Cứ mỗi lần nhắc đến chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ, là mọi người lại nhớ ngay đến bài hát: Chiến thắng Điện Biên. Cũng chính vì thế, không ai có thể quên nhạc sĩ Đỗ Nhuận, tác giả của ca khúc bất hủ ấy.
Nhà thơ Thanh Tịnh - người độc quyền trong vai giới thiệu các chương trình biểu diễn của các đoàn nghệ thuật tham gia Đại hội liên hoan Văn công toàn quân lần thứ nhất tại Việt Bắc cuối năm 1954 - bước ra nheo nheo đôi mắt nhìn xuống khán phòng, đôi môi nở nụ cười hóm hỉnh: "Tiết mục sau đây cấm khán giả cười, ai cười sẽ bị phạt thiệt nặng một… điếu thuốc lào!”. Thế là cả hội trường gần ngàn người reo vang núi rừng. Màn mở. Một hòn đá được nhân cách hoá: đầu đội khăn thợ mộc, mắt toét, mồm miệng loang lở phấn trắng pha chút hồng hồng kéo từ môi cho đến tận cằm. Một số diễn viên văn công Tổng cục dẫy nẩy lên hô: “Ơ ơ… anh Nhuận, anh Đỗ Nhuận!”. Tôi biết anh Đỗ Nhuận từ cái khoảnh khắc ấy, với một dáng hình rất không Đỗ Nhuận mà lại chính là Trưởng đoàn Tổng cục Đỗ Nhuận. Và như vậy, tôi lại càng tò mò, háo hức muốn gặp tận nơi xem Nhạc sĩ Đỗ Nhuận hình hài thật ngoài đời ra sao? Sáng hôm sau theo lịch hoạt động của Đại hội, tôi xin được dự cuộc trao đổi giữa các nhóm chuyên về sáng tác và biểu diễn chèo do Nhạc sỹ Đỗ Nhuận chủ trì.

Vượt qua mấy con suối lại mấy ngọn đồi mới tới lán của đoàn Tổng cục Chính trị. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận xuất hiện trước sự ngưỡng mộ của các diễn viên chuyên trách về chèo của văn công toàn quân. Anh Nhuận người hơi thấp, đậm, nước da tai tái của sốt rét rừng, nụ cười tủm tỉm rất hài, cởi mở, thân người chắc, khoẻ nhưng đầu hơi to. Mấy đứa tôi ngồi chen vào góc lán để dễ quan sát hình hài anh Nhuận. Lời đầu anh Nhuận bảo: "Thôi ta đi ngay vào đề khỏi mất thì giờ, có đồng chí nào cần hỏi gì về nguyên cớ ra đời của vở chèo Hòn Đá xin cứ nêu để ta cùng trao đổi?... Đồng chí Nguyễn Chiến, đoàn Đồng bằng 320, sốt sắng giơ tay: "Báo cáo thủ trưởng chúng em chỉ mong thủ trưởng dậy lại cho vở Hòn Đá để về xuôi phục vụ bộ đội và nhân dân bẩy tỉnh đồng bằng thôi ạ… Cứ thế, liên tục các ý kiến hỏi đủ chuyện. Tựu chung lại mọi người đều mong anh Nhuận nói chuyện về sáng tác Chèo?! Anh Nhuận: " Vâng tôi phát biểu cho nhanh nhá! Tôi nghĩ bây giờ muốn có tiết mục phục vụ kịp thời, phản ảnh nhanh nhậy cuộc sống của bộ đội ta, chỉ có dựa vào dân ca hò vè, kể cả hát xẩm cùng với chèo là nhanh, dễ làm. Các đồng chí thấy đấy, ngay bài Giải phóng Điện Biên tôi cũng dựa vào Chèo. Câu dạo đầu nhiều đồng chí tưởng lầm là tiếng kèn Bô Zích với trống cà rình. Không phải đâu, nói nguyên xi là chèo - Chèo một trăm phần trăm này nhá: "ấy mấy em nhớ ai kìa là ba bốn nhớ. Ấy ba bốn nhớ, chín mười chờ y ỳ..!! chẳng SẮP QUA CẦU là gì!?.." hoành tráng lại rất lính tráng nữa, ngờ đâu nó lại là trăm phần trăm là chèo. Trong chiến dịch Điện Biên hầu như đoàn nào cũng dựng: "Chiến thắng Điện Biên", "Chiến thắng Him Lan" và "Hành quân xa" kịp thời phục vụ Bộ đội và dân công. "Chiến thắng Him Lam" là tác phẩm gợi cho anh em làm múa rất có cớ để múa, nhất là hình ảnh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và nhịp hành khúc lại dễ làm múa theo nhịp đi dễ đều, không phải băn khoăn đếm nhịp. Những sáng tác của Đỗ Nhuận được biểu diễn ở đại hội này khá đậm nét. Đỗ Nhuận là tâm điểm để mọi người tìm đến xem dung nhan của anh. Nghe anh giải thích trao đổi về cung cách sáng tác, về quân đội. Khẩu hiệu hướng về Đại hội phục vụ chiến sỹ khai thác, vận dụng nghệ thuật dân tộc và được khuyến khích làm: BÌNH CŨ RƯỢU MỚI nghĩa là cứ việc lấy dân ca ra làm lời phù hợp với hoàn cảnh mới, cuộc sống mới. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận là người đã đi trước một bước về phương pháp này. Vở chèo "Hòn Đá" chỉ có hai nhân vật: Anh lính công binh và Hòn đá với nhiều làn điệu chèo và hề chèo là điển hình để các đoàn, các nghệ sĩ đoàn bạn phải noi theo.
Thời kỳ về tiếp quản Thủ đô tháng 10-1954 quân dân cả Hà Nội thuộc bài “Chiến thắng Điện Biên”, "Him Lam" và "Hành quân xa" của Đỗ Nhuận cùng với "Hò kéo pháo" của Hoàng Vân, phổ biến nhất là "Tiến về Hà Nội" của Văn Cao.
Trong công việc sáng tác, dàn dựng, anh Nhuận luôn quan tâm đến chức năng của một đoàn nghệ thuật quân đội phải có sức sống của quân đội, đặc trưng quân đội. Vấn đề lớn nhất là tính cách mạnh, lạc quan yêu đời. Sân khấu của đoàn quân đội không thể như một ngôi miếu vắng, lặng… Vì vậy anh đã để lại ấn tượng sâu sắc cho lớp kế tiếp phải chăm lo sáng tác, biểu diễn thật linh hoạt sôi nổi lạc quan nhưng không tếu. Anh Đỗ Nhuận có câu nói vui nhưng bao hàm một cách sống, cách biểu diễn: "Vừa khôi hài vừa nghiêm".
Năm 1957, trưởng đoàn Đỗ Nhuận dẫn đoàn đi dự Festival thanh niên - sinh viên thế giới lần thứ sáu tại Mạc - Tư - Khoa và thăm bốn nước: Triều Tiên, Mông Cổ - Liên Xô và Trung Quốc. Đó là chuyến đi mà chúng tôi có điều kiện gần gụi anh nhiều nhất. Bởi gần 6 tháng trời di chuyển toàn bằng xe lửa. Anh Nhuận kể cho chúng tôi hoàn cảnh ra đời của những bài ca mà anh đã sáng tác. Nói đến chuyện tù đầy, anh Nhuận tỏ ra thích thú chứ không như chúng tôi nghĩ là khổ cực nguy hiểm, anh Nhuận kể: Khi từ nhà tù Hoả lò Hà Nội lên Sơn La, anh được gặp toàn những nhà cách mạng lão thành như Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Trần Độ… Các anh ấy dậy cho mình lòng yêu nước, chí căm thù đế quốc thực dân, cũng từ đấy mình đã sáng tác chùm ca khúc: " Chiều tù, hậu Sơn La", Côn Đảo và "Du kích ca". Nếu nói bài ca đầu tay thì phải là "Trưng Nữ Vương". Có lần anh Trần Huy Liệu trêu mình: "Côn Đảo làm quái gì có cò mà cậu viết". Đúng ra là thế này. Từ Hoả Lò thì mình đi Sơn La còn mấy đồng chí với mức án cao hơn thì phải đi Côn Đảo, hôm ấy tiễn anh em đi, mình thương nhớ, quý trọng các anh ấy mà viết "Côn Đảo" thôi.
Đỗ Nhuận với 9 năm kháng chiến thì anh sáng tác khá nhiều. Nổi nhất vẫn là "Du kích sông Thao"! giai đoạn trước khi kết thúc cuộc kháng chiến là anh dẫn quân đi Điện Biên Phủ. Qua một câu nói rất thản nhiên của một chiến sỹ; "Thắc mắc mà làm gì? Đâu có giặc là ta cứ đi!”, Đỗ Nhuận đã ghi ngay ra một bài ca "Hành quân xa". Rồi Him Lam, có người anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai đã là hình tượng để nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm nên một bài ca không thể quên! Với các nghệ sĩ múa thì nơi nơi tái hiện cảnh Phan Đình Giót trườn lên lấp lỗ châu mai để đồng đội xông lên chiếm Him Lam, mở đường cho chiến dịch giải phóng Điện Biên. Cũng nhờ có lời gợi ý của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: "Đỗ Nhuận sáng tác dần bài chiến thắn Điện Biên đi thì vừa!" mà anh đã kịp thời có bài hát “Chiến thắng Điện Biên”.
Ngày 10-10-1954, ngày giải phóng Thủ đô, nhân dân hân hoan hát "Chiến thắng Điện Biên", "Hành quân xa" cùng với "Hò kéo pháo" và "Tiến về Thủ đô" của Văn Cao.
Đỗ Nhuận là nhạc sĩ điển hình về sử dụng chất liệu dân ca, nhạc cổ để sáng tác ca khúc mới: "Chiến thắng Điện Biên" đã tỏ rõ điều đó. Đoạn dạo nhạc mở đầu không chỉ là dùng chất liệu mà anh đã sử dụng nguyên xi đoạn chèo SẮP QUA CẦU - chỉ có người rành Chèo mới biết "ơi mới em nhớ ai kìa là ba bốn nhớ, ấy mấy ba bốn nhớ chín mười chờ…"
Khi bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc anh đã tổ chức nhóm sáng tác đến thâm nhập thực tế để sáng tác kịp thời phục vụ đơn vị. Sau một thời gian ngắn, nhóm đã sáng tác được những tác phẩm có nhiều tình tiết thực tế đúng với tâm tư tính cách của các chiến sĩ miền Nam. Bài hát dựng cho tốp nam, anh đã sử dụng chất liệu "Đèn cù" để diễn tả buổi tập bắn đạn thật của anh em: Có anh bắn trúng điểm mười, có anh cho nó lên giời tìm khỉ.. Bài Bộ đội tăng gia trồng khoai do tốp nữ biểu diễn. Cô giới thiệu vào cỡ hơi… đậm đà, giới thiệu kiêm luôn diễn viên hát. Đoạn giữa thay cho dạo nhạc, anh cho điểm một câu ca dao do chính cô gái "đậm đà" lĩnh xướng "Mong cho khoai béo khoai tròn/ Để anh bộ đội mang đòn tới khiêng" Thế là bộ đội sung sướng cười vang - vỗ tay không ngớt… Trong sáng tác cũng như chỉ đạo nghệ thuật, anh Nhuận luôn chú ý đến tâm lý, đối tượng xem biểu diễn, không bao giờ anh để chương trình xuôi đi một chiều mà phải có vui, có buồn, có cảm động, có hưng phấn đối xứng nhau. Anh Nhuận có một câu châm ngôn: "Vừa khôi hài vừa nghiêm".
Ngẫm lại, toàn bộ sáng tác của anh Nhuận thật là đồ sộ! Phong phú, đa dạng cả về nội dung và hình thức nghệ thuật: Miêu tả trọn vẹn cuộc sống của nhân dân, của quân đội; Thấu đáo năm cảm quan của con người: có yêu, ghét, buồn, vui và phẫn nộ. Những "Chiều tù", "Hậu Sơn La", "Côn Đảo" đã truyền nỗi đau thấu xương thịt người nghe; "Nhớ chiến khu", "Áo mùa đông" đủ thấy tình nhớ thương da diết của đồng bào đồng chí trong cuộc đấu tranh giành độc lập. "Du kích ca", "Hành quân xa", "Chiến thắng Điện Biên" đầy khí phách anh hùng cách mạng. Trong chiến đấu vô cùng ác liệt, người ở xa, người nước ngoài nhìn đất nước Việt Nam, trước cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ không tưởng tượng được nơi ấy lại có một cuộc sống tự tin và đầy lạc quan như đã đượcthể hiện qua "Hát mừng các cụ dân quân", "Vui mở đường", "Đèn cù… Bản trường ca "Du kích Sông Thao" cũng trở thành điểm tựa cho những thí sinh so tài trong những cuộc liên hoan và thi thố giành thứ hạng trong ca hát.. Trên con đường Mạc- Tư- Khoa về Hà Nội, có biết bao nhiêu nhạc sĩ cũng đã đi qua nhưng không nghĩ ra, không có cảm xúc hoặc đã viết nhưng chưa thành công, riêng nhạc sĩ Đỗ Nhuận lại ghi được hình ảnh hoà bình, tươi đẹp - hạnh phúc của đất nước Việt Nam - "Việt Nam quê hương tôi".
Trong sáng tác, Đỗ Nhuận có độ phản xạ rất nhậy, ở bất cứ hoàn cảnh nào, tình tiết gì anh cũng tìm ra được những yếu tố làm nên tác phẩm âm nhạc. Tuỳ theo nội dung mà tìm hình để thể hiện bằng ca khúc; bằng ca kịch v.v…
Nếu ca khúc đầu tay của anh là "Trưng Vương" thì "Sóng cả không ngả tay chèo" là vở nhạc kịch đầu tiên của anh để sau này anh cho ra đời vở nhạc kịch “Cô Sao” đến bây giờ vẫn làm rung động khán giả. Có thể nói Nhạc sĩ Đỗ Nhuận là người đầu tiên đặt nền móng cho Nhạc kịch cách mạng Việt Nam! Và chính anh cũng là người đầu tiên đứng ra thành lập đoàn văn công Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau những năm làm trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, anh được nhận nhiệm vụ làm Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Chúng tôi nhớ anh Nhuận - người thầy về sáng tác, về dàn dựng - chỉ đạo nghệ thuật. Anh để lại dấu ấn không thể phai mờ - không thể nào quên trong lòng chúng tôi. Mỗi lần đến thăm anh ở 51 Trần Hưng Đạo, tôi lại được anh "Khao" những chuyện cười và "bồi dưỡng" một điếu… thuốc lào. Lại rung rung đôi môi và cười chỉ hở hàm răng dưới rất… Đỗ Nhuận. Một lần đến thăm anh, cũng định "lập công" với anh: "Ngày mai em qua MÁT, bác có gửi gì cho Quân, em "cõng” giùm? Anh Nhuận tay vê thuốc lào, mắt nhìn lõ điếu:
- Ừ, sẽ gửi một cuốn "Sửa đổi lối làm việc" của Bác Hồ!.
Cuối năm tám mươi, anh Nhuận ngả bệnh, anh cho cháu Thao nhắn tôi, đến anh nhờ một việc! Đến 65 Nguyễn Thái Học, tôi không ngờ, bệnh tật ùa đến bủa vây anh nhanh chóng và đau đớn đến thế!... Theo yêu cầu, tôi bấm huyệt, nhưng chỉ an ủi trong lúc đau thôi, chứ rời tay day day ra là anh lại đau… Thương anh quá, tôi bàn với Đỗ Hồng Quân nên đưa bố đi địa chỉ chữa tâm linh, đã có nhiều người khỏi. Ca sĩ Lê Thanh Bảo đã chứng kiến nhiều người chữa ở đấy và đã khỏi hẳn. Quân nhất trí đưa bố Nhuận đi ngay. Khi vào địa điểm chữa bệnh phải lội bộ mấy bước đường ruộng trơn, Quân phải cõng bố Nhuận. Khi trở ra thì anh Nhuận đã cố tự đi được, anh mừng lắm. Quân và chúng tôi mừng rỡ về nhà được vài hôm thì "tiếng lành đồn xa". Nhiều người tò mò đến nhiều quá, làm anh Nhuận thêm mệt và cả gia đình quá bức xúc!! Tuy nhiên việc gì đến nó cũng phải đến…
Nhớ anh Nhuận - người Nhạc sĩ tài hoa - người lãnh đạo hết lòng vì đồng đội, bạn bè. Đặc biệt đối với cấp dưới, Nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ!


