Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn nghệ sỹ:

 

Hoàng Hữu Đản, nhà văn hóa tầm vóc quốc tế

Kiều Văn | Thứ Tư, 09/10/2013 03:43 GMT +7
(Văn Hiến) - Cái lẽ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” đã đặc biệt ứng nghiệm vào trường hợp gặp gỡ giữa tôi và nhà văn hoá lão thành Hoàng Hữu Đản.
JPEG - 32.6 kb

 

Một ngày vào năm 1997, tôi đang có mặt ở một toà báo thì bất ngờ trông thấy ông. Nhìn dáng người cao gầy như một cây lão và gương mặt hiền hậu, tôi có ngay cảm tưởng ông thuộc mẫu cao nhã văn nhân. Tôi vẫn biết những con người uyên thâm thường lặng lẽ giấu mình giữa một đám đông, chính vì vậy tôi chủ động bước lại chào ông:
— Chào bác Đản, em nghe danh bác đã lâu nhưng mãi hôm nay mới có dịp được hân hạnh gặp bác.

Một nụ cười đôn hậu nở trên môi ông với một lời đáp nghe êm nhẹ như một làn gió thoảng và một cái nhìn đầy thiện cảm. Trong chớp mắt tôi linh cảm thấy đây không phải là cuộc gặp gỡ xã giao mà là một cuộc gặp gỡ định mệnh. Hình như từ lâu rồi trong tiềm thức tôi vẫn hằng ước mơ được gặp một mẫu người hiền nhân - trí tuệ như ông, hao hao giống sư phụ Vũ Ngọc Lung của tôi, thuộc vào bậc cha anh của tôi và hoàn toàn không dễ kiếm trong cái cuộc đời xô bồ này. Tôi có một cá tính: ít khi chủ động đi tìm kiếm những nhân vật nổi danh hoặc những người đẹp lẫy lừng. Tôi thích những sự gặp gỡ tình cờ hơn. Và đôi khi vận mệnh đã bất ngờ ban tặng cho tôi những món quà vô giá mà cuộc gặp gỡ với ông Hoàng Hữu Đản là một trường hợp tiêu biểu. Sau này khi đã trở nên thân thiết, ông thường nói với tôi về một trải nghiệm riêng của ông:
— Trong cuộc gặp đầu tiên với ai đó, nếu tôi cảm thấy có thiện cảm ngay với người ấy thì mối quan hệ ấy sẽ phát triển tốt đẹp; ngược lại nếu tôi cảm thấy không có thiện cảm thì mối quan hệ ấy sẽ không thành.

Mấy phút ngắn ngủi ở toà báo đã tạo nên ấn tượng tốt đẹp ở cả tôi và ông mặc dù lúc ấy tôi đã biết ông là một dịch giả Pháp văn hàng đầu, còn tôi là một số không trong đầu ông.

Chúng tôi chia tay và tôi hẹn sẽ đến thăm ông.

Một buổi sáng tôi tìm đến ông ở phố Tôn Thất Tùng. Sau khi nhấn chuông, tôi hồi hộp đứng đợi. Lát sau tôi nghe một tiếng đáp khe khẽ từ trên cao vọng xuống. Tôi ngửng nhìn và thấy trên một tầng lầu chót vót mái đầu bạc của ông ló ra và ngó xuống. Tôi giật mình: một bậc lão niên đã xấp xỉ bát tuần nhưng còn hăng hái hoạt động xã hội mà ở tít trên cao như vậy trong một chung cư cũ kĩ không có thang máy thì gay go biết chừng nào! Khổ thân ông, vì có khách ông phải tự mình đi bộ xuống cầu thang suốt bốn tầng lầu và ra mở cổng đón tôi. Rồi cùng tôi ông lại phải làm một cuộc leo thang không khác gì leo núi để trở lên phòng ở của ông. Tôi kém ông những 22 tuổi mà cũng thấy thấm mệt sau cuộc leo núi ấy. “Chao ôi, vài năm nữa khi ông già yếu hơn, chắc chắn ông sẽ bị tù hãm vĩnh viễn trên cái tổ bồ cu này của ông! Một đại trí thức lão thành của đất nước mà phải sống một đời sống khổ cực như thế ư? Lí Bạch nói mới đúng làm sao: “Châu ngọc mãi ca tiếu, tao khang dưỡng hiền tài.” – tôi thầm kêu lên như vậy trong nỗi lo lắng và xót xa. Trước đây tôi kính trọng ông bao nhiêu thì hôm nay tôi cảm thương ông bấy nhiêu. Nhưng tôi rất ngạc nhiên thấy ông không tỏ ra một chút phàn nàn. Tôi chưa biết rằng ông là con người có đức “nhẫn” đến phi thường: tự bao giờ rồi ông đã bằng lòng chấp nhận cảnh sống cơ cực, và ông sẵn sàng sống như thế đến hết đời!

Sáng hôm ấy tôi xin ông cho tôi được chiêm ngưỡng những công trình dịch thuật và sáng tác mà ông đã và đang làm. Mắt tôi hoa lên trước đống tài liệu khổng lồ gồm những bản thảo dịch thuật các tác phẩm kinh điển và những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các tác gia lớn Phương Tây như Homère, Aristote, Horace, Eschyle, Sophocle, Euripide, Aristophane, Racine, Corneille, La Fontaine, Victor Hugo, Flaubert… Tôi không khỏi cảm thấy rúng sợ trước một người già cả và kì vĩ với tài năng sung mãn và sức làm việc phi thường, và trong thâm tâm tôi tự thừa nhận rằng mình không bao giờ làm nổi một phần nhỏ của những công trình vĩ đại ấy. Ông Đản đâu biết rằng người khách đến thăm ông là một kẻ suốt mấy chục năm qua đã thèm khát, thậm chí có lúc đã tuyệt vọng nghĩ rằng có lẽ đến chết mình cũng không được thưởng thức hương vị những tác phẩm bất hủ từ mấy nghìn năm của nhân loại ấy.

Ngay trong cuộc đàm đạo đầu tiên, tôi và ông có chung một nhận định rằng Việt Nam là đất nước có một nền văn chương (bình dân và bác học) lâu đời và phong phú. Những tinh hoa của nó – ca dao, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, thơ Hồ Xuân Hương - là những điển hình, hoàn toàn có thể đối thoại được với thế giới bên ngoài. Thế nhưng từ lâu nay hầu như chỉ những tác phẩm của một số người có máu mặt trong xã hội mới được dịch giới thiệu ra nước ngoài. Vì vậy mà thế giới biết rất ít về nền văn chương Việt Nam. Từ mấy chục năm trước, ông Đản đã nhận thấy rõ vấn đề đó, đã nhận thức được trách nhiệm của một nhà văn am tường tiếng Pháp, và ông đã thực hiện được một phần đáng kể. Tôi sửng sốt khi nghe ông phi lộ rằng ngay sau khi tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh ra đời, ông đã tức khắc dịch ra Pháp văn và gửi sang Pháp để giới thiệu. Nhưng sau đó, trong khi bản dịch công phu của ông bị chìm mất tăm mất tích không một lời hồi đáp, thì một Việt kiều tại Pháp (chỉ trời mới biết có lợi dụng ý tưởng và bản dịch của ông hay không) cũng dịch… cuốn tiểu thuyết đó và xuất bản...

Ít hôm sau, để cung cấp tài liệu thơ Việt Nam cho ông, tôi mang đến tặng ông 20 cuốn thơ của bộ “Thi ca Việt Nam chọn lọc” do tôi biên soạn và vừa in xong. Ông rất vui mừng và nói:
— Tán thành gợi ý của Kiều Văn, tôi đã bắt tay vào dịch sang tiếng Pháp những câu ca dao và những bài thơ tiêu biểu nhất của nền thơ Việt Nam hiện đại. Chúng ta rất giống nhau về suy nghĩ: hai nhà thơ đầu tiên tôi nghĩ tới và quyết định dịch nhiều hơn cả chính là Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính! Anh là một nhà thơ, vậy anh hãy chọn một bài anh tâm đắc đưa tôi xem, nếu có thể tôi sẽ dịch và giới thiệu trong tuyển thơ này.

Tôi bèn chọn ngay bài “Chàng khổng lồ” trong tuyển thơ “Khoảnh đời huyền thoại” của tôi xuất bản năm 1996. Ông đọc và nhận xét:
— Anh chọn bài này là phải, bởi nó là thơ Việt Nam nhưng ít nhiều đã hòa nhập được với nền thơ chung của thế giới khiến ai cũng có thể cảm nhận được. Những bài thơ mang sắc thái quá riêng biệt của một dân tộc nào đó thường rất khó dịch.
— Bác nhận xét rất đúng: về thơ, em chủ trương không lặp lại các dòng thơ truyền thống như ca dao, thơ lục bát, thơ Nôm, thơ Đường luật, Thơ Mới, nhất là thứ thơ dùng từ ngữ cầu kì thậm chí dị hợm đang xuất hiện nhan nhản ở khắp nơi. Bởi những dòng thơ ấy giống như những bông hoa đã nở hết độ của nó rồi. Em muốn sáng tạo một dòng thơ đặc trưng của thời đại mới mà người ta không thể lầm lẫn nó với bất kì một dòng thơ nào khác. Nó nhằm tới mục tiêu không chỉ thỏa mãn thị hiếu thơ của người Việt Nam mà còn của tất cả mọi người trên trái đất. Thứ thơ đó là sự hoà quyện chặt chẽ của tình cảm, lí trí, đặc biệt là tầm nhìn thời đại, và cả bản sắc riêng biệt của mỗi nhà thơ nữa. Tại sao em muốn nhấn mạnh hai vấn đề “tầm nhìn thời đại” và “bản sắc riêng” của nhà thơ? Bởi vì một nhà thơ không hiểu thấu suốt về thời đại mình thì khác gì một kẻ mù lòa, và thứ thơ trong đó không thấy chút hơi hám nào của con người tác giả thì khác gì thơ đi mượn?
— Ôi! Nếu sáng tạo được một thứ thơ như thế thì chính là góp phần khai thông một con đường mới mẻ cho thơ và là một cú hích đối với những thứ thơ quẩn quanh bế tắc mà từ lâu nay tôi thấy xuất hiện rất nhiều.
— Thưa bác, em tin vào chủ trương đó của em. Nhưng em phải công tâm mà nói rằng, ngay từ nửa cuối thế kỉ XIX đã có những nhà thơ tài năng tiên phong phát quang một lối đi khá đắc sách cho thơ Việt Nam đương đại. Một gương mặt đáng kính trong số đó là một bậc đàn anh: Trần Dần. Và một thiên tài thơ thuộc trang lứa của em (ít hơn em vài tuổi): Lưu Quang Vũ, một nhà thơ thật sự có tầm vóc về tư tưởng và nhân văn. Anh đã viết những bài thơ hàm súc, ứa máu với một nghệ thuật tuyệt đỉnh. Chẳng hạn: “Tàu chạy ngược chiều đêm, em thiếp ngủ, Bánh sắt ầm ầm bão lốc lao đi.”; “Tàu lửa bay vụt sáng cánh đồng khuya, Đất quằn quại, đá nghiến răng vỡ nát.”; “Lão ăn mày mù thổi sáo, Điệu gọi hồn âm u.”; “Người ta định làm gì Người nữa, Việt Nam ơi? Mấy mươi năm đã mấy lớp người, Chia lìa gục ngã, Đã tận cùng nỗi khổ… Nghĩ đến Người lòng tôi rách nát, Xin người đừng trách giận Việt Nam ơi!”. “Xứ đau thương vò xé trái tim người, Voi mất ngà suốt đêm thâu gào rống, Trai mất ngọc xót xa lòng biển thẳm.”. Bác Đản ạ, em trộm nghĩ chỉ những thi nhân có diễm phúc là “giang sơn chung tú khí” họa chăng mới có thể theo kịp được lối thơ siêu đẳng ấy.
— Đúng, thơ mà anh vừa đọc cho tôi nghe là một thứ thơ huyết lệ, đích thực, cùng đẳng với thơ Hàn Mặc Tử. Nó tuyệt hay và xoáy mạnh vào tâm não con người, đánh thức người ta dậy và để lại những ấn tượng sâu đậm. Điều đáng nói là tuy nó vẫn rất Việt Nam nhưng lại đạt tới tầm cao của thi ca nhân loại – ông Đản xác nhận.

Từ lâu tôi đã đúc kết được cho mình một kinh nghiệm: mọi thành quả trong cuộc đời tôi đều khởi đầu từ sự gặp gỡ với một người nào đó. Trước đây khi tôi còn là một thanh niên trẻ, đó là sự gặp gỡ với nho y Vũ Ngọc Lung. Với ông Đản cũng vậy: chỉ sau một hai năm xây dựng tình bạn vong niên với ông, “Chàng khổng lồ” là bài thơ đầu tiên của tôi đã được ông dịch sang thơ Pháp và in trong tuyển tập thơ Việt Nam bằng song ngữ “Ánh trăng – Clair de lune”. Đó là một cái mốc đáng ghi nhớ trên con đường thơ của tôi và là niềm hạnh phúc lớn đối với tôi, một kẻ vì hoàn cảnh lận đận mà quá chậm chân đến với thi đàn. Nhưng tôi còn hạnh phúc hơn: hôm tập thơ được công bố tại cuộc họp của Hội Pháp ngữ (Francophonie), bà Marie-Martine Wilson (trợ thủ của ông Đản) sau khi đọc bằng tiếng Pháp bài thơ đó đã phát biểu trước cử toạ:
— Bài thơ Le Géant (Chàng khổng lồ) bằng cả ý tưởng và nghệ thuật, đã làm sang trọng cho tập thơ Clair de lune.

Phải chăng việc bà Wilson có biệt nhãn với riêng bài thơ ấy đã chứng tỏ rằng khuynh hướng thơ đặc thù mà tôi lựa chọn không đến nỗi sai lầm? Nhận định của bà không làm tôi ngạc nhiên nhưng đó vẫn thật sự là một phần thưởng ngoài mong đợi: lần đầu tiên trong đời tôi, một bài thơ được viết giữa lúc tôi đang thất cơ lơ vận, qua bản dịch tiếng Pháp đã bất ngờ được tán thưởng bởi một trí thức Phương Tây am hiểu về thơ ca.

Nhân đây xin bạn đọc hãy thưởng thức bài thơ ấy cùng bản dịch của ông Hoàng Hữu Đản:

CHÀNG KHỔNG LỒ
 
Tầm mắt trông ngang những đỉnh núi chói vàng
Chàng khổng lồ đang đứng
giữa khung trời lồng lộng.
Vờn mái tóc chàng
Những áng mây lả lướt bay qua
Những áng mây rực màu ngũ sắc.
Dưới đám mây đen chở đầy sấm sét
Một chim ưng sải cánh uy phong.
Chàng phóng mắt nhìn xa tít tắp
Những chóp núi chọc trời
Như những kim tự tháp
mọc trên mồ của các vĩ nhân.
Một dải sông lấp lánh như băng
Dưới chân trời
vắt sang biển cả
mịn màng màu xanh êm ả…
Chàng nhìn thấu hết và lặng lẽ mỉm cười…
Rồi cúi đầu tư lự một giây
Mắt chàng bỗng nhận ra:
Bàn chân mình cắm sâu trong bùn đất!
 
Hải Phòng 1967
 
LE GÉANT
 
Le regard fixé sur des pics dorés de lumière
Le Géant est là, debout
Au milieu du ciel infiniment beau.
Caressant son immense chevelure
Les nuages s’écoulent, s’écoulent nonchalamment
Des nuages bariolés, éclatants, multicolores…
Et sous ces nuages c-hargés d’éclairs et de tonnerre
Un grand épervier bat des ailes, majestueusement…
Il lance son regard sur l’horizon lointain
Les sommets des montagnes grattent le ciel
au niveau des pyramides
Au-dessus des tombeaux des grands hommes
de tous les siècles.
Un fleuve calme scintillant comme un iceberg
Enjambe l’horizon, rejoint l’océan bleu et paisible.
Il voit tout; il sourit en son âme silencieuse
Puis, la tête pensive, il réfléchit un instant:
De ses propres yeux il s’aperçoit soudain
Que ses pieds sont solidement plantés
sur une terre boueuse.

Có một điều hoàn toàn khẳng định: trong sự nghiệp văn hóa, ông Hoàng Hữu Đản là một trong số rất ít những người đạt được thành quả rực rỡ cả trên cả hai lĩnh vực dịch thuật (văn chương, tư tưởng) và sáng tác văn học (nổi bật nhất là kịch nói).

Ông là một dịch giả hàng đầu ở Việt Nam đã dịch rất thành công rất nhiều tác phẩm văn học theo cả hai chiều ngôn ngữ Pháp - Việt và Việt - Pháp. Tuy nhiên tài năng lớn và sự lao động không mệt mỏi vẫn chưa đủ để làm nên một nhà văn hoá có tầm vóc như ông. Tôi đặc biệt kính trọng và ngưỡng mộ ông ở cái cao vọng muốn mang hết khả năng và tâm huyết của mình đóng góp vào công cuộc xây dựng một nền văn hóa toàn bích của dân tộc. Ông đã kế tục tinh thần và sự nghiệp cao đẹp của các nhà văn hoá am tường Tây học thuộc thế kỉ trước ông như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kí, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Ông có mặt trong hàng ngũ những nhà văn hóa xuất sắc thời hiện đại như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện, Đỗ Đức Hiểu, nhóm Lê Quý Đôn, Xuân Diệu, Nguyên Ngọc, Thái Bá Tân, Hoàng Thuý Toàn, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Huỳnh Điệp… Bằng sự nỗ lực phi thường, trong mấy chục năm trời, bên cạnh công việc của một nhà giáo, ông đã biên dịch tới 50 cuốn sách với mục đích chuyển tải về cho đồng bào của ông, cho các nhà trường, các nhà giáo, các sinh viên và học sinh… những thành tựu tư tưởng và văn chương tiêu biểu của nền văn hoá Phương Tây vĩ đại. Đồng thời ông có cả một kế hoạch dịch tiểu thuyết và thơ Việt Nam ra tiếng Pháp để giới thiệu với thế giới.

Trong tuyển tập thơ song ngữ “Ánh trăng – Clair de lune”, người đọc hết sức hoan hỉ nhận thấy có những bài thơ Việt Nam nổi tiếng đã được ông tuyển dịch, như “Người ở đừng về” (dân ca Quan họ Bắc Ninh), “Thơ và rượu” (Tản Đà), “Phong cảnh Hương Sơn” (Chu Mạnh Trinh), “Đây thôn Vĩ Dạ”, “Mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử), “Lỡ bước sang ngang”, “Cô lái đò”, “Chân quê” (Nguyễn Bính), “Tiếng thu” (Lưu Trọng Lư), “Nhớ rừng” (Thế Lữ), “Ông đồ” (Vũ Đình Liên), “Mùa đông” (Nam Trân), “Trưng nữ vương” (Ngân Giang), “Hôn” (Phùng Quán), “Thuyền và biển” (Xuân Quỳnh), “Người mẫu” (Dư Thị Hoàn), “Trăng ơi từ đâu đến?” (Trần Đăng Khoa)… Thật hiếm có tập thơ nào được tuyển dịch một cách công tâm, có nội dung khá phong phú, mang tính văn chương đích thực, và có chất lượng cao như thế.

Tôi xin trích dẫn một vài bài thơ mà ông Hoàng Hữu Đản đã dịch để bạn đọc thưởng thức:

Reste, ne pars pas!
(Chanson populaire “Quan họ Bắc Ninh”)
 
Tu pars, je pleure toute seule en silence
Les larmes mouillent les deux pans de mon habit
Comme des gouttes de pluie tombant en abondance,
Ô mon Bien-Aimé! Reste, ne pars pas!
Tu pars, je te suis des yeux avec tristesse
Je regarde le courant, le courant s’en va
Je regarde les jacynthes d’eau, les jacynthes d’eau se dispersent.
Ô mon Bien-Aimé! Reste, ne pars pas!
Tu pars, n’oublie pas de revenir
Si en ton coeur vraiment tu m’aimes
Je ne voudrais voir aucune autre que moi-même
Assie ou debout auprès de toi.
Ô mon Bien-Aimé! Reste, ne pars pas!
Tu pars, retiens cette parole bien simple:
Si tu rencontres une meilleure que moi, libre à toi de choisir
Autrement, tu feras mieux de m’attendre.
Ô mon Bien-Aimé! Reste, ne pars pas!
 
Les voix de l’automne
Lưu Trọng Lư (1912-1991)
 
N’entends-tu pas l’automne
Sous la lune pâllissante retenant ses sanglots?
N’entends-tu pas, frémissante d’amour,
L’image du guerier sur les frontières lointaines
Dans le coeur de la femme triste et désolée?
N’entends-tu pas dans les forêts d’automne
Les feuilles d’automne en bruissant tomber
Le cert jaune, craintif et timoré
Fouler sous ses pieds les feuilles jaunes?

Năm 1997 tôi đã đề xuất và thuyết phục ông dịch ra Pháp văn tập thơ “Thi vân Yên Tử” mà soạn giả Hoàng Quang Thuận sưu tầm được ở Yên Tử và nhờ tôi thẩm định trước tiên. Ông đã hào hứng vào cuộc với tập thơ mà tôi nhận ngay ra là “thơ tiên”, dịch rất điêu luyện và gây được tiếng vang trong nước và quốc tế. Việc làm ấy của ông đã tạo ra một tiền lệ để những tập thơ như “Ngoạ vân Yên Tử” sau này tiếp tục ra đời (tất cả phần dịch tiếng Pháp đều do ông đảm nhiệm). Ngoài những tập thơ nói trên, ông còn đặc biệt chú tâm tuyển dịch hai tuyển thơ của Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính, hai nhà thơ mà tôi đánh giá là hai bậc kì tài đứng ở ngôi vị cao nhất trong làng thơ Việt Nam thế kỉ XX3.

Với sự nghiệp dịch thuật đồ sộ và tuyệt vời, ông Hoàng Hữu Đản đã trở thành công dân của thế giới. Ông đã được một tổ chức văn học quốc tế mời đích danh tham gia những cuộc hội thảo tại Pháp và Bỉ. Giới trí thức, các nhà văn nhà thơ ở châu Âu đều biết tiếng ông và ngưỡng mộ sự nghiệp văn học to lớn của ông. Công trình vĩ đại dịch trọn vẹn thành thơ Việt Nam hai tác phẩm cổ đại Hi Lạp Iliade và Odyssée với vài chục nghìn câu thơ đã khiến họ kinh ngạc. Bởi chưa có một dịch giả nào trên thế giới thực hiện nổi một công việc khó khăn như vậy. Những tác phẩm của ông có mặt tại nhiều thư viện ở Pháp và Bỉ. Riêng cuốn “Clair de lune” đã bay tới 49 quốc gia biết sử dụng tiếng Pháp.

Nhà nước Pháp đánh giá cao những cống hiến của ông trong việc phát triển tiếng Pháp và đẩy mạnh sự giao lưu văn hoá giữa hai nước Pháp - Việt Nam, đã hai lần trao tặng huân chương Cành cọ Hàn lâm (Palmes Académiques) hạng ba và hạng nhì cho ông4 vào năm 2000 và 2008.

Ông Olivier Page, một trí thức Pháp vì ngưỡng mộ ông, đã để tâm nghiên cứu kĩ về con người và sự nghiệp của ông và viết như sau:

“Để hiểu được điều bí mật của con người đa văn hoá ấy, tôi đã tìm đến gõ cửa nhà ông…

Con người có phong độ tuyệt vời nhã nhặn đó ưa cuộc sống kín đáo khiêm tốn và không thích gì những hào nhoáng vinh quang. Trong con người ông có một khía cạnh tu sĩ bénédictin, một người yêu nước sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh để đạt tới điểm cao của văn chương và dịch thuật, sẵn sàng chấp nhận cuộc ẩn mình trong bóng tối và trong quên lãng.

Ông Đản chưa bao giờ là đảng viên cộng sản mà chỉ là người trí thức yêu nước. Ông đã trải qua nhiều biến cố lịch sử, qua hai cuộc chiến tranh, giống như một nhà tu hành khổ hạnh biết yêu đất nước non sông mình, quan tâm tới ngòi bút hơn đạn bom. Tại Miền Nam, theo dòng năm tháng, với chế độ chính trị ngày càng cởi mở, ông theo đuổi nghề dịch thuật và cho ra đời những bộ sách lớn, đáng quý nhất là những bộ sách kinh điển của Hi Lạp và Pháp, mà vẫn từ chối danh vọng. Ông đã tỏ ra ngang hàng với những bộ óc lớn nhất của văn học thế giới.

Là một tâm hồn thấm đậm chủ nghĩa nhân văn, ông Đản tha thiết yêu tất cả những gì làm cho con người tiếp cận với lòng chân thành, với sự thật, với lương tri.

Ông Hoàng Hữu Đản là ai?

Ông là một tu sĩ Franciscain yêu nước, xuất thân từ đồng ruộng và truyền thống ngàn đời của Việt Nam, một kẻ khiêm tốn đã làm nên những sự nghiệp lớn trong đời mình bằng cách chiến đấu cho tổ quốc và văn chương; ông là một nghệ sĩ đã đọc Homère sau khi say đắm Athéna, vị nữ thần có đôi mắt biếc xanh của lá cây ôliu…”.


Nhưng ông Hoàng Hữu Đản không chỉ lập được kì tích trong lĩnh vực dịch thuật, ông còn là một tác gia văn học đích thực. Ngoài sự sành sỏi về nghệ thuật viết kịch do học tập được từ các tác gia lớn của nhân loại, ở ông còn có một tiềm lực rất mạnh: đó là sự uyên thâm và sắc bén về tư tưởng. Nhờ phẩm chất này ông luôn phát hiện được những “vấn đề” còn ẩn tàng trong những góc khuất của lịch sử và của cuộc sống mà rất nhiều người khác không thấy được. Những phát hiện ấy đã trở thành linh hồn của những tác phẩm kịch nói rất bề thế của ông như “Bí mật vườn Lệ Chi”, “Người con gái Nguyễn Du”, “Gặp gỡ tất yếu”, “Nguyễn Hữu Chỉnh – người suốt đời đi tìm minh chúa”...

Đã lâu rồi tôi mới lại được thấy hình ảnh một đại thụ trong làng văn học. “Bí mật vườn Lệ Chi” của ông được viết từ năm 1962 là một vở kịch bi tráng và đỉnh cao - thậm chí có thể so sánh với kịch của Shakespeare, Racine, Corneille - đã nhắm thẳng vào những vấn đề trọng yếu nhất của môn lịch sử. Đó là mối quan hệ giữa vua và tôi, giữa quyền lực và thiên tài, giữa những người chân chính ái quốc cận dân và những kẻ thống trị vị kỉ coi ngôi vị, quyền lực của mình là trên hết và sẵn sàng nhúng tay vào những tội ác tầy trời.

Đúng như nhà văn Khai Sáng Voltaire từng viết “không một thiên tài nào không bị bách hại”, bi kịch thảm xót muôn đời của thiên tài Nguyễn Trãi và người vợ tương đắc của ông Nguyễn Thị Lộ là một minh chứng cho cái nghịch lí nhức nhối nhân tâm đó. Chính bằng vở kịch này mà mối kì oan của Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ đã lần đầu tiên được trình bày một cách khúc chiết và được kết luận triệt để sau 520 năm bị treo lơ lửng trong lịch sử Việt Nam.

Tầm vóc thời đại của vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi” đã được thực tiễn xác minh ít nhất là trên hai bình diện:

Bình diện thứ nhất:

Vở kịch đã ngay lập tức đi vào lòng quảng đại nhân dân từ lần công diễn thứ nhất tại sân khấu Idécaf (Sài Gòn) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2002 với 50 buổi diễn không sót vé. Gần như cả thành phố đã đổ xô đi xem vở kịch lịch sử đầy ý nghĩa và đầy xúc động ấy, làm nên một hiện tượng giống hệt hiện tượng kịch nói của Lưu Quang Vũ vào những năm 70 và 80 thế kỉ trước. Sự rúng động tinh thần do vở kịch gây ra đã khiến những tay viết kịch thời thượng nửa mùa (nhưng có chút quyền chức) chột dạ và những người quản lí văn hóa đâm ra hoang mang lo ngại. Sau đó, không công bố lí do, cũng không văn bản, vở kịch đột nhiên bị cấm diễn suốt bốn năm trời. Dư luận nhân dân và báo chí liên tiếp lên tiếng phản đối sự cấm đoán phi lí ấy và đòi những người hữu trách phải giải thích lí do cho tất cả khán giả hâm mộ vở kịch biết. Cuối cùng thì, vẫn không có lời giải thích nào cả, nhưng đến năm 2007, vở kịch lại được phép tái xuất giang hồ với 160 buổi diễn không sót vé! Hiện tượng sôi động với vở kịch của Hoàng Hữu Đản lại diễn ra hệt như bốn năm về trước. Quy luật “Ý dân là ý trời” và của nền kinh tế thị trường đã thắng thế.

Bình diện thứ hai: Sự cộng hưởng xã hội mãnh liệt đối với những kiến giải lịch sử sâu sắc thể hiện trong vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi”.

Vở kịch mang ý nghĩa của một luận án lịch sử, đồng thời là một cuộc phá án với vụ án Lệ Chi Viên xảy ra từ 520 năm trước, đã tiên phong vạch rõ một con đường giúp cho các thế hệ sau có đầy đủ cơ sở tri thức, lí luận, luận cứ và thực tiễn để thực thi việc minh oan cho bà Nguyễn Thị lộ và tôn vinh hai bậc danh nhân Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trên bình diện thực tế xã hội.

Hai mươi năm sau khi vở kịch được sáng tác, vào năm 1982, nhân thế giới kỉ niệm 560 năm ngày mất của danh nhân văn hoa thế giới Nguyễn Trãi, một kẻ hậu sinh hăng hái là nhà giáo Hoàng Đạo Chúc đã nảy ra ý tưởng đứng ra vận động những người yêu kính Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ góp tâm góp sức góp của để xây dựng những ngôi đền hoành tráng thờ hai bậc danh nhân mà lúc sinh thời vốn là hai người bạn đời tương đắc. Nhiệt huyết khác thường của ông Chúc và cuộc vận động mãnh liệt của ông đã gây cộng hưởng lớn trong trái tim của những người Việt Nam yêu nước yêu nòi, tôn thờ lịch sử và những anh hùng dân tộc. Một cuộc hội thảo lịch sử trọng đại về nhân vật Nguyễn Thị Lộ (cùng với những tư liệu bổ sung về Nguyễn Trãi) được tổ chức tại Khuyến Lương vào năm 2002. Kết luận của hội thảo là sự khẳng định một lần nữa những nhận định sáng suốt mà ông Hoàng Hữu Đản đã công bố từ nhiều năm trước: Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ hoàn toàn vô tội trong cái chết của vua Lê Thái Tông. Bà là một phụ nữ trung chính, một nhà giáo có chức danh chính thức trong triều đình Hậu Lê, một người vợ xứng đáng của danh nhân Nguyễn Trãi.

Ngay sau hội thảo, với sự hưởng ứng nồng nhiệt của giới trí thức, các nhà doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân, chỉ trong khoảng ba bốn năm, đã lần lượt mọc lên những ngôi đền thờ hoành tráng:
— Tại Khuyến Lương (Hà Nội): phục chế và tôn tạo khang trang ngôi đền thờ Đức Bà Nguyễn Thị Lộ do nhân dân Khuyến Lương xây dựng từ thế kỉ XV sau khi bà bị giết.
— Tại Tân Lễ (tức làng Hải Triều hay làng Hới Chiếu, Thái Bình): xây dựng và khánh thành ngôi đền thờ Anh hùng dân tộc – Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ.
— Tại Lệ Chi Viên (Đại Lai, Bắc Ninh): đã hoàn thành một phần kế hoạch xây dựng khu tưởng niệm hai bậc danh nhân đã bị triều đình phong kiến sát hại, đồng thời là một địa chỉ văn hóa – du lịch mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc thể hiện truyền thống đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.

Vậy là ý tưởng lớn và quang minh chính đại của những con người thuộc những thế hệ khác nhau đã gặp nhau trên con đường lịch sử. Là người đi sau nhưng ông Hoàng Đạo Chúc, Hội chủ Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi-Nguyễn Thị Lộ, đã thực hiện một cách xuất sắc trên thực tế ý tưởng và khát vọng của kịch tác gia Hoàng Hữu Đản: tôn vinh xứng đáng hai bậc danh nhân Nguyễn Trãi-Nguyễn Thị Lộ.

Ngoài vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi”, ông Hoàng Hữu Đản còn viết những vở kịch lịch sử khác hàm chứa những giá trị cao mô tả chân xác những sự kiện và hiện tượng lịch sử. Không những thế, ông còn đưa ra những kiến giải của một bộ óc có biệt tài nhìn thấy những góc khuất của lịch sử, những ẩn tình nơi những con người thời đại. Ông mạnh dạn phê phán những cách nghĩ, cách đánh giá thiếu khoa học, không thấu tình đạt lí của những người trí thức xưa và nay bởi sự hạn chế của trí tuệ và bởi chưa có một cái tâm thật sự trong sáng.

Vở kịch “Gặp gỡ tất yếu” diễn giải về cuộc hội ngộ lịch sử giữa đấng anh hùng cái thế Nguyễn Huệ và bậc sĩ phu Bắc Hà lỗi lạc Ngô Thì Nhậm. Sự hội ngộ của hai yếu tố tối quan trọng đó trong nhiều trường hợp đã tạo nên sức mạnh phi thường đủ để quyết định số phận của cả một giai đoạn lịch sử.

Vở kịch “Nguyễn Hữu Chỉnh suốt đời đi tìm minh chúa” truy tìm thực chất của một nhân vật lịch sử xuất chúng với nhiều mảng sáng tối, cần phải được nhìn nhận và đánh giá một cách trung thực. Nhân vật lừng danh khiến ngay cả bậc anh hùng Nguyễn Huệ cũng phải gờm này trước đây đã bị ngòi bút của nhóm “Ngô gia văn phái” (tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí) vốn thân Tây Sơn miêu tả một cách thiên lệch và đánh giá chưa thoả đáng.

Vở kịch “Người con gái Nguyễn Du” tường trình tấn bi kịch “thiên tài rơi vào bàn tay sắt của bạo chúa” với thế giới nội tâm u uất vô bờ bến của đấng thi hào.

Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để xác nhận sự hiện hữu sừng sững của một kịch tác gia trong thời đại chúng ta. Tiếc rằng ngoài vở “Bí mật vườn Lệ Chi” từng làm nên một hiện tượng sân khấu sôi động từ lâu ít thấy, những tác phẩm ưu tú khác nói trên của ông chưa có thời cơ thuận lợi để đến với đông đảo công chúng. Phải chăng đó là hiện tượng “thạch trung ẩn ngọc” mà người xưa đã từng nói tới?

Về số phận của các nhà tư tưởng và các nhà văn, tôi đã viết một câu: “Biết bao tư tưởng gia và văn nghệ sĩ chân chính trọn đời đem tinh hoa trí tuệ và văn hóa cống hiến cho nhân loại nhưng lại luôn phải hứng chịu gian nan nguy hiểm như đi qua một bãi lầy”.

Các nhà văn thường nghèo, điều đó đúng với ông Đản nhưng là một cái đúng làm cho tôi phải day dứt. Tôi xót xa khi nhìn thấy ông với cái dáng cao gầy trên đường phố, mái tóc bạc phơ, ở tuổi xấp xỉ 90 vẫn phải ngồi sau chiếc xe ôm để đến làm việc với các nhà xuất bản. Hình như ông đã quá quen sống chung với hoàn cảnh ấy rồi. Tôi cũng được chứng kiến ông nhận số tiền tác quyền quá ư ít ỏi của một nhà xuất bản đã in cuốn sách gồm ba vở kịch hoành tráng tôi vừa kể ở trên của ông. Tôi lựa lời an ủi ông nhưng ông cười rất hiền từ và bảo tôi:
— Thôi, chắc họ cũng đang gặp khó khăn, miễn là tác phẩm của tôi được in và đến với người đọc.

Trong cuộc hội họp các dịch giả quốc tế tại Seneffe (Bỉ) năm 1999, ông nói trước cử toạ:
— Trong thời gian hai mươi năm, tôi đã dịch trọn vẹn thành thơ Việt Nam (gồm trên dưới bốn vạn câu thơ) hai tác phẩm Iliade và Odyssée của Homère. Nếu đến phút chót vẫn không có nhà đầu tư nào đứng ra xuất bản cho tôi thì trước khi chết tôi sẽ tặng hai bản thảo ấy cho thư viện quốc gia để đời sau sử dụng.

Các học giả quốc tế nghe ông nói thế đều vô cùng sửng sốt: họ không tưởng tượng nổi hai kiệt tác vĩ đại của văn học nhân loại lần đầu tiên trên thế giới được dịch toàn văn thành thơ lại rơi vào một tình cảnh như vậy.

Mãi sau này tôi mới hiểu: ông Hoàng Hữu Đản mang bản chất một đệ tử của Jésus, từng được đào tạo chu đáo trong một ngôi trường Dòng của đạo Chúa, và ông sống trên đời với tấm lòng sẵn sàng hi sinh vì đồng loại.

Nhưng ông Đản đâu phải chỉ là đối tượng để tôi bàn luận về sự nghiệp văn hóa đáng kính của ông! Cái nguyên do sâu xa khiến tình bạn vong niên của tôi với ông không ngừng nảy nở và tươi thắm chính là ở nhân cách vừa cao đẹp vừa dễ thương của ông. Tôi đã may mắn tìm thấy ở ông hình ảnh một hiền nhân, một bậc trí giả uyên thâm với phong cách được đào luyện từ hai nền văn hóa Đông – Tây, nhưng là một người bạn đời vô cùng bình dị và thân thiết.

Không trầm tĩnh và “phớt đời” như tôi, tâm hồn ông như một mặt hồ không ngừng xao động bởi những ngọn gió từ bốn phương tám hướng thổi đến. Tôi từng ngạc nhiên thấy ở tuổi ngoại bát tuần mà ông vẫn xúc động, vẫn mơ mộng và vẫn làm thơ mừng… ngày hội tình yêu Valentine!

Ông nhớ nhập tâm những ngày đặc biệt tưởng niệm các danh nhân thời trước và ông thường nhắc nhở tôi, như ngày Khuất Nguyên trẫm mình trên sông Mịch La, ngày tru di tam tộc Nguyễn Trãi. Thì ra những cái chết bi thương của những kiệt nhân thời xưa dẫu trải qua hàng trăm hàng ngàn năm vẫn còn phủ lên trái tim ông một màn tang thảm đạm.

Vào thời điểm giao thừa sang thiên niên kỉ thứ ba, trong khi tôi mang trong lòng một dự cảm lo âu về tương lai của loài người thì ông cảm hứng làm một bài thơ rất lãng mạn để chào mừng thiên niên kỉ mới:

NĂM 2000 VỚI NHỮNG ƯỚC MƠ
—Con mơ ước điều gì hỡi con trai
Để chào đón năm 2000 đang tới?
—Con muốn một con chim họa mi xinh xắn
Tới đậu trên khung cửa sổ nhà ta
Và cất tiếng véo von ca hót.
—Còn em của anh, năm 2000 đang tới
Em sẽ chào đón nó thế nào?
—Cũng như chim họa mi của con trai,
Em sẽ ca hát,
Rồi em sẽ lên lớp giảng bài
cho các lớp học sinh
Vì cuộc sống gia đình ta nhỏ bé
Và những tốt lành trên đất nước thân yêu.
—Còn ba, ba không ước gì sao?
—Ba chỉ thích niềm vui trong lao động.
—Nhưng lao động thế nào
Khi trong tay ba không có kìm có búa
Như những người láng giềng?
—Ba có những quyển sách,
Ba có chiếc dương cầm,
Ba có những bức tranh
Và cây bút.
Ba không biết đập đe như người khác
Ba gắn kết những con tim lang bạt bơ vơ,
Và những cuộc đời thiếu người chia sẻ…
Năm 2000 ơi!
Hãy tới mau lên nhé!
Cả gia đình ta đang tha thiết mong chờ.
Noël 1999

Người ta bảo thi nhân không có tuổi có lẽ không ngoa. Tôi kém ông Đản 22 tuổi, nhưng tâm hồn tôi sau nhiều cơn thử thách đã ít nhiều trở nên đanh quánh, thi hứng cũng vơi cạn đi và thay thế nó là những dòng tư tưởng khô khan, nóng bỏng. Ông thì khác: mang hình hài của một bậc lão niên với vầng trán hói và mái tóc bạc lưa thưa, nhưng tâm hồn ông vẫn trẻ trung và rung rinh những cảm xúc như trong lứa tuổi thanh xuân. Nếu trên văn đàn ông thường kiên quyết bảo vệ những luận điểm khoa học của mình bao nhiêu thì trong sinh hoạt với người thân và với bạn bè,sự quyết liệt ấy dường như biến mất. Ông trở nên mềm như nước thậm chí yếu đuối, bởi tâm hồn hiền dịu của ông thường hay nhẫn nhịn, không muốn làm tổn thương ai và luôn cảm thông, nâng đỡ những người khác.

Được làm người bạn tâm tình của ông, trong những lúc cùng ông ngồi uống trà và tâm sự chuyện đời, ông đã tiết lộ với chỉ một mình tôi bí mật về những giai thoại tình cảm còn in sâu trong kí ức của ông. Khi ông sang Bỉ năm 1999 tham dự một cuộc họp quốc tế về văn học, một phụ nữ Do Thái đem lòng cảm mến ông, lúc tiễn biệt ông đã tha thiết nhắc nhở ông một câu rằng “Anh đừng bao giờ quên em nhé!”. Hồi ông sang Pháp vào năm 2000 và trở thành “sứ giả của văn hoá Việt Nam trên diễn đàn quốc tế”, một nữ văn sĩ người Sénégal đã tìm thấy nơi ông một người bạn lớn đáng tin cậy và kể với ông về cuốn tiểu thuyết của mình diễn tả nỗi đau khổ vô chừng của những phụ nữ da đen Sénégal. Xúc động trước sự cảm thương sâu sắc của ông đối với những phụ nữ bất hạnh ấy, nữ sĩ đã xin phép được coi ông như một người anh kính mến của mình và tặng ông (không nhận tác quyền) cuốn tiểu thuyết đó, để khi cần thiết ông có thể dịch nó phục vụ độc giả Việt Nam.

Thi hào Đỗ Phủ có câu thơ “Xuân sơn vô bạn độc tương cầu” (Núi xuân thiếu bạn kiếm bơ vơ).

Trong những ngày tôi đang mải miết viết những dòng này về ông Đản, tôi thường nhận được những cú điện thoại bất ngờ của ông. Tôi hiểu rằng ông hay gọi điện cho tôi bởi ông thèm khát được giao lưu với những người tri kỉ như cần không khí để thở. Nhiều lần tôi vừa đi phố về thì con dâu tôi mách:
— Bác Đản vừa gọi điện thoại cho bố. Bác ấy bảo bác ấy nhớ bố lắm. Nghe giọng nói buồn bã mà bác ấy than, con cảm thấy bác ấy mong bố cứ như thể… mong người yêu vậy.

Tôi cười đáp:
— Thì người ta bảo tình bạn chính là tình yêu không có cánh mà lại! Chẳng phải giữa bố với bác ấy xưa nay vẫn có một mối duyên văn tự đó sao?

Như thế đó: ở đoạn chót cuộc sống, một danh nhân từng có quan hệ rộng rãi với cả thế giới mà rốt cuộc ngoài gia đình ra chỉ còn lại một vài người, thậm chí chỉ một người bạn duy nhất thân thiết bên cạnh mình mà thôi! Thì ra khi đã đi đến đoạn chót của cuộc đời, nghĩa là đã bị đẩy sang bên lề cuộc sống, người ta thường phải chịu một thử thách nghiệt ngã: bị rơi vào “một vũng cô liêu cũ vạn đời” như Hàn Mặc Tử đã miêu tả.

Trên thực tế, không ít người trong xã hội chúng ta cũng như trên thế giới (trong đó có tôi) từng đọc những cuốn sách nào đó trong khối sách khổng lồ của tác giả và dịch giả Hoàng Hữu Đản, từng dùng chúng làm tài liệu viết sách, viết báo, viết tiểu thuyết, làm luận án tốt nghiệp hoặc giảng dạy ở các nhà trường, từng nô nức đi xem kịch lịch sử của ông. Nhưng trong khi có những người nước ngoài từ những xứ sở xa xôi như Pháp, Canada… vượt qua vạn dặm tìm đến tận căn nhà ông trong một hẻm sâu để mong được gặp mặt ông và đàm đạo với ông, thì ngay tại thành phố Sài Gòn ông cư trú, ít ai có lòng nhiệt thành bỏ chút thì giờ đến thăm ông. Bởi họ còn bận rộn với trăm thứ bà giằn của đời sống thường nhật mà họ cho là thiết thực hơn.

Thấu hiểu cái lẽ đời đó nên tôi thường một mình lặn lội đến thăm ông vì nhu cầu của tình tri kỉ và cũng vì nghĩa vụ đối với một nhà văn hóa lão thành. Thế nhưng thật là bất ngờ: trong những cuộc viếng thăm ấy, chính tôi lại luôn nhận được những tác động dội ngược từ phía ông. Như một ngôi đền cổ kính thiêng liêng, ông luôn phóng vào tôi những luồng điển quang trí tuệ kì lạ khiến tôi choáng ngợp. Cú dội xảy ra gần đây nhất như sau:

Anh Kiều Văn ạ, ngay bây giờ nếu Thượng Đế gọi tôi thì tôi lập tức đáp “présent!”. Và nếu các pháp quan định lôi tôi ra pháp đình để xét hỏi thì Thượng Đế sẽ khoát tay mà bảo họ rằng: “Thôi, ta biết rõ về ông này rồi: ông ta chẳng hề có một tội lỗi nào dưới trần gian cả. Các ngươi hãy lập tức mở cổng rước ông ấy vào thẳng Thiên Đàng cho ta!”. Sang năm Tân Mão này tôi đã 90 tuổi, thọ như thế cũng là được trời ưu ái lắm rồi. Tôi quyết định dùng một vài năm cuối cùng của tôi để tập trung vào việc dịch văn học La Mã mà từ xưa đến nay chưa hề có ai ở Việt Nam dịch cả. Hiện tôi đã bắt đầu dịch hài kịch của Plaute, thơ hài của Térence và những bài hùng biện của Cicéron…

Nghe ông nói, tôi vừa sửng sốt vừa vui sướng không để đâu cho hết. Bởi vì trong khi ông quyết tâm làm việc vì cộng đồng của ông thì chính là ông đã mang lại cho tôi - bạn vong niên của ông - một niềm vui rất lớn. Đã bao nhiêu năm kể từ lúc ở đại học được nghe giảng chút đỉnh về văn học La Mã với sử thi Énéide lừng danh của Virgile, tôi vẫn mang trong lòng một niềm khắc khoải: thèm khát được thưởng thức những tác phẩm ưu tú của văn học La Mã, một thành phần không thể thiếu của nền văn hóa Hi – La vĩ đại.

Thế rồi trong một buổi gần đây tới thăm ông, ông lại tiết lộ với tôi rằng ông đang bắt đầu dịch thơ Hồ Xuân Hương. Tôi mừng rơn và kêu lên:
— Trời ơi, bác dịch gì chứ dịch thơ Hồ Xuân Hương thì em là người số một nhiệt liệt ủng hộ bác. Từ rất lâu rồi em vẫn có một mặc cảm, thậm chí là một nỗi day dứt: tiếc thay, không ai dịch nổi thơ Hồ Xuân Hương sang ngôn ngữ nước ngoài để họ chiêm ngưỡng cái hay phi thường về nội dung và cái đẹp độc nhất vô nhị trên đời về nghệ thuật của thứ thơ ấy.

Nhưng câu chuyện của chúng tôi không dừng lại ỏ đấy. Ít hôm sau (giữa tháng 4/2011) khi đang trao đổi điện thoại với nhau, bỗng một ý nghĩ loé lên trong óc, tôi đề xuất:
— Bác Đản ạ, trong các kiệt tác thơ Việt Nam chưa được dịch ra ngoại văn, em nhận thấy ngoài thơ Hồ Xuân Hương ra, còn hai tác phẩm đặc biệt giá trị mà có lẽ trong nền văn học thế giới không có tác phẩm tương đương. Một là Chinh phụ ngâm do Đặng Trần Côn sáng tác bằng Hán văn, đã được dịch ra tiếng Việt bởi Đoàn Thị Điểm, rồi sau bà hơn 40 năm Phan Huy Ích đã dịch lại, đúng hơn là đã nhuận sắc bản dịch cũ của bà. Em cho rằng đó là thi phẩm hàng đầu của văn học nhân loại đặc tả chiều sâu tâm hồn kì diệu của một phụ nữ phương Đông có chồng đi lính trong thời buổi chiến tranh. Hai là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Em cũng cho rằng đó là thi phẩm hàng đầu của văn học nhân loại đặc tả chiều sâu tâm hồn kì diệu và nỗi đau khổ thống thiết hơn cả cái chết của một phụ nữ bị đày đoạ trong kiếp cung phi ỏ phương Đông. Thế giới chưa biết rõ chân giá trị của hai tác phẩm này chỉ vì chúng chưa được dịch ra ngoại văn như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức...

Tôi nào ngờ ý kiến của tôi đã tác động mạnh vào tiềm thức của ông Đản. Bất ngờ ông nói:
— Đúng. Tôi cũng nhận thấy không thể không dịch hai kiệt tác ấy để giới thiệu ra thế giới, giống như dịch thơ Hồ Xuân Hương…
— Theo em, quỹ thời gian của bác không còn nhiều, nếu bác để chậm trễ thì e rằng không kịp. Phi bác ra, em không tin ai khác có thể dịch nổi hai kiệt tác ấy. Có lẽ số của bác là phải làm những công việc không ai làm thay bác được ấy!
— Vậy thì, anh Kiều Văn ạ, có lẽ tôi nên tạm dừng dịch văn học La Mã để bắt tay vào dịch hai kiệt tác ấy trước…
— Chính thế! Văn học La Mã sẽ dịch sau nếu bác còn đủ thời gian…
— Vậy anh hãy giúp tôi, gửi gấp cho tôi văn bản hai tác phẩm ấy kèm lời chú thích.
— Vâng, mai em sẽ gửi ngay cho bác. Cả hai tác phẩm ấy em đều biên soạn với chú thích rất kĩ càng và đã in thành sách từ hơn mười năm nay rồi.
— Thế thì hay quá! – ông Đản vui mừng reo lên trong ống nói.

Mới hay Thượng Đế là đấng tài tình và sáng suốt vô song trong việc chọn mặt gửi vàng: ngài đã kịp thời giao phó những công việc khó khăn nhất cho con người làm được tốt nhất công việc đó, trước khi người ấy rời thế gian ra đi mãi mãi. Và thế là nỗi day dứt của chính tôi từ bao năm nay đã bất ngờ được ông Đản giải toả!

Một mộng tưởng bỗng tràn ngập trong tâm trí tôi: giữa vừng hào quang rực rỡ của ngày hội đăng quang những kiệt tác văn chương của nhân loại, hình ảnh nhà văn hoá lão thành Hoàng Hữu Đản của Việt Nam chợt hiện lên ngời sáng. Và đáp lại nụ cười rạng rỡ của ông là cả một biển người đang náo nức hân hoan chào đón và ngưỡng mộ ông, một đấng văn nhân đã mang đến cho họ những vưu vật văn hoá của phương Đông quê hương ông mà họ chưa từng được chiêm ngưỡng.
(Rút từ bản thảo hồi kí “Thăm thẳm một đời” của Kiều Văn sắp xuất bản- Newvietart.com)


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}