Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Về thơ của Nguyễn Mộng Tuân

Vũ Bình Lục | Thứ Năm, 26/03/2020 11:25 GMT +7

Vanhien.vn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài mới viết về thơ NGUYỄN MỘNG TUÂN của tác giả Vũ Bình Lục (ảnh dưới).

 

TẶNG TẾ TỬU VŨ CÔNG TRÍ SĨ

Hoạn thành danh toại thế nhân hy,
Phục kiến đông môn tổ trướng quy.
Tuyết lũ chủy phiên Thiên Đức khoái,
Xuân phong bạn tiến Lạn Kha vi.
Phần hương tảo địa nhàn duyên hữu,
Thính cổ bài môn vãng sự phi.
Báo quốc vô tài ta ngã lão,
Bình Than diệc nghĩ chế hà y.

Dịch nghĩa:

TẶNG ÔNG TẾ TỬU HỌ VŨ VỀ NGHỈ HƯU

Công thành danh toại như ông đời ít có,
Lại thấy người thầy tôn quý từ cửa Đông ra về.
Giũ sạch mọi mối tơ vương, nghiêng chiếc thìa ăn gỏi cá sông Thiên Đức,
Trong gió xuân, bạn bè dâng biếu cành tường vi hoa xán lạn.
Có cái duyên nhàn khi quét nhà, thắp hương,
Chuyện cũ là không, sắp đặt cửa nhà nghe tiếng trống.
Than cho ta già rồi, không có tài đền ơn nước,
Ở bến Bình Than cũng muốn may tấm áo màu hoa sen.

Dịch thơ:

Công danh như thế, được mấy người,
Lại thấy Tiên sinh trí sĩ rồi.
Giũ sạch tơ vương, vui Thiên Đức,
Thơm nức tường vi, xán lạn trời.
Duyên nhàn phụng hiếu nơi tiên tổ,
Chuyện cũ quên nghe trống đổ hồi.
Ta chẳng có tài đền ơn nước,
Bình Than muốn may áo sen chơi !

(VŨ BÌNH LỤC-dịch)

Ông Tế Tửu họ Vũ ở đây, chính là ông quan Tế Tửu Quốc Tử Giám VŨ MỘNG NGUYÊN, hiệu là Vi Khê, sau đổi là Lạn Kha. Lạn Kha chính là một trong mấy tên gọi một ngọn núi nổi tiếng ở Tiên Du, trên núi có chùa Tiên Du (TIÊN DU TỰ). Rất nhiều danh sĩ từ đời Lý-Trần đã đến đây vãng cảnh, đề thơ…Đấy là chưa kể vào đời nhà Lý, chùa Tiên Du từng có cuộc thi tuyển Tiến sĩ, do chính nhà vua chủ trì…


Vũ Mộng Nguyên (chưa biết năm sinh năm mất), người làng Đông Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm Thánh Nguyên thứ 2 triều Hồ Quý Ly. Thời giặc Minh xâm lược, Vũ Mộng Nguyên lẩn trốn tránh giặc săn lùng. Kháng chiến thành công, Lê Lợi lên làm vua, ban chiếu cầu hiền, Vũ Mộng Nguyên ra làm quan, giữ chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, sau thăng lên chức Tế Tửu. Ông xin về hưu khi 74 tuổi.


Nguyễn Mộng Tuân làm bài thơ này tặng ông Vũ Mộng Nguyên, khi ông Vũ Mộng Nguyên về trí sĩ.


Ngay ở hai câu thơ mở đầu, tác giả đã khái quát về hình ảnh ông quan Tế Tửu Vũ Mộng Nguyên. Rằng:


Công thành danh toại như ông, đời ít có,
(Hôm nay) lại thấy người thầy tôn quý từ cửa Đông ra về.
(Hoạn thành danh toại thế nhân hy / Phục kiến Đông môn tổ trướng quy)


Đấy là một sự khẳng định. Khẳng định dứt khoát và minh bạch. Kẻ sĩ theo hoạn lộ, mà công thành danh toại như ông Vũ Mộng Nguyên, đời ít có lắm. Cả đời Tiên sinh Vũ Mộng Nguyên chỉ làm có mỗi một việc duy nhất là dạy học và quản lý giáo dục mà thôi.


Sau mấy chục năm cống hiến cho sự nghiệp đào tạo nhân tài cho đất nước, giờ đây ông đã:


Giũ sạch mọi mối tơ vương, nghiêng chiếc thìa ăn gỏi cá sông Thiên Đức,


Trong gió xuân, bạn bè dâng biếu cành tường vi hoa xán lạn.


Đấy ! Công thành danh toại rồi, đã hiển vinh viên mãn rồi, thì ông trút bỏ mọi nỗi lo nghĩ, trút bỏ mọi mối tơ vương, trở thành một thường dân tự do, về quê hưởng thú nhàn, vui với bạn bè, với bà con lối xóm, rồi thì vui vẻ “nghiêng chiếc thìa thìa ăn gỏi cá sông Thiên Đức” ở quê nhà. Thiên Đức, chính là sông Đuống ngày nay. Thi Sĩ Hoàng Cầm ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã từng viết “Sông Đuống nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”…Và “trong gió xuân, bạn bè dâng biếu ông cành tường vi xán lạn”.

 

Thế thôi ! Người được về hưu, hình ảnh tôn quý vẫn còn mãi trong mắt bạn bè đồng liêu, tất nhiên còn có cả biết bao thế hệ học trò của Tiên sinh nữa chứ ! Ở đây, tác giả còn có thâm ý chơi chữ, rằng ông Vũ Mộng Nguyên đây, lấy tên hiệu là Vi Khê (hoa tường vi bên dòng suối trong?) và cả Lạn Kha nữa. Thế nên, tác giả dùng chữ “Lạn Kha Vi” (Xuân phong bạn tiến Lạn Kha Vi), với ẩn ý là cành tường vi xán lạn. Chính ông, Tiên sinh Vũ Mộng Nguyên là một cành tường vi xán lạn vậy ! Thêm nữa:


(Ông) có cái duyên nhàn khi quét nhà, thắp hương,


Chuyện cũ là không, sắp đặt cửa nhà nghe tiếng trống.


Chuyện đời, chuyện công danh sự nghiệp của kẻ sĩ, dầu hay, dầu dở thế nào, bây giờ cũng xem như “là không” đấy thôi. Hay là ông cũng không cần phải quan tâm đến nó làm chi nữa. Ông chỉ còn dăm ba cái việc của cá nhân mình, đấy là việc chăm sóc nhà thờ tổ tiên, “quét nhà”, rồi “sắp đặt cửa nhà, nghe tiếng trống” mà thôi. Tiếng trống gì vậy ? Là âm hưởng dường như còn vang vọng của tiếng trống nơi trường Quốc Tử Giám, nơi ông từng dạy học, từng làm Tế Tửu (Giám đốc, Hiệu trưởng) hay chăng ? Hay là tiếng trống mỗi khi có tế lễ tổ tiên họ Vũ nhà ông? Có thể là cả hai chăng ?


Hai câu thơ kết bài, Nguyễn Mộng Tuân nói về mình, vẫn còn đang ngồi ở chức quan vào hàng cực phẩm:


Than cho ta già rồi, không có tài đền ơn nước,
Ở bến Bình Than, cũng muốn may tấm áo màu hoa sen.
(Báo quốc vô tài ta ngã lão / Bình Than diệc nghĩ chế hà y).


Bến Bình Than nào vậy ? Sách HOÀNG VIỆT THI TUYỂN chú rằng: “Bến Bình Than: Một địa danh nổi tiếng thời chiến tranh chống Nguyên Mông trên sông Hồng, gần thành Thăng Long”. Tôi ngờ rằng chú thích như trên là không chuẩn xác. Gần thành Thăng Long vào đời Trần chỉ có bến Đông Bộ Đầu, nay ở khu vực phố Hàng Than, quận Hoàn Kiếm mà thôi. Mà phố Hàng Than thì chỉ khi có Hà Nội ba mươi sáu phố phường mới có. Bến Bình Than đời Trần có cuộc họp bàn của hai vua Trần (Thánh Tông và Nhân Tông) với các Vương, Hầu quý tộc, bàn về chiến lược chống Nguyên Mông. Sự kiện này diễn ra vào năm 1282. Bến Bình Than thuộc khu vực Lục Đầu Giang, nay thuộc xã Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Bờ bên kia thuộc khu vực Vạn Kiếp, địa bàn chiến lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.


Vậy Nguyễn Mộng Tuân, lúc viết bài thơ này, ông đang giữ chức Trung Thư Lệnh. Xét về tuổi tác, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trãi, Vũ Mộng Nguyên đều ở tuổi sàn sàn như nhau. Nguyễn Trãi sinh năm 1380. Có tài liệu mới ghi Nguyễn Mộng Tuân cũng sinh năm 1380. Nếu Vũ Mộng Nguyên về hưu ở tuổi 74, ở thời kỳ vua Lê Thánh Tông trị vì, thì bấy giờ ông Nguyễn Mộng Tuân cũng ở tuổi trên dưới 74 rồi. Tức khoảng trước sau năm 1454. Cúc Pha Nguyễn Mộng Tuân than rằng ông đã gìa rồi, không có tài đền ơn nước, nhưng cũng muốn may tấm áo màu hoa sen… Tấm áo màu hoa sen, nghĩa là tấm áo màu hồng, giành cho quan chức cấp cao được tham dự bàn bạc việc nước như các Vương Hầu triều Trần hội nghị ở bến Bình Than hay chăng ?


Than mình già rồi, lại chả có tài giúp nước, ấy cũng chỉ là cách nói khiêm cung của kẻ sĩ biết mình biết người. Làm đến chức Trung Thư Lệnh, tước Vinh Lộc Đại Phu như Nguyễn Mộng Tuân, ngang bậc Tể tướng, văn võ song toàn như ông, chẳng cũng xứng đáng đứng vào bậc Công Hầu hiển quý hay sao ? Chỉ tiếc rằng, Nguyễn Mộng Tuân ngồi hơi lâu ở chức lớn, nên ông đã bị kẻ xấu ghen tức, bày đặt vu cáo ông, khiến ông thân bại danh vong, mất khi nào cũng không có tài liệu nào ghi chép. Ông khen các bạn mình “tri túc” (biết đủ), “tri chỉ” (biết dừng), mà ông không làm được như họ, sớm buông bỏ chức quan mà “hạ cánh an toàn”. Tiếc thay ! Buồn thay ! Tuy nhiên, sự nghiệp văn chương của Nguyễn Mộng Tuân thì vẫn còn mãi với đời…

 

V-B-L

 

----

Xem thêm: Bài luận rất hay về COVID19 của một học sinh Lớp 7K, Hệ thống Lômônôxôp, Hà Nội

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}