Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Hội làng Đa Sĩ

Lê Ngọc Canh | Thứ Hai, 30/09/2013 02:48 GMT +7
(Văn Hiến) - Đình làng Đa Sĩ không rõ được xây dựng từ bao giờ, nhưng theo các bô lão, đình được trùng tu vào năm 1802 (Nhâm Tuất) niên hiệu Gia Long thứ nhất. Sân đình này đã từng diễn ra những vở chèo, vở tuồng, những cảnh hát ca trù đặc sắc suốt thời gian hội làng.

 

Nhìn toàn cảnh đình làng Đa Sĩ, cho ta một cảm giác đó là bức tranh, một mảng màu của đồng quê luôn sống động, xanh tươi với cây đời.

Trước cửa đình là ao nước trong xanh, bốn góc có đa, si tỏa bóng mát. Giữa ao có một gò nổi hình vuông, cỏ xanh như tấm thảm, bốn góc gò trồng bốn cây cau. Dân làng gọi là bàn cờ (có lẽ thuở xưa đây là bàn cờ người).

Cửa đình là hai cột Bộc Mã cao, phần đỉnh đắp hai nghê chầu bốn phía cột có câu đối chữ Hán.

Tiếp đến là sân đình rộng, với tả hữu đều dựng nhà 5 gian dọc.

Cuối sân là ngôi đình lớn, cao rộng, bộ khung được làm bằng gỗ lim, với 16 cột. Chân tảng cột bằng đá khối được đục theo luật âm dương. ốp vào cột là các câu đối sơn son thếp vàng. Đình còn có những bức hoành phi lớn chạm khắc tinh sảo.

Hậu cung có án hương, là nơi thờ thành hoàng làng.

Cùng với đình, không biết tự bao giờ, dân làng Đa Sĩ đã khéo chọn địa thế xây miếu, chùa, làm cho cụm kiến trúc này thêm trang nghiêm cổ kính.

Miếu Đa Sĩ xây dựng bên bờ sông Nhuệ, ẩn sau những đại cổ thụ, đó là không gian tự nhiên của miếu.

Từ ngoài vào qua hai cây Bộc Mã đến Văn chỉ, có bia khắc tên và học vị những danh nhân làng Đa Sĩ. Tiếp liền Văn chỉ là sân lát gạch rồi đến miếu.

Miếu cấu trúc theo kiểu cổ của người Việt. Tiền cung (cung trước) có 8 cột gắn câu đối, trên cao treo hoành phi sơn son thếp vàng. Nơi đây đặt hương án, lư hương hạc chầu.

Trung cung (cung giữa) cũng bố trí như tiền cung. Song hai bên, trước hương án, còn bổ sung hai hàng bát bửu, giá quạt, giá cờ.

Hậu cung có các hoành phi, câu đối, và bàn thờ chính thờ thành hoàng làng Hoàng Đôn Hòa với ngai, bài vị chạm khắc tinh vi.

Kiến trúc miếu cấu tạo 3 tầng theo hình tháp. Các góc mái uốn cong, đều đắp rồng và nghê. Đỉnh miếu có rồng chầu mặt nguyệt.

Hai bên miếu là hai dãy nhà ngang, mỗi dãy 5 gian.

Dân làng Đa Sĩ đã tạo dựng tượng và tôn thờ cụ Hoàng Đôn Hòa làm thành hoàng làng. Tượng ngài phản ánh rõ nét mặt hiền từ phúc hậu, thông minh trí tuệ.

Về hình thức, tượng Hoàng Đôn Hòa là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật có đường nét, hình khối, ánh sáng, tư thế, dáng kiểu hài hòa trong thể thống nhất.

Phía phải miếu, là một tấm bia có niên hiệu Phúc Thái thứ 6 thời vua Lê Chân Tông (l648).

Các mặt bia ghi "Đa Sĩ xã bi" hoặc "Thượng hạ đại tiêu đăng".

Bia cho biết: Chính phu nhân Hoàng Thị Lộc, hiệu là Tư Nhuận, có công với quê huơng được "tọa vị hậu thần". Các hiện vật trong miếu, đáng kể là bộ kiệu do tổng trấn Ngọc Hầu Nguyễn Bá Xuyến vẽ theo mẫu kiệu của nhà vua và nghệ nhân đóng kiệu là Lê Công La cùng họ hàng ngày đêm dồn tâm, dồn chí làm cho kiệu trở nên đẹp đẽ, rực rỡ. Trong đó, kiệu Ông tạc tám con rồng, kiệu Bà tạc tám phượng đều sơn sơn thếp vàng.

Khi rước kiệu lúc đi nhanh, đi chậm, lúc lùi, lúc xoay là tượng trưng rồng cuốn, rồng lượn.

Kiệu Ông để rước thành hoàng làng Hoàng Đôn Hòa, kiệu bà để rước phu nhân thành hoàng làng là Phương Dung công chúa.

Hội làng Đa Sĩ lấy ngày mất của thần Hoàng Đôn Hòa làm ngày hội làng.

Hàng năm mở hội vào 12 tháng giêng và đến ngày 15 tháng giêng dã đám.

Hội tổ chức rất trọng thể theo nghi thức cổ truyền:

Tế, lễ dâng hương. Rước. Vui chơi (vui hội)

- Tế, một nghi thức để tưởng nhớ công đức của thành hoàng làng, ơn cao đức dầy, nhắc nhở con cháu luôn uống nước nhớ nguồn.

Những người tham gia tế gồm có: Một chủ tế, ba bồi tế, thượng hương (người dâng hương), âm phúc (người dâng rượu). Bắt đầu là trống chiêng, báo hiệu cuộc hành lễ. Đầu tiên Đông xướng, Tây xướng, rồi chủ tế đứng ra hô, làm hiệu điều khiển lễ. Phần quan trọng là đọc văn tế (đọc công đức của thành hoàng làng). Kết thúc tế là dâng hương, dâng rượu, dâng hoa (hương, hoa, đăng, trà, quả, thực). Tiếp đến là rước.

- Rước: qui tụ, tổng hợp các loại hình văn hóa nghệ thuật, là cốt lõi, trung tâm của qui trình hội, gồm: rước kiệu, long đình, hương án và các loại hình nghệ thuật múa sênh tiền, mõ, trống, sư tử, rồng, mặt nạ, cờ v.v...

- Vui chơi: kế tiếp là các trò chơi làm cho hội thêm vui tươi. Hội thường có các trò chơi dân gian như: Đánh đu, chọi gà, đánh cờ người, vật, chèo sân đình, hát ca trù, diễn tuồng đồ v.v...

Từ thuở xa xưa, hội Đa Sĩ đã lừng vang một vùng. Ngày này, Hà Đông, Hà Trì đổ xuống, Sa La, Văn Quán đò sang, Mậu Lương ngược lên, Xốm qua đồng để đến.

Trước cửa miếu, đình, chùa, cắm lá cờ thần lớn tung bay trong gió, trống chiêng rồn vang mở đầu cho một ngày hội. Kiệu Ông , kiệu Bà, long đình, lọng, tán, cờ, quạt, phướn, gươm đao, bát bửu đèn hoa đã sẵn sàng. Những âm thanh náo nức báo hiệu việc rước thành hoàng bắt đầu với trình tự sau: mở đầu là hai hàng cờ, rồi trai làng thổi tù và, lưng đeo thước, đeo kiếm; đội trống chiêng và múa sư tử mở đường, ông hiệu trống, hiệu cờ dẫn kiệu ông và đội múa trống ngũ lôi, múa mõ; theo kiệu là các lão ông, tiếp theo là đội nữ sênh tiền vừa đi vừa múa, bà hiệu chiêng, hiệu cờ dẫn kiệu Bà; rồi các cụ cầm cờ phướn... Hai bên đường là dân làng, khách thập phương đến dự hội. Lệ làng xưa, quân kiệu phải là những gái làng xinh đẹp, trai làng tuấn tú, được chọn lựa và tập luyện công phu (chưa vợ, chưa chồng, có đức tính tốt, phẩm hạnh ngoan ngoãn, không tang, không tiếng xấu).

Được chọn làm quân kiệu, hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng là vinh dự của gia đình họ hàng thân tộc.

Ngày đầu của hội rước kiệu từ miếu đi quanh ao đình về đình, mặc dầu đoạn đường chỉ ngắn khoảng 500 mét nhưng phải từ sáng đến quá trưa đám rước mới tới nơi. Theo tục lệ cổ rước kiệu phải đi từng bước một theo nhịp trống lệnh (trống khẩu), cứ 3 bước tiến 1 bước lùi. Hoặc có lúc đi bước dồn, lùi bước dồn hoặc quay kiệu.

Ngày cuối, 15 tháng giêng lại rước kiệu từ đình đi quanh ao về miếu. Ao này được coi là viên "ngọc quí" của làng.

Hội làng Đa Sĩ đã làm giảm bớt đi những ưu phiền, đem lại sự hòa đồng, niềm tươi vui, phấn khởi cho mọi người. Tục rước kiệu của làng Đa Sĩ đã biểu hiện sự tôn kính người có công với nước, với dân, với làng xóm, tôn kính bề trên và trân trọng bề dưới, mỗi khi rước kiệu ra khỏi cửa miếu là kiệu Ông dừng lại để kiệu Bà đi trước. Khi rước về đến cửa miếu, thì kiệu Ông lại nhường kiệu Bà. Đó cũng là thế ứng xử văn hóa truyền thống, một nét độc đáo của lệ tục làng Đa Sĩ.

Trong hội, sân đình là nơi diễn các tích chèo, tuồng, trình diễn ca trù suốt cả thời gian hội. "Ca trù có mặt trong các cuộc tế lễ tiên thánh tiên hiền... Từ rất sớm nó đã có một bộ phận hát, múa mang tính chất tôn giáo, thờ cúng phục vụ cho phường, hội, làng, chạ trong các dịp ăn mừng được mùa, lễ tạ trời đất, hoặc tế các vị tổ nghề. Như tổ nghề lò rèn, tổ nghề đúc..." [1]

JPEG - 28.3 kb

Cứ liệu trên cho ta nhận biết ca trù cùng một lúc có hai mối quan hệ: quan hệ với tôn giáo và quan hệ với việc thờ các tổ nghề. Đa Sĩ đã có hai ông tổ lừng danh, là tổ nghề thuốc được tôn thờ làm thành hoàng làng và tổ nghề rèn.

Có lẽ vì thế mà ca trù được trình diễn trong hội làng? (12 tháng giêng là ngày giỗ tổ thành hoàng làng). Đó cũng là ngày hội truyền thống của làng Đa Sĩ.

Thời điểm diễn ra ca trù phục vụ cho tế từ lúc phù giá (rước kiệu) đến lúc lễ tạ, rồi vào cuộc hát cửa đình. Khi diễn ca trù thì ả đào vừa hát vừa múa theo nhịp đàn, trống, phách, song loan.

Khi tế, ả đào hát múa theo nội dung tiết mục hành lễ, ăn nhịp với các động tác của người tế.

Hát ca trù trong tế gồm có chín khúc, theo thứ tự sau:
- Nguyên hòa khúc (dâng rượu)
- Thái hòa khúc (thần vào vị)
- Thọ hòa khúc (tuần rượu thứ nhất)
- Dự hòa khúc (tuần rượu thứ hai)
- Minh hòa khúc (tuần rượu cuối)
- Hài hòa khúc (uống rượu nhận phúc thần ban)
- An hòa khúc (cáo biệt thần)
- Thuần hòa khúc (chờ mong thần ban phúc thêm mãi)
- Ung hòa khúc (lễ xong)

Hát ca trù cửa đình tuy có nội dung thờ thần, nhưng vẫn góp phần làm cho mọi người cùng hưởng, cùng vui, nó gắn với tính quần chúng, tính nhân dân.

Đa Sĩ là một làng nghề. Bởi vậy, lễ hội làng, bên cạnh những nét chung vẫn có những nét riêng của mình. Đặc điểm văn hóa ấy chính là nhân tố khiến hội làng Đa Sĩ tồn tại đến hôm nay.

[1] Tuyển tập thơ ca trù, NXB Văn học, Hà Nội 1987, tr. 11.

Nguồn: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}