Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Văn học Sơn La thời kỳ đổi mới

Lê Trà My | Chủ Nhật, 09/10/2016 09:40 GMT +7

Văn học Việt Nam nói chung và văn học Sơn La nói riêng từ 1986 đến nay thường được gọi là văn học thời kì đổi mới. Văn học Sơn La thời kì đổi mới là một bộ phận của sự nghiệp đổi mới của tỉnh, vừa là kết quả của sự nghiệp đổi mới, vừa phản ánh sự nghiệp đổi mới, đồng thời nó cũng phát triển theo quy luật nội tại của văn học.

Về đội ngũ sáng tác, lớp thế hệ cầm bút những giai đoạn đầu vẫn có những nhà văn tiếp tục sáng tác (Hoàng Nó, Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Đinh Sơn). Các cây bút trưởng thành trong kháng chiến bước vào độ chín trong sáng tạo, họ đã đóng góp nhiều tác phẩm có giá trị, có những tác phẩm đạt giải thưởng (Đinh Văn Ân, Hoàng Trần Nghịch, Nguyễn Trọng Tăng, Vương Trung, Phan Tâm, Đào Xuân Ngà, Lò Xuân Thương, Hải Băng, Lò Vũ Vân, Sa Phong Ba, Cầm Hùng, Nguyễn Đức Lãi…). Một lớp thế hệ nhà văn trẻ đã tạo nên luồng sinh khí mới cho văn học Sơn La (Trần Đại Tạo, Phan Thu Hồng, Hà Thu, Thào Vả Mua, Trần Nguyên Mỹ, Hờ A Di, Hoàng Việt Thắng, Ngyễn Thanh Sâm…). Họ đa phần được đào tạo chính quy, chủ động, giàu sáng tạo trong lối viết. Chính những sáng tác của họ đã góp phần làm cho văn học Sơn La giai đoạn này trở nên có tính chuyên nghiệp hơn.

Vào mùa xuân, cả Mộc Châu (Sơn La) đang tràn ngập trong sắc hoa mận trắng, hoa đào hồng và hoa cải. Ảnh: Internet

Về thể loại, văn học Sơn La giai đoạn này thực sự phong phú về mặt thể loại so với các giai đoạn trước. Thơ vẫn là thể loại phổ biến nhất và có nhiều thành tựu. Hầu như các thế hệ cầm bút Sơn La đều gắn với thể loại này. Bề dày của văn học Sơn La có thể tính bằng bề dày của thơ. Văn xuôi có kí, truyện ngắn, tiểu thuyết. Những trang kí, truyện kí giàu chất sống đã đi vào những vấn đề gai góc của cuộc sống. Đặc biệt, giai đoạn này, lần đầu tiên trong văn học hiện đại Sơn La xuất hiện một tác phẩm tiểu thuyết. Đó là cuốn Mối tình Mường Sinh của Vương Trung. Tác phẩm đã tạo dựng khung cảnh hoạt động văn hóa cộng đồng của dân tộc Thái. Trong cái nôi văn hóa rực rỡ đó, tình yêu đã nảy mầm và dệt nên câu chuyện đẹp như một bài ca.
    Về nghiên cứu phê bình, đây là mảnh đất còn thưa vắng của văn học Sơn La. Ít có những công trình dày dặn, quy mô nghiên cứu về văn học nói chung hay nghiên cứu chuyên biệt về văn học Sơn La. Trên tạp chí Suối reo xuất hiện các cây bút phê bình như Lò Ngân Sủn, Lò Vũ Vân, Hà Sinh, Võ Vĩnh Khuyến, Lò Bình Minh, Cầm Hùng… Dựa trên việc sưu tầm tư liệu cổ của các dân tộc, một số nhà văn đã tiến hành nghiên cứu đời sống văn hóa của nhiều dân tộc anh em. Hờ A Di nghiên cứu Ma bò của dân tộc Mông ; Lò Vũ Vân, Quàng Thị Chính nghiên cứu về văn hóa Thái ; Vì Văn Nén nghiên cứu về dân tộc Xinhmun.
     Đáng chú ý là mảng văn học dịch. Ở Sơn La giai đoạn này hoạt động dịch thuật phong phú, đa dạng, phù hợp đặc thù địa phương. Đã có khá nhiều tác phẩm văn học dân gian các dân tộc (chủ yếu là các văn bản văn học địa phương viết bằng chữ Thái cổ, chữ Mông) được dịch ra tiếng Việt. Cầm Biêu, Lò Văn Cậy là những cây bút dịch thuật có nhiều đóng góp cho mảng văn học dịch. Vương Trung dịch tác phẩm sử thi lớn của người Thái là Táy pú xấc (Kể cha ông chinh chiến). Hoàng Trần Nghịch biên dịch Tục ngữ dân tộc Thái. Khắp báo sao (Tiếng hát giao duyên) là cuốn sách được nhóm tác giả Hoàng Trần Nghịch, Tòng Ín, Anh Cầm sưu tầm, biên dịch, được xuất bản bằng hai thứ tiếng Thái - Việt. Cầm Thị Chiêu đã dịch nhiều thơ Việt sang tiếng Thái, dịch Nàng Đăm nàng Đón ra tiếng Việt, dịch truyện thơ Thuông bók shom báu huội (Bông hoa ngàn đời ngát hương) viết về người thanh niên yêu nước Lò Văn Giá ra tiếng Việt. Để đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của bạn đọc, nhiều tác giả sáng tác và tự dịch thơ mình ra tiếng Việt (Và Thị Lia, Giàng Khánh Ly, Cà Thị Hoan, Cầm Thị Chiêu…). Một số tác phẩm văn học nước ngoài đã được dịch qua tiếng Việt sang tiếng Thái (Hoàng Nó dịch Ngàn lẻ một đêm). Có thể nói, một trong những thành tựu của văn học Sơn La giai đoạn này chính là hoạt động dịch thuật phong phú, đa dạng, phù hợp đặc thù địa phương.
       Trong bối cảnh xã hội mới, văn học Sơn La có những bước chuyển mình. Nhìn một cách bao quát, văn học Sơn La giai đoạn này có thể chia thành hai bộ phận : Một là bộ phận văn học theo sát những nhiệm vụ chính trị, mang tính cộng đồng, mang đậm cảm hứng lịch sử, dân tộc, thế sự/ Hai là bộ phận văn học đời tư, thể hiện cái tôi riêng tư, mang cảm hứng nhân bản.
    Bộ phận văn học thứ nhất tập hợp những sáng tác lấy chủ đề trọng tâm là ca ngợi cuộc sống mới trên quê hương Sơn La. Chủ đề này được triển khai theo các kiểu cấu tứ khác nhau như sự chung sức chung lòng lao động dựng xây của những con người làm chủ quê hương ; sự đoàn kết trên dưới một lòng của đồng bào các dân tộc ; sự đấu tranh trên mặt trận sản xuất của các tư tưởng cũ - mới ; ca ngợi hình ảnh những con người mới như anh công nhân giao thông, người trồng rừng, công nhân thủy điện ; ca ngợi cuộc sống đổi thay của đồng bào các dân tộc từ khi có Đảng, có cán bộ chỉ đường … Nhiều trang viết đã thể hiện niềm vui, niềm tin, niềm hân hoan vui sướng của người dân Tây Bắc.
     Ơi đàn cò trắng quê ta/ Bay đi đâu ? Sao không xuống cùng bãi/ Mừng quê hương đã đổi thay rồi/ Hồ nước rộng chim tha hồ soi mình vẫy cánh/ Đàn cá tung tăng đón ánh trăng trong/ Dòng nước bạc rì rầm cùng đồng lúa… (Phiêng Luông đổi mới – Phàn Đình Hặc)
     Trong chủ đề lớn là ca ngợi cuộc sống mới, chủ đề thủy điện như một điểm sáng, làm nên nét độc đáo của văn học Sơn La. Viết về thủy điện Sơn La, các nhà văn khai thác vẻ đẹp cuả con sông Đà, những khó khăn, nhọc nhằn của biết bao con người đã phải hy sinh những lợi ích riêng, dời bỏ nơi sinh sống quen thuộc, bỏ lại những không gian đậm chất văn hóa bao đời, để thực hiện việc xây dựng thủy điện (Bút kí Sông Đà phẳng lặng của Hằng Tâm, tùy bút Sông Đà hiền lành của Vương Trung, kí Sự tích của mai sau của Sa Phong Ba…).
    Phản ánh muôn mặt đời sống mới, tạo dựng, kiến thiết một cuộc sống trong lành, phơi phới niềm tin là điều mà văn học Sơn La hướng tới. Điều này vừa phù hợp với định hướng của tỉnh, vừa phù hợp với niềm mong mỏi của đồng bào Sơn La. Nhưng văn học Sơn La không chỉ có sự ca ngợi một chiều. Những vấn đề nhức nhối của cuộc sống như các tệ nạn nghiện hút, buôn bán ma túy, những hiện tượng tiêu cực như tham ô, cửa quyền, cây chức cậy quyền, hối lộ… cũng được các nhà văn mổ xẻ. Những thói tệ này giống như một thứ cỏ vừng trong bài thơ Cỏ vừng của Sùng Nhỉa Tú, cần phải nhổ bằng hết để « lúa mình sẽ lại xanh », để cuộc sống mới thực sự tươi đẹp.
    Xu hướng chung của bộ phận văn học này là hướng về đất nước, quê hương bằng tâm thế của cái ta cộng đồng, phục vụ những nhiệm vụ chính trị quan trọng của thời kì mới. Bộ phận văn học này phát triển nhiều loại hình nội dung khác nhau. Ngoài việc phản ánh những đề tài của cuộc sống đương đại, nó còn hướng về những giá trị có tính lịch sử, tái hiện quá khứ anh dũng của dân tộc. Những trang viết mang đậm tính sử thi đã khơi dậy lòng tự hào của những người con Sơn La, tiếp thêm sức mạnh cho họ trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Dương Tam Kha viết Tây tiến năm 1440, khắc họa chân dung vua Lê Thánh Tông, người đã từng đặt chân lên mảnh đất này sáu trăm năm trước.
Năm một nghìn bốn trăm bốn mươi/ Vua Lê Thái Tông/ Kéo quân ngược rừng xanh/ Rợp cờ trời đỏ/ Diệt trừ bạo tàn/ Nhân nghĩa – yên dân…
    Hồi kí Vượt sông Đà của Hoàng nó dựng lại cảnh gian khổ nhưng rất hào hùng của các chiến sĩ cách mạng, nhất là của những người con Tây Bắc, bền gan chiến đấu vì độc lập tự do. Bút kí Mường La những ngày không quên của Thọ Chuyên đã hồi tưởng quá khứ đau thương của nhân dân Tây Bắc, của em bé Mường La khi xưa, nhớ lại những năm kháng chiến chống Pháp, tiếu phỉ gian nguy và oanh liệt. Em bé Mường La khi xưa, sau nửa thế kỉ, đã trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh.
    Bộ phận văn học thứ hai lấy điểm tựa từ cái nhìn mang tính cá nhân, đi vào những vấn đề riêng tư, cá thể, soi chiếu những uẩn khúc, những trăn trở của lòng người trước cuộc sinh tồn đầy gian khó nhưng lấp lánh niềm vui sống, niềm hạnh phúc, cả những âu lo, tranh đấu, dằn vặt, vấp ngã nhưng đầy ắp tình người… Muôn vàn những cung bậc tình cảm, những tâm trạng, cảm xúc, những cảnh đời, những số phận…đã đi vào văn chương, phản chiếu cuộc sống phong phú của người Tây Bắc.
    Văn học thuộc bộ phận này phản ánh nhiều sắc thái tình cảm trong các quan hệ xã hội khác nhau như tình bạn, tình hàng xóm, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình chồng vợ, cha mẹ con cái, tình người của những con người vô danh bình thường… Đáng chú ý hơn cả là mảng văn học viết về tình cảm gia đình và tình yêu đôi lứa. Hình ảnh người mẹ trở đi trở lại trong nhiều sáng tác. Viết về mẹ bao giờ cũng là những lời nói chân thành, sâu lắng và xúc động nhất. Mẹ vất vả, tảo tần, chắt chiu suốt cuộc đời lam lũ.
Đất bạc màu, chai cứng, đá lô nhô/ Rãnh nước sói mòn sau mùa mưa lũ/ Đất cứ nghèo, hạt lúa cứ gầy đi/ Mẹ vất vả - phiêu bạt màu nắng gió (Không phải là huyền thoại - Nguyễn Thanh Sâm)
Người ta đi ngựa đi xe/ Mẹ đi chân đất dép lê để dành/ Sợ trộm tiền giắt mái tranh/ Quanh năm áo mới áo lành mặc trong (Đời mẹ - Hoàng Việt Thắng)
   Khi người đàn bà cầm bút thì tình yêu với các con lại là thứ tình cảm bao la nhất. Cầm Thị Phụi viết Nhớ con thay lòng của biết bao bà mẹ.
Có điều gì sánh được/ Mẹ nhớ con/ Thương từ những lỗi lầm/ Mưa lâm thâm mà lòng mẹ thành bão/ Nắng lên rồi nỗi nhớ hóa là mây/ Tình yêu của mẹ là trái chín trên cây/ Để cho con bốn mùa hương vị ngọt đắm say.
    Trong gia đình, tình chồng vợ là tình cảm có nhiều cung bậc nhất. Dường như mọi sắc thái của cảm xúc như nhớ, thương, yêu, dỗi hờn, trách mắng, lo sợ… hay các hành động cử chỉ như hát, ca, ôm, âu yếm, cằn nhằn, la mắng, khóc… đều thể hiện mối quan hệ đặc biệt này. Gia đình, chồng vợ - đó là bài ca về hạnh phúc.
Vợ chồng tôi/ Dựng nhà đỉnh núi/ Mái nhà sàn nhọn thành ngòi bút/ Vẽ lên trời những bông hoa mây  (Hạnh phúc -Cầm Hùng)
   Mảng văn học viết về đề tài tình yêu cũng có nhiều tác phẩm hay. Những kỉ niệm tình yêu, lời hò hẹn, nụ hôn đầu, niềm tiếc nuối … là thi tứ của nhiều bài thơ. Nhưng điều đặc biệt làm nên nét độc đáo của mảng thơ tình yêu và văn học viết về tình yêu ở Sơn La chính là âm hưởng của văn học dân gian cùng những nét văn hóa các dân tộc. Những huyền thoại về tình yêu nàng Ban chàng Bók, chàng Lú nàng Ủa … vẫn thấp thoáng trong những trang viết của các nhà văn đương đại. Tiểu thuyết Mối tình Mường Sinh (Vương Trung) dựa trên kết cấu cốt truyện thường thấy trong các truyện thơ : đôi trai gái yêu nhau tha thiết nhưng gặp những trở ngại từ bên ngoài nên không đến được với nhau. Dựa trên môtíp này, nhà văn đã đưa vào đó khung cảnh sống thời hiện đại. Sinh và Ơn đều là những người dạy chữ ở vùng cao. Mối tình của họ rất đẹp, họ chuẩn bị đến ngày kết hôn. Nhưng Sinh phát hiện ra âm mưu tạo phản ở Mường Sinh, mà người đứng đầu danh sách « chính quyền mới » sẽ là bố của Ơn và Son, người anh kết nghĩa với Sinh. Sinh chia tay Ơn trong tâm trạng rối bời. Truyện có kết thúc mở. Hoặc Sinh sẽ trở lại Mường Sinh và coi như không có chuyện gì xảy ra, hoặc Sinh, với tư cách là người của « khu » phải có trách nhiệm báo cáo việc này lên trên, như vậy cũng có nghĩa anh sẽ không còn cơ hội cưới Ơn. Chi tiết cuối cùng của truyện là chiếc cúc áo của Ơn được Sinh nắm chặt trong tay, như bằng chứng của một tình yêu vẫn còn đang dang dở.   
    Chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa dân gian, Lò Vũ Vân diễn tả những nghịch lí tình yêu bằng cách triển khai cấu tứ kiểu nói ngược và hệ thống hình ảnh quen thuộc trong văn học dân gian.
Thương nhau/ Trái đất nhỏ bằng quả gắm/ Đường đi lối lại ngắn bằng gang tay/ Bước một bước là tới/ …/ Thương nhau/ Chim cu gáy mọc sừng/ Cá lên rừng làm tổ/                                   Hổ về chầu gầm thang/ Vẫn thương/  Thương nhau/ “Nước đựng sàng không lọt/ Khói đựng sọt không bay”/ Thả lá tre xuống nước thành cá/ Cỏ lồng vực hóa mạ xanh non… (Thương nhau)
    Những trang thơ viết về tình yêu thường lấy thi liệu từ những nét văn hóa dân tộc. Đây là hình ảnh cô gái Thái và chiếc khăn piêu cùng những ước mong về hạnh phúc :
Bên cửa voóng nhà sàn/ Em gái Thái ngồi thêu/ Tóc ngả vào chiều trắng/ Nắng hoa ban/ Lấp lánh ánh bạc vòng tay/  Em như múa giữa màu mây ngũ sắc/ Thêu niềm yêu/ Lên chiếc khăn piêu/ … / Em đợi anh về làm rể/  Đừng như con nai rừng đi riêng lối/ Nhớ nghe anh/ Bên cửa voóng nhà sàn/ Em gái Thái ngồi thêu cả nắng chiều/ Bằng con tim rộn ràng nhịp đập/  Vào chiếc khăn tình yêu. (Bên cửa voóng - Đức Thắng)
Hờ A Di là nhà thơ người Mông. Thơ Hờ A Di thấm đẫm cách nói, cách nghĩ của người Mông. Những vần thơ tình Hờ A Di là những khúc ca đậm hương vị núi rừng. Thơ anh có tiếng kèn lá, có lối nói đối đáp quen thuộc :
Anh rằng: Lúc chiều anh thổi kèn gọi yêu nàng/ Sao nàng chẳng ngoái cổ nhìn anh/                                  Khi anh thổi kèn lá gọi tên em/ Sao em không ngoảnh mặt/ Em rằng: Em có nghe kèn lá gọi yêu em/ Em không nhìn anh/ Vì em sợ làm không hết cỏ/ Anh sẽ chê em lười biếng… (Sao anh không ngoảnh mặt)
      Nhiều tác phẩm thuộc bộ phận văn học này thường hướng tới giá trị nhân bản của con người. Những khát khao hạnh phúc bình dị, những rung động chân thành, cả những thôi thúc bản năng… được khám phá ở những chiều kích bất ngờ. Truyện ngắn Nửa nụ hôn đầu (Kiều Thiện) cho người đọc cảm nhận cái rung động của nụ hôn muộn màng của hai con người đã đi gần hết cả cuộc đời mới có được. Truyện ngắn Ông lão làm nghề độc đắc (Đinh Huy Lâm) kể chuyện một người thợ cắt tóc, sau trở thành người làm nghề mài dao kéo với những buồn vui trong cái “nghề” của mình, những lần ông không lấy tiền của những người nghèo, những lần ông “thương” bà góa cô đơn, những lần ông khóc trước bàn thờ vợ… Những mảnh đời với những trải nghiệm hết sức riêng tư, những ước mong, khao khát thầm kín của con người, những ám ảnh, những trăn trở, những góc khuất tâm hồn… được phản ánh trong văn học một cách chân thành. Chính bộ phận văn học này đã làm phong phú cho diện mạo văn học Sơn La những năm gần đây, nó làm tăng cường chất sống, phản chiếu sự thực tâm hồn, mở rộng các mảng đề tài, mở ra nhiều con đường tiếp cận hiện thực cuộc sống của con người.
    Gần một thế kỉ qua, văn học hiện đại Sơn La đã đi một chặng đường dài, từ những bước đầu chập chững cho đến nền văn học bề thế hôm nay. Văn học hiện đại hình thành từ hai ngọn nguồn: văn học dân gian và văn học cách mạng nay đã trở thành một dòng chảy lớn, luôn theo sát những bước đi, những yêu cầu của lịch sử địa phương và dân tộc, mang những nét chung của văn học hiện đại Việt Nam, đồng thời mang những nét riêng độc đáo của văn học miền Tây Bắc.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}