Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Hội Đền Chèm

Minh Thắng | Thứ Hai, 30/09/2013 02:39 GMT +7
(Văn Hiến) - Hội Chèm là một trong những hội lớn của thủ đô Hà Nội. Dân Hà thành thường có câu:

Thứ nhất là hội Cổ Loa
Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Chèm.

JPEG - 45.4 kb

 

Làng Chèm thuộc xã Thụy Phương (xưa còn gọi là Thị Điềm, rồi Thụy Hương), huyện Từ Liêm, Hà Nội, nằm bên tả ngạn sông Hồng. Từ trung tâm thủ đô đi theo đê Yên Phụ, hoặc xuôi theo đường Cầu Giấy về phía cầu Thăng Long, đến chân cầu, hướng theo đê đi ngược lên khoảng hơn 1 km là tới làng.

Đứng trên đê sông Hồng, có thể nhìn bao quát được toàn bộ diễn trường của lễ hội Chèm. Nói đến hội Chèm không phải chỉ riêng có làng Chèm mà là hội của dân "tam làng": làng Chèm, làng Hoàng, làng Mạc. Môi trường lễ hội diễn ra trong một không gian rộng lớn, có đình, có bến chợ và một quãng sông dài trên 3km.

Ngôi đình nằm dưới những rặng cây xanh nhô ra giữa dòng sông trông như một bán đảo nhỏ. Đình Chèm được xây dựng từ thời Bắc thuộc (603-939), đến nay đã qua nhiều lần trùng tu, nhưng vẫn mang một dáng vẻ cổ kính tiêu biểu cho lối kiến trúc ở thế kỷ XVII. Việc nâng cao ngôi đình lên 2,4m so với ban đầu quả là một kỳ công lớn của nhân dân nơi đây. Mặt chính của đình nhìn ra sông. Toàn bộ khu đình được chia làm hai phần:

Phần ngoài là Tầu Tượng (nơi để voi ngựa) là một ngôi nhà ba gian, hai dĩ, cao 10 m, có bốn mái lớn với các hình Long, Ly, Quy, Phượng. Trước cửa Tàu Tượng có bốn cột đồng trụ cao từ 12 đến 14 m tạo cho đình một dáng thanh thoát trang nghiêm.

Có hai văn bia ở lầu mộc dục. Bên phải ghi công đức của người đóng góp, bên trái ghi việc kiệu đình.

Khu trong là khi chính cung. Chính cung được thiết kế theo hình chữ công, có tiền cung, trung cung và hậu cung.

Tiền cung có long sàng cỗ ngai, hương án. hai bên là giá ngự đựng bát bảo lộ bộ.

Trung cung có 5 bàn thờ, với các đồ thờ như chĩnh, lư hương, đèn, nến...

Hậu cung có tượng Lý Ông Trọng (đối tượng suy tôn) tượng phu nhân và hai nàng hầu. Hai bên tả và hữu và tượng sáu người con đứng. Hậu cung có bài vị của đức ông, đức bà.

Có rất nhiều truyền thuyết về Lý Ông Trọng, nhưng qua sự chọn lọc, chúng tôi thấy truyền thuyết dưới đây có lẽ phù hợp với lịch sử hơn:

Thời Hùng Vương thứ 18, Tuấn Công (người xã thụy Phương) thông minh tuấn tú, kết duyên với Hà Nương (xã Đa Lộc) nhan sắc tuyệt vời. họ sống với nhau hạnh phúc, nhưng mãi tới năm 32 tuổi mà vẫn chưa có con. Hai người bàn đem một phần của cải bố thí cho thiên hạ để cầu phúc. Một hôm Hà Nương đang dạo chơi ở vườn hoa, bỗng trông thấy một vết chân rất to, nàng ướm thử vào chân mình. Vừa ướm xong thì thấy toàn thân sực nức hương thơm. nàng có mang từ đấy. Đến tháng thứ 13, năm bính tuất, Hà Nương sinh được một cậu bé. tuy còn nhỏ nhưng cậu bé có tư thế tuấn chỉnh, mặt mũi khôi ngô, cao lớn lạ thường. Hai vợ chồng vô cùng sung sướng cho là trời ban phúc lành nên đặt tên là Trọng. Lớn lên Trọng cao 20 thước, sức lực hơn người, trí dũng siêu quần, thông minh xuất chúng. Lưng có 28 nốt ruồi giống như 28 ngôi sao, ở rốn lại có cái lông. Năm 18 tuổi, khi vua hạ chiếu cầu hiền tìm người văn hay võ giỏi, mỗi huyện phải cử một người đến kinh ứng tuyển. Phủ Quốc Oai chọn Lý Ông Trọng. Khi đến yết kiến, vua trông thấy hài lòng bèn phong cho là chỉ huy sứ coi việc bảo vệ cung đình. Tính Trọng nóng nảy, thẳng thắn nên nhiều lần quá tay đã giết kẻ phạm tội nhưng vua mến tài nên vẫn trọng dụng. Mỗi khi có giặc Chiêm Thành, Ai Lao, vua sai Trọng ra quần là giặc bị đánh tan tác. Sau đó vua ra lệnh cho ông Trọng ra trấn thủ ở Lâm Thao. Các dân tộc ở biên thùy đều mến phục. Ông thường nói "làm người nên có chí hăng hái như chim phưưọng hoàng bay muôn dặm xa, làm sao chịu làm tôi tới người để cho người mắng phạt". Ông cầu học, cầu tiến rồi làm tướng cho An Dương Vương Thục Phán.

Thời ấy nước ta đã bình yên. Bên Trung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhất đất nước, nhưng quân Hung Nô vẫn ngày đêm quấy phá vùng biên ải. Vua Tần ép An Dương Vương phải cống nạp người tài sang Trung Quốc. Lý Ông Trọng được cử đi sứ cho nhà Tần. Mặc dù Tần Thủy Hoàng đã cho xây vạn lý trường thành nhưng vẫn không ngăn nổi sự quấy phá của Hung Nô. Vua Tần nhớ Lý Ông Trọng ra quân. Ông đi trận nào thắng trận đó, quân Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải nhà Tần nữa. Lý Ông Trọng được bổ nhiệm là quan Tư Lệ hiệu uý và được gả công chúa Bạch Tính Cung.

Về già, ông được vua Tần cho về nước. Sau đó, quân Hung Nô lại tới uy hiếp, vua Tần lại cho mời ông sang. Ông từ chối không được, không muốn xa Tổ quốc một lần nữa nên ông đã tự sát. An Dương Vương cho ướp xác ông gửi sang Trung Quốc để làm bằng chứng. Tần Thủy Hoàng cảm kích nên đã tổ chức lễ tang ông rất long trọng. Sau đó Tần Thủy Hoàng cho tạc tượng ông bằng đồng dựng ở cửa hàm Dương. Và, mỗi lần có sứ giả sang, vua Tần ngầm sai người làm cho tượng cử động. Quân Hung Nô ngỡ ông Trọng vẫn còn ở đất Tần, nên rút chạy.

Dân làng nơi ông sinh ra kính trọng tài năng đức độ và oai linh của ông nên đã lập bàn thờ tạc tượng ông và phu nhân, suy tôn ông làm thành hoàng; tôn là Đức Ông và Đức Bà, cùng thờ chung trong một ngôi đền của làng.

Hàng năm hội Chèm mở 3 ngày từ 14 đến 16 tháng 5 âm lịch để tưởng niệm ông.

Ngày 14 đền và đình mở cửa để nhân dân đến dâng hương. Có lễ nghinh thuỷ trên sông Hồng, lễ tấn phát cúng Phật, cả ba làng tế cỗ tại nhà. Ngày 15 là ngày chính hội; các lễ rước được lần lượt cử hành.

Mở đầu là lễ rước nước, thường được tiến hành vào buổi sáng, đây là cuộc rước nước lớn và uy nghi nhất, lấy nước làm lễ mộc dục.

Những người tham gia, quần áo đủ sắc màu mang theo đồ tế lễ đi bộ ngược bờ đê cách đình 3 km rồi xuống ba chiếc thuyền rồng loại lớn xuôi theo dòng sông đến trước cửa đình Chèm. Tại đây diễn ra nghi thức lấy nước. Ba thuyền cùng chèo chống làm sao cho cùng quay ba vòng. Trong lúc thuyền quay, một người lấy gáo múc nước sông đổ vào chĩnh và đánh phèn cho nước trong. Tất cả mọi việc phải tiến hành xong khi thuyền quay hết vòng thứ ba. Khi thuyền quay, chiêng trống nổi lên cùng với tiếng hò ù óc- ù óc vang dội cả khúc sông vọng từ bờ nam sang bờ bắc tạo âm hưởng lạ tai. Theo các cụ giải thích: Tiếng ù óc là sự mô phỏng tiếng hô đuổi giặc Hung Nô phát ra từ pho tượng của ông ở cửa Hàm Dương mà Tần Thuỷ Hoàng đã dùng kế nghi binh quân giặc.

Lấy nước xong, đoàn thuyền xuôi về bến Ngự, tức nhà mã cách đền khoảng 1 km thì dừng lại, lấy đồ tế lễ và cuộc rước nước, rước mã ở trên bộ bắt đầu. Đi đầu đám rước là xe, voi, ngựa choé nước, tất cả đều có lọng che và được nhiều người kéo. Sau đó đến kiệu mũ, áo, kiệu bát cống. Đám rước đi theo nhịp chiêng trống của ông thủ hiệu, ông đại hiệu, nhịp nhàng về tới sân đình để làm lễ mộc dục (tắm Thánh).

Chiều tối tiến hành rước văn (văn tế). Cuộc rước được cử hành long trọng như rước nước. Văn tế đặt trên kiệu (gọi là long đình). Văn được rước từ nhà ông trưởng văn ra đền. Hai bên đường làng nhiều ống hương được cắm thành tiêu, tạo không khí tôn nghiêm. Cùng lúc, lễ rước văn; lễ phát tấu được tiến hành.

Đội ngũ tế gồm 12 người mặc áo thụng màu xanh lam, mũ quan văn, thắt lưng đai. Các ông trợ tế mang rượu, mang nến hồng thắp sáng tiến vào cung, ba tuần dâng rượu, một tuần ẩm thực, một tuần tiến hồ. Hàng tế đi giữa các ông già tay cầm cờ nheo dài 2m màu xanh, màu hồng quay tít. Cuối cùng chủ tế đọc văn tế rước từ chùa Chèm trở về (gọi là Mỹ tự Đức Thánh Cả) người dự lễ im phăng phắc, trầm hương bay nghi ngút. Tiếng ông chủ tế sang sảng vang lên:

“Uy mãnh oanh liệt thụ tín giản ý
Khâm đức trang tĩnh tuyển văn hiển hựu
Tương túc anh nghị
Trung hiếu thuần chính”.
Tạm dịch:
“Ngài uy linh anh hùng tiếng tăm vang dội Nam bang
Cử chỉ trang nghiêm văn võ toàn tài
Đạo đức toàn vẹn với nước với dân”.

Sau phần hội, nhân dân được xem nhiều trò chơi như bắt vịt, thả chim câu, thả diều, bơi trải...

Ngày 16, ngày cuối hội, sáng có lễ nghinh thuỷ trên sông Hồng. Chiều rước văn từ chùa Chèm về đình. Xen kẽ trong ngày là các trò chơi giải trí như: đánh cờ, đấu vật, hát chèo... Chiều tối tan hội, ba làng làm lễ hậu hội tại nhà.

Ba ngày của hội làng Chèm đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân, đó là sự kính trọng niềm tự hào về con người về nơi đây. Mộ số nghi thức, tập tục của lễ hội như: lễ rước nước, lễ tắm tượng (đầm mình trong nước giữa dòng sông Hồng) cùng với tục đua thuyền (trên mặt nước), tục thả chim bồ câu (trên không) gợi lên cho chúng ta nhiều điều suy nghĩ. Phải chăng đây là dư ảnh mờ nhạt của các nghi lễ cầu mùa (cầu mưa và cầu tạnh, cầu mưa thuận gió hoà) của cư dân nông nghiệp từ thuở xa xưa, mà nay chỉ còn hiện diện như một nếp sống thượng võ và thú chơi tao nhã?.


Có sử dụng tư liệu của: Thạch Phương, Lê Trung Vũ trong Lễ hội truyền thống Việt Nam - Nxb KHXH, 1995; và sử dụng bản viết tay: Lễ hội đình Chèm của Văn Hậu, Hội VNDG Hà Nội, 1991.

Nguồn: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}