Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Về An Sinh Đông Triều, cảm thơ Nguyễn Trãi

Vũ Bình Lục | Thứ Năm, 02/04/2020 09:26 GMT +7

Điểm nhấn của bài thơ chính là sự kết hợp giữa hư và thực. Âm thanh ở đây được sử dụng như những thi liệu, khi thì là tiếng khánh xuyên mây, khi thì là tiếng hạc kêu vượn hú, để làm tăng lên cái tĩnh mịch thâm u buồn bã của Ngọc Thanh Quán.

Tác giả bài viết Vũ Bình Lục.

 

VỀ AN SINH ĐÔNG TRIỀU, CẢM THƠ NGUYỄN TRÃI !

Phiên âm:

ĐỀ NGỌC THANH QUÁN

Tử phủ lâu đài ỷ bích sầm,
Thập niên kim tịch nhất đăng lâm.
Tùng hoa lạc địa kim đàn tĩnh,
Khánh hưởng xuyên vân đạo viện thâm.
Kim đỉnh đơn thành nhân dĩ khứ,
Hoàng lương mộng giác sự nan tầm.
Viên sầu hạc oán vô cùng ý,
Hàn nhật tiêu tiêu trúc cách lâm.

Dịch nghĩa:

ĐỀ QUÁN NGỌC THANH

Lâu đài phủ tía tựa lưng vào hòn núi biếc,
Mười năm rồi tối nay mới lại lên thăm.
Hoa tùng rụng đầy đất, kim đàn lặng lẽ,
Tiếng khánh thấu mây, đạo viện thẳm sâu.
Đỉnh vàng nấu thuốc xong, người tiên đi mất,
Kê vàng giấc mộng tỉnh, việc cũng khó tìm lại được.
Vượn sầu hạc oán, ý vô cùng khôn xiết,
Ngày lạnh lao xao tiếng trúc bên kia rừng.

DỊCH THƠ

Bản dịch của Ngô Linh Ngọc:

Phủ tía lâu đài dựa núi cao,
Mười năm, nay lại bước chân vào.
Hoa thông rải đất, tiên đàn vắng,
Tiếng khánh xuyên mây, đạo viện sâu.
Vạc thuốc nấu xong, người đã tếch,
Nồi kê giấc tỉnh, việc tìm đâu!
Vượn sầu hạc oán, bao nông nỗi,
Ngày lạnh, đêm rừng tiếng trúc reo.

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

Lâu đài ẩn giữa non xanh,
Mười năm, nay mới lên thăm chốn này.
Kim đàn lạnh, hoa rụng đầy,
Thâm sâu đạo viện, xuyên mây khánh dồn.
Người Tiên nấu thuốc đâu còn,
Kê vàng mộng ảo giấc son khó tìm.
Lao xao tiếng trúc lạnh rừng,
Vượn sầu hạc oán, khôn dừng nỗi riêng.

Quán Ngọc Thanh (Ngọc Thanh Quán), một địa danh thuộc thôn Đạm Thủy, huyện Đông Triều, nay là xã Đạm Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nguyễn Trãi có lẽ cũng đã từng đến đây khi chưa vào Lam Sơn (Thanh Hóa) tham gia cuộc khởi nghĩa cùng Lê Lợi. Chưa rõ cụ thể là thời điểm nào. Cuộc kháng chiến chống giặc Minh mười năm trời cứ cuốn nhà thơ đi khắp đó đây, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, bây giờ mới có dịp lại về thăm cái Quán Ngọc Thanh này chăng? Thế nghĩa là Nguyễn Trãi viết bài này khi ông đã xin thôi chức quan để về quê nhà (Côn Sơn-Chí Linh) ở ẩn, dưới triều vua Lê Thái Tổ, khi mà ông đã thất sủng chăng? Hoặc giả là ở thời Lê Thái Tông, khi Nguyễn Trãi được phục chức quan, nhưng chỉ là quan thanh, ở ngoài Côn Sơn chăng? Hai câu thơ đầu tả cảnh bên ngoài quán Ngọc Thanh và thời gian cụ thể, rằng đã mười năm nay mới đến thăm chốn xưa. Kìa như:


Lâu đài phủ tía dựa trên núi biếc,
Mười năm rồi tối nay mới lại lên thăm.


Lâu đài phủ tía đây chính là chỗ ở của các vị Tiên thánh đạo Giáo. Phủ tía lâu đài kia dựa vào lưng núi xanh biếc, lặng lẽ thanh u cách xa trần tục. Và đây là cận cảnh Ngọc Thanh Quán:


Hoa tùng rụng đầy đất, kim đàn lặng lẽ,
Tiếng khánh thấu mây, đạo viện thẳm sâu.


Cảnh thanh vắng, sâu thẳm và lạnh ngắt. Hình như không có ai quét dọn, mà cũng chả cần phải quét dọn làm gì ở nơi kim đàn lặng lẽ như thế này. Cứ để cho hoa tùng vô tư rụng đầy đất. Nhưng mà ở đây vẫn có người, nên mới nghe thấy tiếng khánh xuyên mây (khánh hưởng xuyên vân) mà ngân nga vút lên thăm thẳm trời cao những dư ba huyền bí.


Hai câu 5 và 6 là cảm thức của tác giả về những câu chuyện trong truyền thuyết dân gian:


Đỉnh vàng nấu thuốc xong, người tiên đi mất,
Kê vàng giấc mộng tỉnh, việc cũng khó tìm.


Cũng chỉ là nghe nói thế thôi, rằng nơi đây từng có việc nấu thuốc luyện đơn, để được trường sinh bất tử. Nhưng mà người Tiên cũng cưỡi gió bay đi chả biết từ bao giờ. Lại còn cái giấc mộng kê vàng (hoàng lương mộng giác) nữa chứ! Theo sách Chằm trung ký ở đời nhà Đường kể việc một ông khách vào nhà hàng bên đường mua cháo kê. Chủ quán bấy giờ mới nấu. Ông khách đợi nấu kê mệt mỏi liền mơ màng thiếp đi, chiêm bao thấy mình được giàu sang phú quý. Tỉnh dậy, nồi cháo kê vẫn chưa thấy chín. Từ câu chuyện này, người đời bảo đấy là giấc mộng kê vàng (hoàng lương), nhằm chỉ cái sự hão huyền. Đương nhiên, chuyện này bây giờ xem ra cũng rất khó tìm (sự nan tầm)…Việc xưa là vậy. Còn như cái quán Ngọc Thanh này giờ đây chỉ thấy Vượn sầu hạc oán, ý vô cùng khôn xiết (Vượn sầu hạc oán vô cùng ý), chỉ thấy Ngày lạnh lao xao tiếng trúc bên kia rừng mà thôi…


Tuy nhiên, nhìn sâu vào lịch sử một chút, ngay cuối đời Trần, vào tháng 4 năm 1399, gian thần Hồ Quý Ly muốn giết vua Thiếu Đế (Thuận Tôn), liền bắt ép vua phải xuất gia theo Đạo giáo, ở cái Quán Ngọc Thanh thôn Đạm Thủy này đây. Quý Ly sai Nguyễn Cẩn đi theo hầu để thi hành nhiệm vụ giết Thiếu Đế. Nguyễn Cẩn bắt vua uống thuốc độc, Thiếu Đế vẫn không chết. Cẩn lại cho uống nước dừa nhưng không cho ăn, Thiếu Đế cũng không chết. Quý Ly lại sai tướng Phạm Khả Vĩnh thắt cổ giết chết, chôn ở lăng Yên Sinh, miếu hiệu là Thuận Tôn. Sách Đại Việt sử ký chép rành rẽ như thế. Chuyện này đương nhiên Nguyễn Trãi biết. Năm sau, 1400, Hồ Quý Ly chính thức cướp ngôi nhà Trần, rồi tổ chức khoa thi Thái học sinh. Nguyễn Trãi ra thi, đỗ Thái học sinh khoa này. Vậy Quán Ngọc Thanh này không thể không khuấy lên trong lòng thi nhân những tâm sự đau lòng, cho nên mới có cái ý “Viên sầu hạc oán vô cùng ý”, da diết thảm sầu…


Điểm nhấn của bài thơ chính là sự kết hợp giữa hư và thực. Âm thanh ở đây được sử dụng như những thi liệu, khi thì là tiếng khánh xuyên mây, khi thì là tiếng hạc kêu vượn hú, để làm tăng lên cái tĩnh mịch thâm u buồn bã của Ngọc Thanh Quán. Đấy là thủ pháp lấy động tả tĩnh trong nghệ thuật thơ ca phương Đông vậy!...

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}