Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

110 năm ngày mất Trần Tế Xương (1870 – 1907)

Vương Quốc Hoa | Thứ Hai, 20/02/2017 13:30 GMT +7

 Trần Tế Xương (1870 – 1907) người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (ngày nay thuộc phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, đi học sớm, đi thi sớm, nhưng lại quá lận đận về đường thi cử. Trong cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của ông, với 8 lần lều chõng đi thi mà chỉ đỗ Tú tài, nên người đời thường gọi ông là Tú Xương. Mặc dù vậy, ông đã đế lại cho đời sau một tài sản tinh thần vô giá, gồm nhiều thể loại khác nhau: Thơ ca, câu đối, phú. Trong đó có đến 3/5 tác phẩm của ông được viết theo thể thơ Đường luật.

Trần Tế Xương sinh ngày 5 – 9 năm Canh Ngọ 1870, hiệu là Vị Thành, lúc còn trẻ họ tên đầy đủ là Trần Duy Uyên, đến khi thi Hương năm 15 tuổi mới đổi tên là Trần Tế Xương, tự Mạc Trai, hiệu Mộng Tích. Trần Tế Xương là con trai trưởng của nhà nho Trần Duy Thuận.  Lần đầu tiên Trần Tế Xương đi thi bị đánh trượt, năm 16 tuổi, ông lấy vợ. Năm 17 tuổi ông bắt đầu lều chõng đi thi, đến năm Giáp Ngọ 1894, lúc đó ông 24 tuổi và đỗ Tú Tài (tương đương với THPT ngày nay), như vậy phải trải qua 8 lần thi Hương Trần Tế Xương mới đỗ Tú Tài.

Cũng trong năm Giáp Ngọ 1894, nhà ông bị cháy, sau đó bố ông mới xây lại, về sau mẹ ông buôn bán thua lỗ, mới đem cầm ngôi nhà này cho mụ Hai An (mụ này chuyên cho vay nặng lãi). Lãi mẹ đẻ lãi con, cuối cùng không trả được nợ, nên bị mụ Hai An xiết nhà. Sau khi “nhà cửa giao canh nợ phải bồi” thì bố và các em Trần Tế Xương phải ở nhờ nhà ông Trần Đăng Chu ở làng Đệ Tứ, còn vợ chồng Trần Tế Xương thì dọn về nhà số 280 phố Hàng Nâu (ngày nay là phố Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Nam Định) ngôi nhà này là nhà của bà Hai Sửu, mẹ vợ của Trần Tế Xương, và  bà Hai Sửu cho vợ chồng Trần Tế Xương ngôi nhà này coi như là của hồi môn cho con gái.

Nhà nghèo, sống bình dị, nhưng Trần Tế Xương vẫn giàu lòng yêu nước, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn, bà Mẫn sinh cho ông 8 người con, những năm tháng làm vợ của một nhà nho nghèo bất đắc chí, bà cũng trải qua nhiều sóng gió. Bản thân Trần Tế Xương sau nhiều lần thi trượt, ông đâm ra chán nản: Mọi việc văn chương thôi cũng nản/Trăm năm thân thể có ra gì!

Chán nản, ông bèn ăn chơi phóng túng, chơi bời kiểu Trần Tế Xương thì cũng thuộc loại “cao thủ” như ông đã từng tự hào: Bài bạc cờ cao nhất xứ/Rượu chè trai gái đủ tam khoanh. Bà Phạm Thị Mẫn nhiều lần khuyên can chồng hết nước mắt, nhưng rồi ông vẫn chứng nào tật nấy, bà dọa tự tử, chính vì vậy ông mới có bài văn tế sống vợ để làm lành với những câu giễu cợt: Duyên trăm năm ông nguyệt se tơ/ kiếp nàng đã lỡ. Thực ra thì Trần Tế Xương rất thương vợ, và thủy chung hết mực. Vợ ông đã một mình gánh vác lo toan nuôi cho ông 8 người con (gồm 6 người con trai, 2 người con gái).

Với vợ mình, Trần Tế Xương đã có những bài thơ hay nhất về tình nghĩa vợ chồng, và bà Phạm Thị Mẫn qua thơ ông, đã trở thành mẫu mực của các đức tính mà phụ nữ tự hào có được. Còn Trần Tế Xương thì tự hào mình sướng như quan, nhưng hỏi ra: “Quan ấy ăn lương vợ”. Tính cách của bà Phạm Thị Mẫn có thể thấy được trong bài thơ Tết dán câu đối dí dỏm và cảm động của đôi vợ chồng nghèo. Ngày tết ông viết câu đối dán lên cột nhà hỏi ý kiến vợ, bà Tú hóm hỉnh đáp:

Rằng hay thì thật là hay

Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài

Chịu cái tài hay chữ, lẫn cái tài chơi ngông của chồng, nghe ra đôn hậu lắm, và bằng tình yêu thủy chung lẫn tài năng của mình, Trần Tế Xương đã tạc chân dung của vợ mình vào nền thi ca Việt Nam bằng tuyệt bút qua bài thơ Thương Vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Cái hình ảnh “võng anh đi trước võng nàng theo sau” là một ấn tượng đẹp đẽ khắc sâu trong tâm thức của các chàng “bạch sỹ” từ tuổi hoa niên cho đến lúc đầu bạc, mà cũng luôn sống đẹp trong lòng dân tộc Việt Nam. Những người vợ hiền tần tảo như bà Tú đã nhiều lần chờ đợi suốt thời gian chồng “nấu sử sôi kinh”, nhưng cuối cùng bà Tú đã không được đền bù xứng đáng, bởi vì Trần Tế Xương luôn thi trượt. Sau ngày xem bảng, trở về nhà thật ê chề trước mặt bà Tú, nhưng bà Tú vẫn thường xuyên an ủi cho ông.

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, riêng phần “lạc đệ” (thi hỏng) thì Trần Tế Xương là một nhân vật hy hữu, suốt đời ngụp lặn trong trường văn bút với “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”. Cuối cùng nhà thơ như trối lại với vợ con:

Mai không tên tớ tớ đi ngay

Cúng giỗ từ đấy nhớ lấy ngày

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín

Thi không ngậm ớt thế mà cay

Sách đèn phó mặc đàn con trẻ

Thưng đấu nhờ tay một mẹ mày

Cống hỷ, mét xì đây thuộc cả

Không sang Tàu tớ cũng sang Tây.

Đây cũng là bài học cho học trò thuở xưa và có thể gần đây để kẻ “bạch sỹ” chiêm nghiệm về thực học của mình.

Với Trần Tế Xương, ông được coi là một trong những bặc thầy của văn chương trào phúng Việt Nam. Trào phúng của Trần Tế Xương có nhiều cung bậc, có chỗ bộc trực và gay gắt. Một loạt con người và sự việc trở thành đối tượng châm biếm đả kích của thơ ông. Trần Tế Xương đã thất bại trong cuộc đời một nho sỹ kiểu truyền thống, nhưng ở vào một tài năng như ông, đã tạo ra những biến đổi quan trọng trong văn chương nhà nho ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu những năm của thế kỷ XX.

Ngày 29 – 1 năm Đinh Mùi 1907, Trần Tế Xương về ăn giỗ ở quê ngoại, dọc đường mưa rét, ông bị cảm lạnh và đột ngột qua đời, hưởng dương được 37 tuổi. Ông nhiều lần thi đậu tú tài, cho nên sau khi ông mất, người đời thường gọi ông là Tú Xương.

Kể từ ngày Tú Xương mất tính đến nay cũng đã được 110 năm, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn còn mãi với dân tộc, với non sông đất nước. Ông có rất nhiều bài thơ nói về bản thân mình rất xót xa, nhưng chính những bài thơ ấy không phải nói về mình mà quan trọng hơn là đã xây dựng và khắc họa đậm nét hình tượng một nhân vật điển hình của thời đại ông đang sống. Đó là một nhân vật có tâm hồn cao đẹp, có lòng yêu nước thương dân. Ông chính là một tài năng lớn, một nhân cách lớn, nhưng tiếc thay ông sống trong một xã hội đen tối, nên không tài nào phát huy hết được tài năng và nhân cách.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}