tác phẩm âm nhạc có phần đi chệch hướng, không theo thuần phong mỹ tục của dân tộc nhưng vẫn được giới trẻ đón nhận và tung hô một cách thái quá. Chính vì vậy dẫn đến sự phát triển mất cân bằng trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc. Sáng tạo âm nhạc không còn dành riêng cho những người sáng tạo một cách bài bản, nghiêm túc mà một phần đã bị đẩy ra khỏi chuẩn mực đạo đức, truyền thống dân tộc. 
Song, không phải vì vậy mà các ca khúc mang đậm chất liệu dân gian lại vắng bóng trên lĩnh vực sáng tác ca khúc. Nhiều nhạc sĩ vẫn sáng tác những ca khúc đậm nét phong cách dân gian ở các dòng dân ca như: ca trù, dân ca quan họ, dân ca Nghệ Tĩnh…Tiêu biểu như: Ca khúc “Trên đỉnh Phù Vân”, “Hồ trên núi”, “Những cô gái trên quê hương quan họ” của nhạc sĩ Phó Đức Phương; Ca khúc “Bắc Ninh - Kinh Bắc” của nhạc sĩ Lê Mây, Ca khúc “Miền lúng liếng” của nhạc sĩ Ngô Quốc Tính; Ca khúc “Tìm trong chiều hội Lim” của nhạc sĩ Nguyễn Trung; Ca khúc “Gửi về quan họ”, “Nón ba tầm” của nhạc sĩ Đức Miêng…
Các nhạc sĩ sáng tác ca khúc mang dòng nhạc dân gian đã mượn những câu chữ mang đậm chất liệu dân gian trong những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao xưa, thấm đẫm tình đất, tình người; những giai điệu âm nhạc trữ tình trong các loại hình dân ca của các vùng miền. Bởi vậy, ta thấy dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào thì những người làm nghệ thuật nếu đã trang bị cho mình vốn sống, sự hiểu biết và giữ gìn được một cách chuẩn mực phong cách đạo đức thì họ vẫn không bao giờ rời xa khỏi văn hóa truyền thống của quê hương, bởi ở đó mang nặng Hồn dân tộc.

-------------------
* Bài viết có tham khảo thêm tài liệu trên mạng internet.    

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}