Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vương triều nhà Lý trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Vương Quốc Hoa | Chủ Nhật, 20/05/2018 16:05 GMT +7

(Vanhien.vn) Đến năm Mậu Thân 1128, năm cuối cùng đời vua Lý Nhân Tông – đây là vị vua ở ngôi lâu năm nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 56 năm trị vì từ năm 1072 đến năm 1128. Nhà vua ngự ra nghe giảng kinh sách ở tòa Kinh Diên, tại đây các quan thị học trình giảng giảng kinh sử cho nhà vua cùng triều thần nghe.

Cuối năm Kỷ Dậu 1009, vua Lê Long Đỉnh chết, sau đó các quan đại thần đứng đầu là Đàm Cao Mộc cùng nhau suy tôn Điện Tiền chỉ huy sư là Lý Công Uẩn lên làm vua, sự kiện trên diễn ra vào năm Canh tuất 1010. Lý Công Uẩn lên làm vua, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, vương triều nhà Lý chính thức được thành lập.

Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, dựng năm 2004.

Ngay sau khi vừa lên làm vua, Lý Công Uẩn đã nghĩ đến việc dời đô. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) do Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) lập nên từ năm 968, tồn tại được 41 năm dưới hai triều đại là Đinh – Tiền Lê (968 – 1009) vốn là vùng đất đẹp, nhưng ở đây lại chật hẹp, thiếu yếu tố là nơi trung tâm trời đất, nên Hoa Lư khó có thể là nơi định đô lâu dài được.

Lý Công Uẩn nghĩ về quê hương Bắc Ninh với các thành cổ như Luy Lâu, Long Biên từng là lỵ sở  đô hộ của các triều đại phương Bắc, nhưng Lý Công Uẩn thấy thành Đại La (Hà Nội ngày nay) mới là quan trọng nhất, nơi đây vừa có thành lũy kiên cố, vừa là vùng đất nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, sông ngòi chi chít, dân cư đông đúc, giao thông thủy bộ đều thuận lợi. Vòng ngoài có nhiều dãy núi trùng điệp bao che, lại có các dòng sông tạo thành những hào thiên nhiên sâu rộng chắn giữ.

Lý Công Uẩn suy nghĩ kỹ rồi quyết định tự tay viết “Chiếu dời đô”, quyết định rời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Trong chiếu dời đô có đoạn: “Xem khắp đất Việt, chỉ nơi đây là thắng địa, thật là nơi hội tụ quan trọng của bốn phương, nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, thể hiện một bước trưởng thành mới của ý thức dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển quan trọng của chế độ quân chủ trung ương tập quyền của nhà nhà Lý lúc bấy giờ. So với Hoa Lư thì kinh đô mới Thăng Long còn là nơi trung độ giữa hai tuyến giớ Bắc – Nam của nước ta thời bấy giờ.

Đóng đô ở Thăng Long thì việc liên hệ với các nước láng giềng ở phía Bắc và phía Nam, cũng như việc ứng phó với những biến cố xảy ra ở hai khu vực biên giới đều rất thuận lợi. Như vậy, về nội trị cũng như ngoại giao, việc vua Lý Công Uẩn dời đô và định đô ở Thăng Long là một việc cực kỳ sáng suốt. Nhìn lại lịch sử thời kỳ này cho  thấy sự lựa chọn trên đã được thực thi một cách thận trọng và đúng hướng.

Tổ chức bộ máy và quan lại thời kỳ nhà Lý: Quan chế của nhà nước thời kỳ nhà Lý có quy cũ chặt chẽ hơn các triều đại trước đó. Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, dưới Hoàng đế có ba chức  đứng đầu bách quan là Thái sư, Thái phó. Thiếu bảo, Thiếu úy (phụ trách cấm quân); Nội điện Đô trị sự; Ngoại điện Đô trị sự, Kiểm hiệu Bình chương sự. Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước còn có các cơ quan chuyên trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự Sử đài, Thượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình úy, Hàn lâm viện.

Nhìn chung, bộ máy quan lại trung ương nhà Lý cấu trúc theo ba cấp: Trung ương; hành chính trung gian; Hành chính cơ sở.

Tổ chức quân đội ở thời Lý có quy cũ hơn thời Tiền Lê và có quy chế ổn định. Cấm quân được chia làm 10 vệ, sau lại được chia làm 16 vệ với khoảng 3200 người. Cấm quân đều thích trên trán ba chữ “Thiện tử quân”, ngoài cấm quân có các Lệ phủ. Người dân đến tuổi “Hoàng nam” (18 tuổi) đều phải đăng lính.

Quân thường trực thì được chia làm 5 phiên, thay nhau về cày cấy tự cấp, đó là chính sách “Ngụ binh ư nông”, vừa đảm bảo sản xuất nông nghiệp, vừa đảm bảo quân số  cần thiết. Trong những trận đánh lớn, nhà vua thường tự làm tướng, hoặc cử Hoàng tử, thân vương làm nguyên soái.

Quân lính nếu bỏ trốn thì sẽ bị phạt rất nặng, bỏ trốn hơn 1 năm thì thì bị đánh 100 trượng, thích vào mặt 5 chữ. Tổ chức quân đội chặt chẽ của nhà Lý đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân nhà Tống trong thời kỳ 1075 – 1077.

Về luật pháp: Thời Lý nhà nước tăng cường hoạt động luật pháp. Năm Nhâm Ngọ 1042, nhà Lý biên soạn và cho ban hành bộ luật Hình thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên  của nhà nước quân chủ Việt Nam (nhưng hiện nay bộ luật này đã không còn).

Pháp luật của nhà Lý nhằm bảo vệ quyên lợi của nhà nước trung ương tập quyền, của giai cấp thống trị, trước hết là của nhà vua, củng cố mặt tích cực coi trọng việc bảo vệ và phát triển sức sản xuất của dân tộc. Pháp luật thời Lý cũng quan tâm đến đời sống của con người thể hiện tinh thần pháp trị, tiêu biểu nhất là dưới thời vua Lý Thánh Tông.

Về hoạt động đối ngoại: Nhà Lý vẫn tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao tích cự thời Đinh – Tiền Lê là chủ trương giao hảo với các nước lân bang, nhưng kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ toàn bộ lãnh thổ dân tộc.

Về văn hóa giáo dục: Saukhi dời đô về Thăng Long, mọi việc sắp đặt xây dựng đều phải làm lại từ đầu. Trên con đường tiếp nhận những tinh hoa Hán học, hiệu chỉnh và cải biến chúng trên chừng mực nhất định nhằm xây dựng chúng một cách hữu hiệu phục vụ sự nghiệp xây dựng một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền, độc lập tự chủ và hùng mạnh.

Việc dạy Nho học và chữ Hán chưa được quy định chính thức, nhưng triều đình đã nhìn thấy lợi ích của việc tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa. Những người trong hoàng tộc hoặc con cháu các đại thần được học chữ Hán tại nhà, hoặc học xen kẽtrong khi học kinh điển của Phật giáo.

Để đào tạo nhân tài và tuyển chọn quan lại cho bộ máy hành chính, nhà Lý bắt đầu chăm lo việc học tập và thi cử. Năm CanhTuất 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng Văn Miếu ở phía Nam Hoàng thành Thăng Long, và cho Thái tử đến đó học tập. Đây là sự kiện nổi tiếng về việc thành lập Văn Miếu Quốc Tử Giám mà quốc sử đã trân trọng ghi chép.

Chỉ 5 năm sau sự kiện nói trên, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình đã cho tổ chức khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử nước ta để tuyển chọn nhân tài. Khoa thi năm đó gọi là  khoa thi Minh Kinh bác học. Người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh trở thành Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Khoa cử nước ta bắt đầu từ đấy, và danh xưng học vị Thái học sinh (gồm ba giáp sau này người ta xem như Tiến sỹ) bắt đầu có từ thời kỳ này.

Tiếp theo, sử còn ghi thêm được 6 khoa thi thuộc triều nhà Lý, năm Bính Dần 1086 đời vua Lý Nhân Tông, triều đình mở khoa thi chọn người học văn vào Hàn lâm viện, để nghiên cứu kinh sách và giảng tập văn bài cho nhà vua nghe, đỗ đầu khoa thi này là ông Nhạc Hiển Tích.

Đến năm Mậu Thân 1128, năm cuối cùng đời vua Lý Nhân Tông – đây là vị vua ở ngôi lâu năm nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 56 năm trị vì từ năm 1072 đến năm 1128. Nhà vua ngự ra nghe giảng kinh sách ở tòa Kinh Diên, tại đây các quan thị học trình giảng giảng kinh sử cho nhà vua cùng triều thần nghe.

Năm Nhâm Thân 1152, đời vua Lý Anh Tông, nhà vua cho mở khoa thi kỳ Điện thi (thin gay trong sân điện của vua ở, về sau này quen gọi là thi Đình) dành cho học trò trong nước về Kinh đô dự thi. Đến năm Ất Dậu 1165, cũng dưới thời vua Lý Anh Tông, triều đình còn cho mở kỳ thi học sinh để kén chọn người giỏi ra làm quan.

Đến năm Ất Tỵ 1185, đời vua Lý Cao Tông, nhà vua đã cho mở khoa thi chọn những nhân sỹ trong nước từ 19 tuổi trở lên, những người này phải thông kinh thi, kinh thư, vào chầu giảng ở Ngự điện. Khoa này có 20 người trúng tuyển, ba người đỗ đầu là Đỗ Thế Diên, Đặng Nghiêm và Bùi Quốc Khải.

Năm Ất Mão 1195, vua Lý Cao Tông lại cho mở khoa thi Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) để kén chọn nhân tài. Triều đình cho mở khoa thi, nhưng không nói rõ khoa thi này tên gì, có lẽ vì thiếu tài liệu nên quốc sử phải bỏ sót?

Nhìn chung, vương triều nhà Lý cũng tồn tại khá dài trong lịch sử phong kiến Việt Năm với thời gian là 215 năm (1010 – 1225). Trong thời gian hơn 215 năm đó, nhà Lý truyền nối được 9 đời vua. Vương triều nhà Lý cũng có những đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc.

---------------------------

Tài liệu tham khảo:

1.Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Trương Hữu Quýnh (chủ biên), NXB GD, năm 2000

2.Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nguyễn Quyết Thắng chủ biên, NXB Tổng hợp TP HCM, năm 2005.

Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Đào Duy Anh NXB Văn Hóa Thông Tin, năm 2002

Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884, Gs Nguyễn Phan Quang, Ts Võ Xuân Đàn, NXB TP HCM, năm 2000

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}