Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Võ Nguyên Giáp với Tây Nguyên

Ths Ngô Minh Hiệp | Thứ Ba, 19/02/2019 10:07 GMT +7
(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Ths Ngô Minh Hiệp "Võ Nguyên Giáp với Tây Nguyên" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng. 
 
Ảnh chụp Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trái) năm 1968. Ảnh tư liệu.
 
Nói về những đóng góp và ảnh hưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với cách mạng Việt Nam thông thưởng người ta hay chú ý đến mảng chính trị quân sự trong hai cuộc kháng chiến. ít người biết đến một tấm lòng nhân văn cao cả, một tầm nhìn chiến lược về Tây Nguyên của Đại tướng.
 
1. Nghệ thuật quân sự Võ Nguyên Giáp ở  Tây Nguyên qua hai cuộc kháng chiến
 
Với nhãn quan của một vị chỉ huy, Bác Hồ đã chọn ông làm người chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ  Nguyên Giáp là người chỉ huy tối cao của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tài năng của ông ngày càng được bộc lộ và phát huy, đã đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.
 
Tại Tây Nguyên, Thực dân Pháp đã mạnh xâm lược mở rộng vùng chiếm đóng. Cuối năm 1945 đầu năm 1946, chiến sự mặt trận Gia Lai đã lan từ phía Tây tỉnh (giáp Campuchia) và mặt trận phía Nam (giáp Đăk Lăk). Đầu tháng 1-1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu phái đoàn của Trung ương Đảng và Chính phủ vào Nam Trung Bộ và Tây Nguyên kiểm tra tình hình chiến trường, các đơn vị bộ đội ở các địa phương này và truyền đạt chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ cho các chiến khu và các tỉnh. Ở Pleiku, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tổ chức nói chuyện với một số đơn vị vũ trang. Các chiến sĩ đều phấn khởi khi nghe kể những gương chiến đấu ở mặt trận và nóng lòng chờ giây phút được tiêu diệt quân thù.
 
Trong buổi nói chuyện với cán bộ quân dân chính đảng (tại nhà gỗ số 1 Hoàng Hoa Thám, Pleiku, hiện nay là cơ quan của Ngân hàng chính sách tỉnh Gia Lai), bên cạnh việc chấp hành các chỉ thị và các mặt công tác, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã yêu cầu địa phương chú ý vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng.
 
Tiếp thu ý kiến của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tỉnh ủy và chính quyền Gia Lai chủ trương lấy vùng Hà Bầu để xây dựng căn cứ, chuẩn bị cơ sở chính trị, tổ chức dự trữ lương thực, tổ chức công nhân vận chuyển máy móc, nguyên liệu ra căn cứ, sản xuất vũ khí phục vụ kháng chiến. Mặc dù thời gian cấp bách, công tác chuẩn bị gặp nhiều khó khăn, cơ sở chưa củng cố vững chắc, những chủ trương trên thể hiện ý chí của Đảng bộ về sự quan tâm chỉ đạo vấn đề xây dựng căn cứ địa, một vấn đề quan trọng có tính chiến lược của cuộc kháng chiến trường kỳ, không chỉ của tỉnh mà của cả nước.
 
Trên lĩnh vực ngoại giao, sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945,  đất nước đứng trước những khó khăn bộn bề của nước Cộng hòa non trẻ, vận mệnh dân tộc được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”, đồng chí Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều nhiệm vụ đối ngoại đặc biệt như cuộc đấu trí và đấu lý ở Hội nghị Đà Lạt… Khi họp bàn về vấn đề Liên bang Đông Dương, ông khẳng định dứt khoát: “Chúng tôi tuyên bố kết liễu thời đại của các quan toàn quyền”. Đồng chí đã không bỏ một cơ hội hòa bình nào, chỉ khi nào hòa đàm không xong, đồng chí mới phải chọn giải pháp đấu tranh bằng vũ lực để giữ vững đến cùng mục tiêu cao cả: độc lập và thống nhất đất nước, vì thế mà người Pháp đã gọi ông là “ngọn núi lửa phủ tuyết” .
 
Để đánh bại kế hoạch Na Va ngay tại chiến trường Liên khu V đồng thời bảo vệ vững chắc vùng tự do ngày 27/ 11/1953 Tổng quân ủy báo cáo trình Bộ chính trị TW đảng về tình hình ta địch ở LKV. Theo đó, căn cứ tình hình kế hoạch của địch và nhận định của ta, quyết định Phương châm chiến lược của LKV là “Tích cực và mạnh bạo phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là ở phía Bắc. Tiếp tục củng cố vừng tự do”  Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay: “Tranh thủ thời gian, tích cực tăng cường lực lượng võ trang của liên khu cả về số lượng và chất lượng, phát triển mạnh về hướng Tây Nguyên và Hạ Lào, chủ yếu hiện nay là về phía bắc Tây Nguyên; để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ địa (kể cả vùng tự do hiện nay) về phía Tây, củng cố hành lang Bắc Tây Nguyên nối Liên khu 5 với Hạ Lào và phát triển rộng ra, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên và chiếm rộng ra vùng ven biển” .  
 
Ngày 17 tháng 2, Chiến dịch bắc Tây Nguyên kết thúc. Trải qua hơn 20 ngày đêm chiến đấu, bộ đội ta đã diệt hơn 2.000 địch, bắt sống 310 tên, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Kon Tum giải phóng một vùng chiến lược gần 16.000km2 gồm cả một thị xã. Cùng với cuộc tiến công ở Hạ Lào, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn từ nam Quảng Ngãi tới Hạ Lào. Ta còn thu nhiều vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn bộ binh. 
 
Đến Đông Xuân 1953-1954, mưu kế chiến lược của Đại tướng - Tổng tư lệnh được thể hiện rất tài tình. Ông đã thành công trong việc phân tán lực lượng cơ động của địch và đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương, bằng các biện pháp nghi binh, lừa địch mà chính Tướng Nava cũng phải thú nhận rằng có đến hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân chia ra các chiến trường. Đến khi ta tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động của địch không thể tập trung lớn để đối phó được nữa.
 
Thắng lợi to lớn của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ cả nước cùng bạn bè khắp năm châu. Đó là một đòn chí mạng giáng vào ý chí xâm lược, âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của Pháp, Mỹ, buộc đối phương phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán ở Giơ-ne-vơ bàn về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
 
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta vẫn còn tiếp diễn. Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, nhằm phối hợp với đấu tranh ngoại giao, từ ngày 8 tháng 5 đến khi Hiệp nghị Giơ-ne-vơ được ký kết (21-7-1954), lệnh ngừng bắn có hiệu lực, các LLVT nhân dân ta ở khắp các chiến trường trên cả nước liên tục tiến công địch thu nhiều thắng lợi. Một trong những chiến công tiêu biểu trong thời gian đó là Chiến thắng Đắk-Pơ (24-6-1954).
 
Kết quả trận đánh, địch bị chết khoảng 500 tên, bị thương 600 tên và 800 tên bị bắt; số xe các loại bị bắn cháy, hư hỏng và còn nguyên lên tới 375 chiếc. Ta thu 18 pháo 105mm cùng nhiều đạn các loại. Trận phục kích tiêu diệt quân địch ở Đắk-Pơ của Trung đoàn 96 và các lực lượng vũ trang địa phương, diễn ra sau Chiến thắng Điện Biên Phủ hơn một tháng rưỡi, là một trận đánh lớn, tiêu biểu nhất trong giai đoạn 75 ngày diễn ra Hội nghị quốc tế ở Giơ-ne-vơ bàn về chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Đó cũng là một trong những trận đánh tiêu biểu của quân đội ta trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chiến thắng này có ý ngĩa vô cùng quan trọng, buộc quân Pháp sau thời gian giằng co trên hội nghị Giơnevo buộc phải xuống thang ký kết hiệp định. Trong phần giới thiệu đầu cuốn sách “Trung đoàn 96”, Đại tướng đã viết: “Đánh và tiêu diệt gọn Binh đoàn cơ động 100 thuộc loại mạnh nhất của lực lượng viễn trinh Pháp ở Triều Tiên mới về là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt với hiệu quả cao, đánh chúng vào chỗ yếu kém của địch, bồi cho chúng một đòn thất bại nặng nề”.
 
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Để giáo dục cho quân đội, ông đã viết lý luận về đường lối quân sự của Đảng để tiến hành chiến tranh nhân dân, nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
 
Trong lúc cách mạng ở miền Nam diễn ra gay go ác liệt, để tạo thực lực về cơ sở vật chất và lực lượng cho cách mạng miền Nam, ông đã đề xuất với Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch cho mở tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Con đường chiến lược Hồ Chí Minh được hình thành từ đó, đã tiếp sức cho cách mạng miền Nam và tiến thẳng đến dinh lũy của kẻ địch vào ngày toàn thắng. 
 
Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ”, chúng cậy có hỏa lực mạnh, phương tiện cơ động cao. Để đánh bại được quân Mỹ, từ thực tiễn chiến trường, bộ đội Tây Nguyên đã đề ra chiến thuật “chốt kết hợp với vận động”. Khi đem chiến thuật này ra Bắc báo cáo, đã được Đại tướng- Tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu sửa lại là “Vận động tiến công kết hợp chốt”, thể hiện tinh thần tiến công mạnh mẽ hơn. Nhờ đó, mùa Đông năm 1967, trong chiến dịch Đắc Tô 1, bộ đội Tây Nguyên đã thành công và hoàn thiện chiến thuật “Vận động tiến công kết hợp chốt”, mở ra khả năng mới đánh tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ trên chiến trường. Lần đầu tiên ở Tây Nguyên, bộ đội ta đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 là lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ bị choáng váng, chùn bước tiến vào căn cứ của ta.
 
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, Mỹ buộc phải rút quân về nước, tình hình chiến trường miền Nam bắt đầu diễn biến theo chiều hướng có lợi cho ta. Năm 1974, để nắm vững tình hình thực tế chiến trường và có quyết sách đúng đắn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư lệnh trưởng Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên và chính ủy Đặng Tính đã vượt hàng trăm cây số đi thăm bộ đội Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh và kiểm tra sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dự kiến vào mùa xuân 1975. 
 
Khi chiến cuộc Đông Xuân năm 1975 bước vào giai đoạn quyết định, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị là giải phóng miền Nam trong năm 1975 và 1976, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, ông dùng mưu kế chiến lược thật tuyệt vời. Bằng cách giăng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến và kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, Quân đoàn 2 kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đứng chân ở Đồng Nai - bắc Sài Gòn, kìm giữ địch ở Sài Gòn và để địch sơ hở Tây Nguyên.
 
Đầu tháng 3/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đồng ý với đề xuất của Trung tướng Hoàng Minh Thảo chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược. Đại tướng đã xin ý kiến của Bộ chính trị và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Nam chỉ đạo đánh đòn chí mạng vào hệ thống phòng ngự của VNCH tại Buôn Mê Thuột. 
 
Khi đã giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy - là lực lượng cơ động chiến lược của địch ở hai đầu Nam - Bắc thì đó là thời cơ để ta tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa, để phá vỡ Tây Nguyên một cách nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực, ông đã bất ngờ tăng thêm cho lực lượng ta ở Tây Nguyên hai sư đoàn nữa. Tây Nguyên từ chỗ ta có 2 sư đoàn trở thành có 4 sư đoàn, đã trở thành một quả đấm chủ lực mạnh.
 
Chiến dịch Tây Nguyên được mở màn với trận then chốt quyết định - giải phóng Buôn Ma Thuột, đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị và Đại tướng - Tổng tư lệnh giao cho. Tiếp đến quân ta đánh bại phản kích của địch, tiêu diệt sư đoàn 23 dẫn đến một sự bùng nổ về chiến thuật và tạo ra phản ứng dây truyền làm cho tập đoàn lớn của địch ở Pleiku và Kon Tum chưa bị đánh đã phải tháo chạy. Phản ứng dây truyền tạo ra đột biến về chiến dịch. Địch ở Tây Nguyên bị phá vỡ, tạo ra một cục diện chiến tranh mới, đẩy địch vào thế hỗn loạn về chiến lược và đi xuống con đường suy sụp nhanh chóng.
 
Ngay khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, ông cũng đã phán đoán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Quả đúng như vậy, từ đó ông đã chủ động gối đầu chiến dịch Huế- Đà Nẵng và kế tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh với thế đánh địch “như chẻ tre”.
 
Thời cơ lịch sử đã đến, với sự nhạy bén và quyết đoán của nhà chiến lược quân sự. Ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta bằng mệnh lệnh:
 
“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.
 
Mệnh lệnh của Ông vừa là tiếng kèn xung trận vừa là kết tinh của một tư duy quân sự thiên tài trước thời khắc hệ trọng lịch sử của dân tộc. Ông là người đứng đầu quân đội ta từ ngày đầu thành lập đến ngày chiến thắng cuối cùng. Ông đã dẫn dắt quân đội vượt qua muôn vàn khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác đến ngày toàn thắng chọn vẹn  
 
2.Tấm lòng nhân ái Đại tướng Võ Nguyên Giáp với đồng bào nhân dân Tây Nguyên anh hung sau ngày đất nước thống nhất
 
Năm 1978, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào thăm Tây Nguyên, Đại tướng đã đến thăm và làm việc với nhân dân Gia Lai- Kon Tum. Tại đây, Đại tướng đã biểu dương, ghi nhận những chiến công của đồng bào trong tỉnh qua hai cuộc kháng chiến, tiếp đó, Đại tướng đã đi thăm hỏi động viên một số vùng kinh tế và trường học và phiết biểu quan trọng đối với cán bộ và nhân dân trong tỉnh tại trường Đảng chính trị.
 
Ngày 8-3-1978, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có một chuyến thăm quân và dân tỉnh Đăk Lắk. Trong chuyến đi này, Đại tướng  đã dành  nhiều thời gian đến thăm các buôn làng của đồng bào dân tộc, các công trường, nông trường, đơn vị quân đội, huyện Krông Pak và Đoàn 333 ở Tây Nguyên (nay là Công ty cổ phần mía đường 333, thị trấn Ea Knôp, huyện Ea Kar). Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của tỉnh Dak Lak nói riêng và Tây Nguyên nói chung  và  việc xây dựng Tây Nguyên là một trung tâm về kinh tế, chính trị và quốc phòng. Về kinh tế, Tây Nguyên là nơi có điều kiện xây dựng và khai thác để xuất khẩu, cần phải đẩy mạnh nhịp độ xây dựng của Tây Nguyên lên nhanh hơn. Đại tướng đã vui mừng và đánh giá cao những thành quả của quân và dân tỉnh Dak Lak trong việc tích cực khai hoang, xây dựng đồng ruộng, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc tại chỗ và đồng bào các tỉnh đến xây dựng kinh tế mới, nâng cao từng bước đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
 
Ngày 9-3-1978, Đại tướng đã đến thăm cán bộ chiến sĩ Đoàn 333- đang làm nhiệm vụ chính là xây dựng kinh tế và sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn vùng Đông Nam tỉnh Đắk Lắk. Ngày ấy nơi đoàn đóng chủ yếu là rừng rậm, chỉ có những con đường mòn rất nhỏ, thậm chí không có đường nên để xây dựng doanh trại, đơn vị phải dùng sức người, máy móc mở đường chuẩn bị điều kiện cần thiết ban đầu cho cuộc sống trên vùng đất mới. Giữa rừng thiêng, nước độc, điều kiện còn hạn chế nên rất nhiều người đổ bệnh, thậm chí thương vong do sốt rét, rắn độc cắn… Với sự có mặt của Đại tướng, những khó khăn mất mát của đơn vị như được vơi đi từ tấm lòng nghĩa tình của vị tướng.
 
 Theo kế hoạch ban đầu, Đại tướng dự kiến sẽ về thăm đồng bào vùng kinh tế mới ở Ea Súp, bởi “Ea Xup là một địa bàn xung yếu, có tiềm năng về kinh tế, có ý nghĩa về quốc phòng, trước mắt có những thuận lợi nhưng còn những khó khăn phải khắc phục”. Nhưng do yêu cầu công tác Đại tướng phải quay về Hà Nội gấp. Trước khi ra Hà Nội, đêm 28-10 năm đó, dù bận rất nhiều việc cần phải giải quyết xong ngay trong đêm, nhưng Đại tướng vẫn dành thời gian viết bức thư gửi đồng bào vùng kinh tế mới Ea Súp. 
 
Bức thư có đoạn: “Thay mặt Bộ Chính trị và Hội đồng Chính phủ, tôi có lời hỏi thăm thân thiết nhất đến toàn thể anh chị em, đến các đảng viên, đoàn viên, cán bộ, đến toàn dân đồng bào vùng kinh tế mới Ea Xup”. Qua thư, Đại tướng đã hết lời biểu dương đồng bào đi kinh tế mới, coi đồng bào là “những người chiến sỹ dũng cảm đã đáp ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, có tinh thần yêu nước và tinh thần làm chủ đất nước cao, lên đây xây dựng quê hương mới, góp phần cố gắng lớn của mình cùng đồng bào các dân tộc xây dựng Tây Nguyên chiến lược giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, vì sự nghiệp Tổ quốc xã hội chủ nghĩa yêu quý của chúng ta”. Thời gian qua, trong điều kiện khó khăn ấy, đồng bào ta ra sức phấn đấu, không quản gian khổ vì trở ngại, giành được thành tựu về nhiều mặt, đặc biệt là về an ninh chính trị. Trung ương và Chính phủ biểu dương tinh thần ấy, những thành tựu ấy”
 
Tuy không có điều kiện đến tận nơi kiểm tra đời sống nhân dân, nhưng Đại tướng đã kịp thời chỉ đạo các ban ngành địa phương đặc biệt chăm lo tới phát triển kinh tế văn hóa xã hội vùng kinh tế mới: “Đồng chí Triều, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và một số đồng chí phụ trách các Bộ, cán bộ khoa học, đại diện của bộ đội, cùng với đồng chí Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk và đại diện Tỉnh ủy lên gặp đồng bào, trực tiếp chuyển lời thăm hỏi của Đảng và Chính phủ, tìm hiểu tình hình nhằm đề ra phương hướng giải quyết những việc cần thiết, nhằm xây dựng vùng xung yếu này trở thành một trong những địa bàn vừa phát triển về kinh tế vừa vững chắc về quốc phòng của Tây Nguyên, của Tổ quốc”.
 
Bức thư sau đó được đọc trước toàn thể Đảng bộ, lực lượng thanh niên xung phong và đồng bào Ea Súp. Những lời trong bức thư  vừa chan chứa tình cảm yêu thương, lời dặn dò ân cần của Đại tướng, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược của một nhà quân sự lỗi lạc đối với khu vực Tây Nguyên.
 
Thực hiện lời dạy của Đại tướng trong thư, những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ea Súp nói riêng cũng như nhân dân Dak Lak và vùng Tây Nguyên nói chung  đã phấn đấu đạt được những kết quả vượt bậc về kinh tế - xã hội – an ninh quốc phòng, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
 
Đến năm 1980, Đại tướng tiếp tục vào thăm Tây Nguyên. Đại tướng khi trò chuyện với anh em cán bộ chiến sĩ tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai - Kon Tum: “Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi ngôi làng là một pháo đài. Nên chúng ta muốn bảo vệ tốt thì phải trồng cây để che tầm ngắm của quân thù, để ngụy trang xe, ngụy trang quân chủ lực…”  .
 
 Khi tình hình thế giới chuyển biến mạnh mẽ, Việt Nam rút quân tình nguyện tại Campuchia về nước năm 1989, Đại tướng đã trực tiếp đến tận cửa khẩu Lệ Thanh, Gia Lai đón các chiến sĩ bộ đội Việt Nam trở về. Dịp này, Đại tướng có làm việc tại UBND tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Đại tướng dặn dò: “Tây Nguyên phải phát huy truyền thống quê hương Anh Hùng Núp bất khuất, kiên cường… Chúng ta đánh thắng giặc Pháp, chúng ta đánh thắng Mỹ, bây giờ chúng ta đánh thắng biên giới phía Bắc, biên giới phía Nam. Do đó, dân tộc ta thực hiện theo thư của Bác Hồ gửi đồng bào Tây Nguyên phải đoàn kết Kinh - Thượng, đoàn kết Lương - Giáo…” .
 
Ngày 14/8/1978, Đại tướng vào thăm và nói chuyện với cán bộ, giảng viên, học viên của Học viện lục quân Đà Lạt. Sau khi trao đổi về chuyên môn quân sự, lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, Đại tướng đã làm tất cả mọi người bất ngờ khi hỏi: “Các đồng chí cho biết cây thông năm lá và cây thông ba lá ở Đà Lạt giống và khác nhau ở điểm nào?”.  Với Đại tá, Giáo sư-Tiến sỹ Lương Minh Cao, nguyên Trưởng phòng Khoa học của Học viện Lục quân, chỉ một câu hỏi bất ngờ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khiến ông ghi nhớ mãi trong công tác nghiên cứu, giảng dạy. Câu hỏi khiến nhiều người lúng túng, không ai trả lời được. Đại tướng cười rồi giải thích cho chúng tôi hiểu sự giống và khác nhau của hai loài thông này, đồng thời cho biết thêm ở Đà Lạt còn có loài thông đỏ rất quý, có thể sử dụng để bào chế thuốc chữa các bệnh nan y. Rồi Đại tướng kết luận: “Các trung đoàn trưởng, sư đoàn trưởng tương lai bên cạnh am hiểu nghệ thuật quân sự, thuần thục công tác chỉ huy, tham mưu, cũng cần có kiến thức, hiểu biết về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, luật pháp”. Đặc biệt, đến năm 1994, giới y học đã công bố một thông tin quan trọng: Từ lá và vỏ cây thông đỏ, có thể chiết xuất ra hai hoạt chất taxol và taxotere để làm nguyên liệu bào chế thuốc điều trị bệnh ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi, xử lý hắc tố...  
 
Cũng trong đợt thăm và khảo sát tỉnh Lâm Đồng cuối năm 1978 cùng với Ủy ban kế hoạch nhà nước, Bộ nông nghiệp, Đại tướng đã có nhiều bài phát biểu với cán bộ nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chỉ đạo tỉnh phối hợp với các cơ quan TW để “xây dựng Lâm Đồng thành một tỉnh giàu, mạnh, đẹp”  . 
 
Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong đó có khoa học - kỹ thuật, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều đóng góp cho việc phát triển khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại tướng đã dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên (1980) và Dự thảo chiến lược kinh tế và quốc phòng biển (1985), thể hiện nhận thức sâu sắc của Đại tướng về yêu cầu đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học - kỹ thuật để phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên và vùng biển nước ta.
 
Một điểm nữa thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Tây Nguyên. Khi chính phủ chủ trương khai thác Boxit, Đại tướng đã có 3 bức thư phân tích làm rõ lợi hại của việc khai thác Boxit: “Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè…) trên Tây Nguyên”. “Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định” .
 
Tóm lại: Võ Nguyên Giáp là một tên tuổi lớn trong lịch sử dân tộc, đồng chí không chỉ là một Đại tướng lừng lẫy của quân đội nhân dân Việt Nam mà trong các lĩnh vực khác như giáo dục - đào tạo, khoa học - kỹ thuật, báo chí, ngoại giao, văn hóa, lịch sử… đồng chí đều có nhiều đóng góp quan trọng. Đại tướng là con người Văn - Võ song toàn. Trọn cả cuộc đời với hơn 100 năm hoạt động cách mạng, Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nêu bật tấm gương sáng của người cộng sản kiên trung, đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam trên nhiều phương diện, hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được khắc sâu trong lòng nhân dân cả nước đặc biệt là đồng bào Tây Nguyên. 
 
N.M.H
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}