Văn Hiến Việt Nam

Sun20052012

Back Người Việt Văn nghệ sĩ Trần Đăng – văn nghệ binh thứ nhất hi sinh trên chiến trường

Trần Đăng – văn nghệ binh thứ nhất hi sinh trên chiến trường

Trong hai cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc ta, danh sách những người cầm bút - phóng viên, văn nghệ sĩ – chiến sĩ hi sinh ngoài mặt trận đã nối dài qua hai cuộc kháng chiến. Trong đội ngũ ấy – Trần Đăng là người đầu tiên. Cáo phó đăng trên số xuân năm 1950, báo Vệ quốc quân (báo Quân đội nhân dân ngày nay) viết: “Anh Trần Đăng là văn nghệ binh thứ nhất đã đổ máu ở chiến trường”.

Trần Đăng sinh ngày 11 tháng 11 năm 1921 tại làng Đăm, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Từ những năm tháng trên ghế nhà trường, Trần Đăng đã rất yêu văn học, ham thể thao và luôn sống hết mình. Ông đã từng bán cả chiếc đồng hồ để bàn lấy tiền mua thơ của các nhà thơ cổ điển Pháp. Không chỉ là một con người lãng mạn, ông còn là người rất thực tế. Rất thích thể thao, văn học, đồng thời ông đã theo học cả ngành Luật, vì cho rằng chỉ có luật mới có thể góp phần đẩy nhanh quá trình văn minh dân tộc, quốc gia. Và, Trần Đăng đã toại nguyện. Sau cách mạng tháng Tám 1945, Trần Đăng làm việc ở văn phòng Bộ Nội Vụ, sau đó, ở Ban Liên kiểm Việt – Pháp. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trần Đăng về công tác ở văn phòng Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam. Từ năm 1948 Trần Đăng là phóng viên mặt trận của báo Vệ quốc quân

Bài viết đầu tiên ký tên Trần Đăng xuất hiện vào đầu năm 1946 là “Một lần tới Thủ đô”. Người thanh niên Hà Nội ấy trong tâm trí còn nguyên vẹn cái náo động dữ dội của những ngày tháng Tám lịch sử. Anh từ chối những hình ảnh, những cảnh tượng phù phiếm, trụy lạc đang cố sống lại dưới sự che chở, thúc đẩy của kẻ xâm lược. Ngược lại, sự yêu mến, hy vọng và tin tưởng - Trần Đăng đã đặt tất cả vào những người chiến sỹ còn in dấu vết rừng núi chiến khu, đó là những người con dân tộc đích thực. Bước đầu của Trần Đăng cầm bút cũng là lúc ông bước hẳn vào cách mạng và cầm bút – cầm súng kháng chiến.

Là phóng viên mặt trận, Trần Đăng sống cuộc sống chiến đấu của người chiến sỹ cách mạng. Nhà văn đã từng tham dự nhiều chiến dịch, có mặt trong những trận đánh ác liệt: Chiến dịch: Đông Bắc (1948), đường số 4 (1949), sông Thao (1949). Mùa đông năm 1949, vừa ở sông Thao về, viết vội vàng xong “Trận phố Ràng”, rồi đi Bắc Cạn viết “Người chính trị viên trong đề lao Bắc Kạn”. Sau đó, Trần Đăng lại lên đường đi vùng biên giới Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn, tham gia phát động chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng dân quân du kích, tiêu diệt quân quốc dân Đảng. Ngày 26 tháng 12 năm 1949, ông cùng một số cán bộ quân đội và nhà thơ Thôi Hữu trên đường từ bản Nà Lầu, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đi Ái Khẩu (Trung Quốc) thực hiện nhiệm vụ liên lạc với giải phóng quân Trung Hoa bàn kế hoạch phối hợp chiến đấu. Lần này, không may Trần Đăng đã bị sa vào tay giặc. Trần Đăng đã ngã xuống dưới làn đạn của quân thù, cùng chính trị viên tiểu đoàn Bùi Thịnh. Nhà văn mới 28 tuổi đời. Trong cuốn sổ tay, Trần Đăng đang ghi những trang bút ký cuối cùng với đầu đề là “Một cuộc chuẩn bị”. Những trang viết ấm áp, nhộn nhịp cảnh một đại đội xung kích sắp ra trận, từ anh cấp dưỡng, anh lính cầm mác đến những cán bộ chủ chốt chỉ huy.

Trần Đăng đi nhiều, viết khỏe. Ngoài những tác phẩm chủ yếu là bút ký, ghi chép, truyện ngắn, như “Một lần tới Thủ đô”, “Trận phố Ràng”, “Những ngày cuối năm”, “Một cuộc chuẩn bị”… ông còn có những bài viết tâm đắc về văn nghệ kháng chiến, văn nghệ quân đội. Đặc biệt, ông còn có những bài viết về bình luận quân sự sắc sảo, đi sâu vào lĩnh vực chuyên môn quân sự, dẫn luận định nghĩa về chiến tranh của Clao – dơ - vít (nhà lý luận quân sự Phổ), luận điểm chiến tranh của Lê Nin…. Ông đã thể hiện một luận điểm đúng về những bước phát triển của tổ chức quân đội. Những điều đó, ngay cả nhiều năm sau, không phải trong giới cán bộ quân sự ai cũng nhận ra. Những nhân chứng cái thời “chặt gọng kìm số 4”, mở thông vành đai biên giới với những chiến thắng vang dội Bông Lau, Lũng Phầy, Lũng Vài…cách đây gần 60 năm vẫn còn nguyên ký ức về phóng viên mặt trận và văn sỹ tài năng Trần Đăng.

Báo Vệ quốc quân số xuân 1950 với những dòng cáo phó về Trần Đăng: “… Anh Trần Đăng là người văn nghệ binh thứ nhất đã đổ máu ở chiến trường. Cây bút Trần Đăng đương đà sức mạnh, đương hứa hẹn rất nhiều triển vọng ở ngoài nhân dân cũng như trong quân đội. Sự thương tiếc anh thật lớn. Nó chan chứa trên tấm gương anh dũng trong trường hợp anh đã hi sinh”…Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã viết: “Đời Trần Đăng đã là tác phẩm và là bài học đẹp nhất”. Còn nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên báo Vệ quốc quân số xuân 1950 trong bài “Những bạn văn trẻ” đã viết: “Cái ngòi bút vừa lạnh vừa nồng nàn, vừa âm vang tiếng sắt thép mà đầm ấm tinh thần người vệ quốc quân hiên ngang, thực bộ đội, rất chính quy; tôi chưa được đọc ai như thế. Đăng tài nhận người, xét đoán việc với một cách nhìn thoáng, gọn và sắc. Đăng làm việc nhiều, sống mãnh liệt. Đăng là một thanh niên cộng sản. Các bút ký của Đăng cũng khỏe như cái chân đi của Đăng”.

Theo trung tướng Hùng Phong, người đã có nhiều kỷ niệm về các nhà văn, nhà thơ đi cùng bộ đội chiến đấu, thì Trần Đăng là một người lính một trăm phần trăm cả về tác phong, trang phục và hành động. Ông luôn luôn có mặt ở những chiến dịch lớn, trong đội hình của các đơn vị tiên phong. Ông không nề hà bất cứ một công việc gì ở đơn vị. Hành quân gấp trong hiểm nguy, đào hầm hố, kiếm củi, cõng gạo, tải đạn, thậm chí làm cả công việc binh vận, phiên dịch và khi cần là xông lên trực tiếp trong đội hình chiến đấu tiêu diệt địch… Những trang viết ông gửi từ mặt trận về hậu cứ thường được viết trên những chặng đường hành quân, sau một trận đánh. Trần Đăng hy sinh cách đây đã gần 60 năm, nhưng trong ký ức người thân và bạn bè, đồng nghiệp và đồng đội, hình ảnh ông vẫn nguyên vẹn một thuở nào. Kể từ khi ông vĩnh biệt khẩu súng và cây bút, tác phẩm của ông vẫn được chọn in trong các tuyển văn, ở vị trí những tác phẩm đứng ở đầu nguồn dòng văn học viết về đề tài chiến tranh và người lính cách mạng. Cuộc đời chiến đấu- cầm bút và gương hi sinh của ông vẫn được xem như một mẫu mực, một tiêu biểu cho lực lượng cầm bút mặc áo lính.

Phần mộ của Trần Đăng được đặt tại phía Bắc bản Nà Lầu, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn - kề sát đường biên giới Việt - Trung. Ngày 11 tháng 11 năm 1991, di hài ông được chuyển về quê hương, trong nghĩa trang liệt sĩ huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Thêm nhận xét


Mã kiểm tra
Làm mới

Bảng quảng cáo