Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Về đời sống âm nhạc các dân tộc ở nước ta hiện nay

Nông Quốc Bình | Thứ Sáu, 02/12/2016 08:34 GMT +7

Trước Cách mạng Tháng tám 1945 chưa có một nền âm nhạc chuyên nghiệp, nhưng trong đời sống tinh thần, mỗi dân tộc đã tự sáng tạo được những tác phẩm âm nhạc dân gian phong phú. Truyền thống âm nhạc dân gian của mỗi dân tộc là tâm hồn, là tình cảm được chung đúc qua nhiều thế hệ, đáp ứng nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ của từng dân tộc và phản ánh hiện thực theo quan hệ thẩm mỹ của dân tộc ấy với thực tại.

Âm nhạc trong quá khứ của mỗi dân tộc là người bạn thân thiết với từng thành viên trong cộng đồng. Một tiếng hát ru từ thời lọt lòng, rồi lớn lên, tuổi thiếu niên là những bài đồng dao, tuổi thanh niên là những điệu hát giao duyên, đám cưới, cho đến khi từ biệt sự sống, tiễn đưa linh hồn sang bên kia thế giới là những điệu hát đưa ma. Âm nhạc dân gian gắn chặt với lao động sản xuất, với sinh hoạt xã hội của từng dân tộc, mang sắc vẻ sinh động, tươi tắn. Đến nay, những làn điệu sli, lượn, then của dân tộc Tày, Nùng; những gâu plềnh của dân tộc Mông; những làn điệu khắp của dân tộc Thái; những khan, a-vơng của các dân tộc Tây Nguyên, và những âm thanh độc đáo của các nhạc cụ tính tẩu, khèn, t’rưng, klông pút, a-la,k a-vơ, chiêng; vẫn làm rung động tâm hồn nhiều người.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet


    Âm nhạc với cuộc sống các dân tộc có thể ví như cơm ăn, nước uống, như nguồn dinh dưỡng bồi đắp tâm hồn, tình cảm con người qua các thế hệ, và mỗi thế hệ lại làm giàu, làm phong phú thêm vốn quý đó. Âm nhạc dân gian mỗi dân tộc có quan hệ mật thiết với tiếng nói - rộng hơn là ngôn ngữ - của dân tộc ấy, biểu hiện của trình độ phát triển của xã hội. Những yếu tố lạc hậu dần dần bị loại bỏ trong quá trình xây dựng một nền âm nhạc chuyên nghiệp ở vùng các dân tộc thiểu số. Trình độ phát triển của các dân tộc ngày một được nâng cao, trong xã hội mới đã dần hình thành những thế hệ con người mới. Đó là những điều kiện cho phép từng bước xây dựng một đời sống âm nhạc chuyên nghiệp, tức là xây dựng đội ngũ những người sáng tác, biểu diễn, lý luận, phê bình và xây dựng một công chúng âm nhạc. Thể hiện tập trung nhất là sự hoạt động của các đơn vị nghệ thuật ở các vùng, địa phương dân tộc và miền núi: Nhà hát ca múa nhạc dân gian Việt Bắc (tiền thân là Đội văn công liên khu Việt Bắc), Đoàn ca múa Sơn La (tiền thân là Đoàn ca múa khu tự trị Tây Bắc), Đoàn ca múa Đam San (tiền thân là Đoàn văn công Tây Nguyên), Đoàn nghệ thuật không chuyên Huyện Bắc Bình, Ninh Thuận, Đoàn nghệ thuật Khmer Cần Thơ…
    Từ ngày thành lập đến nay, gần nửa thế kỷ (1953-2002), Đoàn ca múa dân gian Việt Bắc đã trải qua những thời kỳ hoạt động khác nhau, hòa theo từng bước phát triển kinh tế- văn hóa xã hội mỗi thời kỳ của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc. Những năm qua đoàn đã hoàn thành được nhiều chương trình mang rõ nét màu sắc dân tộc, được đồng bào các dân tộc yêu thích. Đội múa của đoàn đã từng là thành phần đáng kể trong các đoàn nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài, như Liên Xô, Campuchia, Ba Lan, Italya… Có được một đội ngũ diễn viên mà số lượng chương trình tiết mục đã công diễn như bây giờ, đoàn đã phải phấn đấu rất nhiều. Với 13 diễn viên từ ngày thành lập tháng 5-1953,  Đội văn công miền núi Liên khu Việt Bắc lúc ấy đã có mặt ở nhiều nơi phục vụ bộ đội, dân công trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau đó, trong những ngày đầu hòa bình lập lại trên miền bắc và vùng đồng bào các dân tộc bước vào xây dựng cuộc sống mới, đoàn cũng đã có những đóng góp to lớn cho giai đoạn này. Đây là thời kỳ mà đoàn đã đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ diễn viên thuộc nhiều dân tộc có khả năng biểu diễn phục vụ tốt. Đoàn cũng xây dựng được những chương trình đặc sắc với những bài ca, điệu múa của các tác giả hoạt động nghệ thuật ở vùng Việt Bắc như: Đỗ Minh, Hoàng Tuấn, Mai Đức Vượng, Vương Thào, Liên Khình… và do những diễn viên được đồng bào các dân tộc yêu mến biểu diễn như: Nông Văn Khang, Nguyễn Thị Loan… Đến nay, đoàn đã đến biểu diễn phục vụ đồng bào các dân tộc ở hầu hết khắp các huyện miền núi, ở biên giới Việt Bắc và các vùng miền núi, hải đảo Quảng Ninh trong những năm biên giới có chiến sự.
    Có thể nói, Đoàn ca múa dân gian Việt Bắc đã từng là một bảo tàng sống về nghệ thuật dân gian của đồng bào các dân tộc Việt Bắc. Ngoài những chương đã cho ra mắt trong hơn bốn mươi năm qua, đoàn sưu tầm được hơn một trăm động tác múa, khoảng sáu mươi làn điệu dân ca của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Cao Lan… Với số lượng dân ca, dân vũ sưu tầm đó, đoàn xây dựng được hàng trăm tiết mục múa gồm múa đơn, thơ múa, kịch múa và nhiều tiết mục âm nhạc khác.
    Ở miền Tây Bắc của Tổ quốc, một thiết chế văn hóa như thế cũng đã được hình thành, đó là Đoàn nghệ thuật Sơn La, một đơn vị kế thừa và phát triển những thành tựu của Đoàn nghệ thuật Tây Bắc cũ. Ra đời và trưởng thành trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đến nay Đoàn ca múa Sơn La đã trải qua mấy chục năm hoạt động. Đoàn đã được Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì và hạng Ba; được Nhà nước CHDCND Lào tặng thưởng Huân chương Hữu Nghị, vì những thành tích củng cố tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào. Trong Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc 1985, đoàn là một trong số những đơn vị nghệ thuật được tặng giải A. Từ thực tế hoạt động nghệ thuật những năm qua, nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ đã trưởng thành, có những đóng góp tích cực cho đoàn, trở thành đội ngũ nòng cốt. Đó là hai biên đạo múa Nghệ sĩ ưu tú Lường Tiến (dân tộc Thái), Nghệ sĩ quá cố Đinh Văn Phan (dân tộc Mường), cùng các nhạc sĩ, nghệ sĩ Cầm Bích, Lò Minh Khùm, Cầm Minh Thuận, Mùi Hái, Sa Thanh Yên, Vương Thanh Hải, Hoàng Chiên, Phan Dương, Điêu Thúy Hoàn…
    Đại diện cho một vùng đất Tây Bắc Tổ quốc, nơi có các dân tộc Thái, Mông, Dao, Mường, Khơ Mú… cùng chung sống, Đoàn ca múa Sơn La đã tập hợp và phát huy được khả năng của một tập thể các tác giả địa phương như Cầm Bích, Mùi Hái, Cầm Minh Thuận, Sa Thanh Yên…, những người am hiểu vốn văn hóa truyền thống và một trình độ chuyên môn tương đối vững vàng, nhiều người đã có trình độ đại học âm nhạc. Trên vốn nghệ thuật cổ truyền phong phú đó mà đoàn đã cho ra mắt được những tiết mục đặc sắc, mang đậm phong vị dân tộc: những điệu múa Trên đường xuống chợ (biên đạo Lò Minh Khùm), Dưới ánh trăng (biên đạo Vũ Hoài), Cống tốp (biên đạo Lường Tiến), Đêm trăng, Tình ca Tây Bắc, Đám cưới (biên đạo Lò Minh Khùm), Chuông (biên đạo Vũ Hoài), Ngôi sao Khun Lú - Nàng Ủa (Cầm Bích), Sơn La quê tôi, Bản em (Mùi Hái), Tình rừng (Sa Thanh Yên)… lôi cuốn người xem. Nhìn chung, múa là một thế mạnh của đoàn và chiếm một vị trí đặc biệt trong một chương trình biểu diễn. Phải chăng, đây là một thế mạnh phổ biến của các đoàn ca múa miền núi? Nhưng, phần ca nhạc trong chương trình diễn của đoàn vẫn chưa có được sức nặng như múa. Tình trạng đó có thể vì chưa có được những giọng hát hay?
    Cũng như hai địa bàn - hai vùng văn hóa Tây Bắc, Việt Bắc ở Tây Nguyên, mảnh đất phong phú các giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống của các dân tộc cũng đã và đang là nơi khai sinh và phát triển một đơn vị nghệ thuật có bề dày gần nửa thế kỷ. Đó là Đoàn văn công Tây Nguyên trước đây, nay là Đoàn nghệ thuật Đam San.
    Thành lập ngày 10-10-1955, chỉ một năm sau ngày chiến thắng Điện Biên, giải phóng Thủ đô, hòa bình lập lại trên miền Bắc, Đoàn ca múa Tây Nguyên (tiền thân của Đoàn nghệ thuật Đam San ngày nay) là đơn vị tiêu biểu và đại diện cho nghệ thuật các dân tộc ở Tây Nguyên. Sáu người của thuở ban đầu làm nòng cốt đó là: các chị H’Ben (dân tộc Bana), H’Wil, các anh Nay Pơ, Y Yơn, Nay Pha và Nay Quách (dân tộc Gia-rai). Đã có sáu thế hệ các nghệ sĩ đem tuổi thanh xuân, lời ca, điệu múa, ngón đàn tài hoa của mình làm nên bề dày thành tích cống hiến cho vườn hoa nghệ thuật Việt Nam  nói chung, nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên nói riêng. Thế hệ thứ nhất, năm 1956 gồm một số học sinh có năng khiếu nghệ thuật con em các dân tộc miền Nam tập kết ra Bắc, được tuyển từ trường dân tộc Trung Ương, rồi gửi đi đào tạo tại hai trường âm nhạc và trường múa Việt nam. Về nhạc có Thạch Rương (dân tộc Khmer) được theo học sáng tác. Theo học các loại đàn có Siu Ly (dân tộc Gia-rai), học kèn Clarinette, La El (dân tộc Khmer) học đàn violon. Về hát có Kim Nhớ (dân tộc Hrê), Siu Phích (dân tộc Bana). Múa có Châu Ngọc Lệ, Thạch Srây Manh, Hoa Viên (Khmer), Đài hoa (Xê-đăng), Y Brơm, Siu Owch (Bana)… do Y Yơn làm trưởng đoàn. Các tiết mục: hoạt cảnh Ra đi, múa Vui sản xuất, Hội làng, sáng tác của Y Khưu, những bài dân ca Amiết Man, Dăm thơi, bài hát Suối đàn T’rưng, Con chim lạc đàn của Nhật Lai, là những tiết mục biểu diễn đầu tiên của đoàn. Năm 1962, có thêm một số học sinh dân tộc miền Nam được đưa vượt tuyến ra Bắc, đoàn lại có thêm thế hệ thứ ba, tiếp tục tỏa sáng về các trường nghệ thuật để theo học chuyên môn gồm: Kpăpúi (Gia-rai), Đài Son (Xê-đăng), Kpă Ylăng, Thảo Giang, Kim Nhất (Bana)… Nhạc sỹ Nhật Lai và ông Siu Ken - trí thức người Giarai - được bổ sung làm lãnh đạo đoàn. Đây là thời kỳ có nhiều tiết mục hay, xây dựng từ chất liệu múa dân gian Tây Nguyên và Khmer, như: Rông Chiêng, Khieel, Đi săn, Mùa xuân dệt vải, Tát nước, Hoa sen, Tình ca mùa xuân… Gần 5 năm, năm 1965, thế hệ thứ ba được bổ sung. Múa có Đinh Xuân La (dân tộc H’rê), Đinh Long Ta (dân tộc Ka Dong), Y Tư, Trần Hạnh (dân tộc Bana), Linh Nga Niê Kđam (dân tộc Ê đê)… là những học sinh của trường dân tộc thiểu số Trung ương, lúc đầu do các diễn viên trong đoàn đã học ở các trường về tự bồi dưỡng, sau lại tiếp tục gửi đi học chính quy tại Trường Nhạc và Trường Múa. Trong Ban lãnh đạo đoàn có thêm nghệ sĩ múa Y Brơm vừa tốt nghiệp ở Triều Tiên về. Trải qua hơn 45 năm hoạt động nghệ thuật, với phương châm lấy dân tộc làm nền tảng vững chắc, đoàn ca múa Đam San luôn luôn giữ được phong độ của một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp đàn anh ở Tây Nguyên. Đã có nhiều nghệ sĩ của Đoàn cả ba thế hệ được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý: hai nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Đinh Xuân La; các nghệ sĩ ưu tú: Thảo Giang, Kim Nhớ, Đinh Long Ta, Nay Pha, Êban Quý, Măng Thị Hội, Quang Tâm… Dẫu ngày hôm nay có người nghỉ hưu, người làm công tác giảng dạy hay còn ở lên sàn diễn, anh chị em cũng vẫn là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Ban lãnh đạo đoàn ngày nay có cả những nghệ sĩ trẻ như Đinh Xuân La, Ngọc Tường gắn bó với nền nghệ thuật các dân tộc.
    Bên cạnh ba đoàn nghệ thuật của ba vùng đại diện cho nhiều dân tộc như kể ở trên, ta còn phải kể đến Đoàn nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh (Trà Vinh) và đoàn nghệ thuật Chăm không chuyên Bắc Bình (Ninh Thuận) cùng các đoàn nghệ thuật của các tỉnh dân tộc và miền núi khác.
    Một hệ thống các trường nghệ thuật khu vực đã được xây dựng từ nhiều chục năm nay, thực sự là nơi đào tạo nguồn cán bộ, diễn viên các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên… và một số trường cấp tỉnh trong mấy chục năm qua đã góp phần khai sinh một đội ngũ những người sáng tác, nghiên cứu lý luận, phê bình và những diễn viên là người các dân tộc được yêu thích. Đó là Đàm Linh, Tú Ngọc, Mông Lợi Chung, Đàm Thanh, Hoàng Tuấn, Hoàng Hoa Cương, Đinh Quang Khải, Hà Té, Vương Ngọc Vấn… ở Việt Bắc; Cầm Bích, Mùi Hái, Cầm Minh Thuận, Sa Thanh Yên ở Tây Bắc; Kpăpúi, Kpa Ylăng, Y Dơn, Hơ Ben, Kim Nhớ, Linh Nga Niêkđam, Rơ Chăm Pheng, Nay Phách… ở Tây Nguyên. Có những cây bút trẻ đang viết đều ở địa phương như: Amư Nhân (Ninh Thuận), Sơn Lương, Dương Toàn Thắng (Cao Bằng). Trong những tác giả kể trên, có những người đã có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền âm  nhạc cách mạng nước ta.
    Vấn đề đặt ra trong sáng tác của các tác giả dân tộc là làm sao vươn tới, kết hợp hài hòa trong tác phẩm giữa tính chất, màu sắc dân tộc và một kỹ thuật, nghệ thuật sáng tác vững vàng hơn.
    Từ thực tế đó, đặt ra vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhạc sĩ người dân tộc trong một hệ thống đào tạo chính quy. Chỉ có thể có một nhạc sĩ chân chính khi họ được học tập một cách cơ bản, được tiếp xúc với những tinh hoa của âm nhạc thế giới bên cạnh việc không ngừng nâng cao, bồi bổ hiểu biết về vốn âm nhạc dân tộc mình. Để đạt được mục đích lâu dài đó, trước mắt, một trong những công việc cụ thể là hoàn chỉnh và tiêu chuẩn hóa các chương trình  giảng dạy âm nhạc ở các trường nghệ thuật vùng các dân tộc Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, để làm sao, ngay từ những ngày đầu đến với âm nhạc, những học sinh dân tộc đã được tiếp xúc, học một một cách hệ thống.
    Một đóng góp quý báu vào đời sống âm nhạc chuyên nghiệp các dân tộc, trở thành một thứ tài sản của các dân tộc, là những tác phẩm của các tác giả người Kinh viết về miền núi, phản ánh trực tiếp và đa dạng cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu của đồng bào các dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là những Bắc Sơn (Văn Cao); Kim Đồng (Phong Nhã); Bế Văn Đàn sống mãi (Huy Du); Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký); Hát mừng anh hùng Núp (Trần Quý); Nổi trống lên, rừng núi ơi! (Hoàng Vân); Bóng cây Kơ Nia (Phan Huỳnh Điểu); Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp)…
    Trong mấy chục năm qua, tuy mới là bước đầu, đội ngũ người dân tộc làm âm nhạc chưa đông, tác phẩm chưa nhiều, nhưng những hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp ở vùng các dân tộc đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đó là nền móng cho tương lai phát triển âm nhạc ở vùng các dân tộc thiểu số nước ta. Mục đích của âm nhạc vùng các dân tộc là xây dựng một đội ngũ làm công tác âm nhạc trên các lĩnh vực sáng tác, lý luận, phê bình, nghiên cứu, biểu diễn, tạo ra được những tác phẩm âm nhạc có nội dung tư tưởng tốt, chất lượng nghệ thuật cao, góp phần thúc đẩy, nâng cao đời sống âm nhạc nói chung.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}