16:27 ICT Thứ hai, 15/09/2014

Trang nhất » Tin Tức » Diễn đàn

Bản sắc riêng của người Chơro

Thứ ba - 24/12/2013 13:06
Dân tộc Chơro có khoảng 26.000 người sinh sống chủ yếu tập trung ở vùng núi thấp thuộc tỉnh Ðồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và số ít ở vùng Sông Bé - Bình Dương.

Từ giữa thế kỉ XX trở lại đây, người Chơ Ro tiếp thu ngày càng mạnh mẽ văn hoá - nếp sống của người Việt ở miền Ðông Nam bộ và đã hòa nhập được với toàn thể cộng đồng người Việt. Để hiểu biết hơn về những nét đặc sắc của người Chơro, chúng tôi đã tìm về nơi họ sinh sống để được biết nhiều hơn về phong tục tập quán của họ.

Lưu giữ nếp nhà xưa
  Dân tộc Chơro còn có tên gọi khác là Đơ-ro, Châu-ro, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông-Khơmer, gần với tiếng Mạ, Xtiêng... Trước đây người dân Chơro chủ yếu làm nương, rẫy, săn bắn thú rừng, đan lát nhưng càng ngày đời sống ổn định hơn, được nhà nước quan tâm chăm lo, khoa học kỹ thuật cũng về với dân làng, họ đã biến hình thức di canh di cư sang định canh định cư, trồng cây trên ruộng nước, chăn nuôi, phát triển mạnh hơn nghề đan lát nên đời sống ngày càng ổn định hơn. Người Chơro trước đây sinh sống chủ yếu ở vùng núi, trên nhà sàn cao, cửa ra – vào nằm ở mé hồi nhằm tránh thú giữ nhưng cho đến nay thì họ đã có nếp nhà như người Nam bộ, nhà có cột, có kèo, dù vậy họ vẫn giữ được nét xưa trong ngôi nhà của mình đó chính là cái sạp nằm chiếm hết ½ ngôi nhà. Nhà người Chơro được bài trí khá đơn giản, chiêng, ché, cung, nỏ được xem là những thứ quý giá, quan trọng, hiện nay có nhiều hộ có tivi, xe đạp, xe máy, sắm sửa thêm nhiều thứ hiện đại, nhưng phương tiện vận chuyển hàng hóa chủ yếu vẫn là gùi tre cõng trên lưng, ngoài ra họ vẫn sử dụng lịch theo chu kỳ canh tác dựa vào tuần trăng.

Người Chơro không theo chế độ mẫu hệ hay phụ hệ, thời kỳ mẫu hệ đã tan rã, thời kỳ phụ hệ lại chưa được xác lập, nhưng phần nào đó người phụ nữ vẫn được coi trọng hơn nam giới. Trong hôn nhân, nhà trai đi hỏi vợ nhưng lễ cưới lại được tổ chức ở nhà gái, trai vẫn phải ở rể nhà vợ qua thử thách rồi mấy năm sau mới xây nhà ở riêng. Trong làng có người chết, đồng bào sẽ dùng quan tài độc mộc đắp mộ hình bán cầu, sau ba ngày an táng, gia đình có tang sẽ mở cửa mả. Dân tộc Chơro rất sùng bái thần linh, họ kiêng kị nhiều thứ, tổ chức cúng lễ thần rừng ba năm 1 lần như một dịp hội làng, thần lúa tổ chức như một lễ trọng hàng năm, để cầu mong được sống an vui, gia đình có của ăn của để, mùa về được bội thu.

Đồng bào Chơ Ro ăn cơm tẻ là chính, hút thuốc lá sợi bằng tẩu, họ uống rượu cần, cả nam nữ đều thích ăn trầu cau. Xưa kia phụ nữ Chơro quấn váy, đàn ông đóng khố, áo theo dạng chui đầu, mùa lạnh có tấm vải choàng giữ ấm, bây giờ đồng bào cũng đã mặc như người kinh nhưng họ vẫn thường đeo gùi trên lưng lên nương, phụ nữ có sở thích đeo vòng tay, cổ bằng đồng, bạc, cườm. Dân tộc Chơro vẫn thường tổ chức lễ hội, nhạc cụ của họ khá phong phú, gồm có bộ chiêng 7 cái, đàn ống tre, ống tiêu, sáo dọc, hát đối đáp,…

Sau khi tìm hiểu về những nét văn hóa xưa của người Chơro chúng tôi còn phát hiện ra nhiều điều thú vị về cách gìn giữ nét xưa nhằm lưu truyền mãi mãi cho thế hệ sau.

Chiếc nỏ thời gian
  Từ dạo đồng bào Chơro còn ở nhà sàn, sống bằng việc đốt rẫy, săn thú thì chiếc nỏ là vũ khí lợi hại của những người đàn ông Chơro giữ đất, giữ làng và cho đến hôm nay, đồng bào Chơro đã có cuộc sống khấm khá hơn nhưng chiếc nỏ vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây. Chiếc nỏ lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của người Chơro nên được các “ lão làng” vẫn miệt mài chế tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu săn bắn cũng như buôn bán. Chúng tôi tìm đến nhà ông Điểu Chung (55 tuổi, ngụ xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, Đồng Nai), một trong những người còn giữ nghề làm nỏ của đồng bào dân tộc Chơro. Xưa kia người Chơro sống ở vùng rừng núi, hồi đó còn nhiều thú dữ nên phải sống ở nhà sàn, đi rừng, lên nương đều luôn mang theo rìu và nỏ để phòng thân và săn thú. Với người Chơro, nỏ là một vật hết sức thiêng liêng, tượng trưng cho khả năng chinh phục thiên nhiên và sức mạnh của người đàn ông. Ngay cả trẻ con cũng sớm được làm quen với cung tên, cây nỏ và được người lớn đưa đi rừng. Ngày đó thú rừng hành hoành nên cây nỏ trở thành vũ khí lợi hại, chống thú phá hoa màu lại có thêm thức ăn cho gia đình . Ông Điểu Chung chia sẻ : “ Năm 14 tuổi, tôi được cha cho tập bắn nỏ, cha đưa cho 1 chiếc nỏ, 10 mũi tên rồi đưa vào rừng, hồi đó sức cũng yếu, hai cánh nỏ dài hơn 1m, dây gai thì cứng tưởng như không thể kéo căng ra được, lúc đó tôi cũng hơi lo nên cứ lóng nga lóng ngóng mãi mới có thể lắp được mũi tên vào nỏ, học bắn nỏ xong tôi lại phải học cách bảo quản, sửa chữa khi nỏ gặp trục trặc, phải hai tháng mới “hạ gục” được con thú đầu tiên.” Nỏ của người Chơro thường có hai loại, phân biệt dựa theo chiều dài của cánh nỏ, cũng dựa vào đó mà sẽ có mũi tên thích hợp cho từng loại. Thân nỏ được làm gỗ cứng như: rọi, cẩm lai. Cánh nỏ thì sử dụng các loại gỗ có tính đàn hồi như gỗ cau. “Lão làng” kể lại : “Ngày xưa, để làm một cây nỏ phải mất hàng tháng. Phải vào rừng tìm cây, rồi đánh dấu lại, đến một thời gian nhất định trong tháng mới đến đốn, vì khi đó chất gỗ sẽ săn chắc hơn tại có mùa gỗ bị mọt ăn, gẩy. Gỗ sau khi đốn được đem về đẵn ra thành từng bộ phận riêng biệt, rồi dùng một con dao mác nhỏ bằng ngón tay đẽo kỹ lại, công đoạn này phải mất ít nhất cả tháng. Giờ thì tiện lợi hơn, có máy móc hiện đại nên chỉ mất khoảng một tuần là tôi làm xong một chiếc nỏ”. Với ông Điểu Chung hay những người đàn ông khác thuộc dân tộc Chơro đều luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa này, đã truyền cho các thế hệ sau để lưu giữ nét xưa, ngoài ra hàng năm đồng bào Chơro còn tổ chức lễ hội đón lúa mới để con cháu về sau hiểu hơn về nét văn hóa này.


Lễ hội sayangva
  Đây là tín ngưỡng bao đời nay của dân tộc Chơro, người Chơro quan niệm mọi vật đều có linh hồn. Một trong các thần được người Chơro xem trọng nhất là thần lúa, lễ tạ ơn thần lúa là lễ hội lớn nhất trong năm của đồng bào Chơro. Lễ vật cúng thần lúa gồm rượu cần, gà, heo, bánh piêng pul (bánh dày), piêng đinh (bánh ống, hay còn gọi là cơm lam), piêng cóp (bánh cặp)…Trong đêm cúng thần lúa, người Chơro cùng nhau đốt lửa, uống rượu cần và ca hát. Để chuẩn bị cho lễ hội thì trước đó nhiều ngày già làng đã phải lo chuẩn bị cồng chiêng, rượu cần, sắm lễ vật cúng thần linh. Lễ hội Sayangva được người Chơro tổ chức từ tháng Hai đến giữa tháng Ba âm lịch hàng năm, khi mà lúa, ngô, mì đã nằm gọn trong bồ. Trước đây, các gia đình tự tổ chức việc cúng thần linh rồi mời anh em, người trong dòng tộc, trong làng đến ăn uống. Trong hơn một tháng, gia đình này rồi đến gia đình khác thay phiên nhau tổ chức, người được mời đến cũng mang theo một thứ gì đó (rượu cần, gà,…) để góp vui.

Những nét văn hóa xưa cần được tất cả mọi người chung tay bảo vệ, đó không chỉ là nét đẹp của một bộ phận nhỏ mà nó chính là đại diện, góp phần không nhỏ cho nét đẹp của toàn thể đồng bào Việt Nam, việc giữ gìn phát huy văn hóa từng dân tộc cũng góp phần tạo nên sự đoàn kết, gắn bó mật thiết keo sơn giữa các dân tộc với nhau trên khắp đất nước Việt Nam.

Tác giả bài viết: Nguyễn Nhâm

Share it:

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới
Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn