Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Lễ hội Chử Xá

Đỗ Lan Phương | Thứ Hai, 30/09/2013 02:57 GMT +7
(Văn Hiến) - Chử Xá, còn có tên nôm là làng Sứa, là “anh cả” của 72 làng thờ Đức Thánh Chử ở vùng châu thổ sông Hồng bởi đây là quê hương của Ngài.

 

Chử Xá là một trong ba làng của xã Văn Đức (Trung Quan, Chử Xá và Sơn Hô) huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Từ Hà Nội (trung tâm thành phố), qua cầu Chương Dương, xuôi dọc theo đường đê sông Hồng xuống phía nam hơn chục cây số, qua làng gốm Bát Tràng, đi tiếp 3 km rồi rẽ phải xuống chân đê qua địa phận xã Xuân Quan, Kim Lan sẽ gặp bến đò Văn Đức (thuộc làng Trung Quan) thì rẽ trái đi thêm 2 km sẽ tới làng Chử Xá, như vậy, chúng ta phải đi khoảng 20 km.

Chử Xá được biết đến từ thế kỷ XV, là vùng đất cổ và có bề dày văn hoá lâu đời. Đối với người dân Chử Xá, nếu như Tết Nguyên Đán là Tết Niên lịch, tết của một chu kỳ mùa màng, thì hội đình mới thực sự là Tết của cả cộng đồng làng để tạ ơn và cầu ước tổ tiên (Đức Thánh Chử) cùng các vị thần Càn Hải Đại Vương Tứ Vị Thánh Nương, hai thần Đương Niên - Đương Cảnh giúp dân làng có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

JPEG - 19.8 kb
Sau kiệu của Đức Thánh Chử là kiệu của hai vị phu nhân

Lễ hội làng Chử Xá có một nét đặc biệt là nghi lễ được tổ chức ở hai nơi: Đình Chử Xá và Lăng Thân Phụ - Thân Mẫu của Chử Đồng Tử. Xưa kia, Hội làng được tổ chức trong ba ngày từ 17 đến 19 tháng Giêng (âm lịch). Dân làng phải chuẩn bị bắt đầu ngay sau những ngày Tết năm mới. Ngay ngày đầu tiên của năm mới, khi cụ Tiên chỉ ra đình thắp hương cúng năm mới đã khấn cầu các vị thần cho con cháu trong làng (các giáp) chuẩn bị lo ngày hội và lo lễ dâng thánh. Sau đó, hội đồng trưởng giáp (7 giáp) họp, do cụ Tiên chỉ chủ trì, bàn về các việc như chọn lựa những người được đứng trong ban tế (gồm 18-24 người, tuổi từ 40 trở đi), bầu chọn người làm Đông xướng, Tây xướng, cử người làm phụ tế (phụng văn) trong số những người tế; chọn lựa những người thực hiện lễ Mộc dục. Những người được chọn này sẽ phải trai giới một tuần trước ngày hội;bàn việc làm cỗ cúng ở đình và để đãi khách và những người hầu lễ (ban tế, ban nhạc, đội trống, đội sinh tiền, các vị chức sắc trong làng...). Theo quy định, mỗi giáp góp cỗ 7 cân xôi, 7 cân thịt, nếu giáp nào đăng cai phục vụ lễ (thay phiên thường niên) chỉ góp rượu. Giáp đăng cai hầu lễ làng phải trực ở đình từ một vài hôm trước hội để quét dọn đình và sân đình sạch sẽ. Năm nào khách đông (thường là “đại biểu” từ 72 làng thờ Chử Đồng Tử tới tế và dự lễ) làng phải lo nhiều cỗ thì ngoài số lượng đóng góp chung của các giáp, số lượng lương thực thực phẩm thiếu, làng sẽ giao cho các gia đình khá giả đảm trách, nhưng tất cả đều được gọi là cỗ làng. Cuối cùng, hội đồng trưởng giáp điểm qua tình hình chuẩn bị các nghi thức hầu lễ như múa trống xếp chữ, múa sinh tiền, múa con đĩ đánh bồng, phân công người đi cờ, đội rước chấp kích và bát bửu, điểm số thuyền dùng trong ngày hội (dùng trong lễ rước nước, đua thuyền).

Ngày 16 tháng Giêng (âm lịch), các gia đình bắt đầu chuẩn bị làm cỗ cúng ở đình. Cỗ cúng có hai loại: Cỗ chay (trai lễ) gồm: trầu cau, oản xôi, chuối, cam, mía (chặt tấm khoảng 30 cm, hai đầu bọc giấy điều), chè đường, chè kho, xôi vò, bánh gai, bánh cốm (làm giả từ thóc nếp ngâm nước rồi rang chín); Cỗ mặn (sinh lễ) gồm các món: thịt lợn luộc, thịt lợn xào (thái mỏng, to bản), canh thịt (thịt cắt vuông nấu loãng nước với nước mắm), đặc biệt có món “dừ” là một loại canh xột xệt dùng để chấm khi ăn với oản xôi. Canh “dừ” được chế biến từ xôi giã nấu với thịt mỡ cho nhừ, khi múc ra bát sẽ bày lên trên các miếng gan luộc. Cơm cúng được nấu bằng gạo tám, ngoài ra còn có bánh chưng, thịt gà (cúng cả con đã luộc chín, thường là từ cỗ các gia đình mang ra cúng để thụ lộc thánh).

Ngày 17 tháng giêng, làng bắt đầu vào hội. Hôm đó là ngày làm lễ Rước nước và Mộc dục. Một mâm cỗ chay bày cúng trên bệ Thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, hai mâm cỗ mặn bày cúng trước điện của Đức Càn Hải Đại Vương Tứ vị Thánh Nương và trước bàn thờ hai vị thần Đương Niên Đương Cảnh. Khi bày cúng Thánh Đức Càn Hải Đại Vương, cỗ mặn ở đây có 4 bát to cơm gạo tám (1 kg gạo nấu chín rồi chia bốn) với bát canh thịt (múc 16 miếng thịt) và đĩa thịt xào (cũng 16 miếng). Còn bên bàn thờ thần Đương Niên Đương Cảnh chỉ cần bày cúng xôi và chân giò luộc. Ngoài các gian Đại bái và Tiền tế bày cúng hoa quả, oản xôi.

Đúng giờ chọn, ông Tiên chỉ chỉnh tề trong bộ áo lễ vào thắp hương trong đình và vào lễ ở hậu cung xin các chư Thánh cho dân làng rước kiệu đưa choé đi lấy nước để làm lễ Mộc dục. Ở Lăng cũng tiến hành một nghi lễ tương tự.

Đoàn rước nước bắt đầu khởi hành từ đình, đi về hướng lăng để đón choé của Thánh Phụ Thánh Mẫu ở đó, rồi hướng ra bờ sông. Đi đầu đoàn rước là những nam thanh niên cầm cờ hội, cờ ngũ sắc, tiếp đến là các chàng trai rước bát bửu (trường đao, kiếm, bút, quạt, khánh, bàn cờ...), rồi đến đội trống chiêng của các ông trung niên. Tất cả những người này đều mặc áo dài lễ, thắt lưng xanh đỏ. Tiếp theo là đội múa sinh tiền của 12 em gái (8-12 tuổi), được làng chọn là nhũng em ngoan nết, con cháu các gia đình hoà thuận. Các em đều trong trang phục áo tứ thân màu đỏ, quần trắng, thắt lưng vàng, khăn dài choàng vai màu xanh. Các em vừa đi vừa múa sinh tiền tạo tiếng nhạc nghe thanh nhẹ, vui tai, những đôi tay kẹp khăn choàng đưa lên, vòng xuống tạo thành những cánh lượn uyển chuyển, các cụ còn gọi đó là điệu múa tiên. Có hai chàng trai đóng giả nữ múa điệu con đĩ đánh bồng, cũng đi liền đây. Cụ Tiên chỉ đi tiếp sau, bốn thanh niên khiêng hương án có hương nhang và hoa quả rồi đến các chàng trai khiêng kiệu đặt choé nước, họ đều mặc áo dài trắng với thắt lưng màu đỏ. Cuối đoàn rước là các bô lão, chức sắc, tư văn và dân làng.

Đến bờ sông (cách làng khoảng 3 km), những chiếc thuyền đã chờ sẵn và đón đoàn rước ra sông. Mỗi thuyền chở một kiệu có choé nước, những người khiêng và một ông được phân công múc nước. Cụ Tiên chỉ ở trên thuyền với choé nước của Chử Đồng Tử - Tiên Dung và Tây Sa, đi kèm theo là đội trống chiêng, tù và.... Các đội múa sinh tiền và đĩ đánh bồng ở các thuyền sau. Còn một vài thuyền chở các vị chức sắc và một số dân làng. Đoàn thuyền rồng được cụ Tiên chỉ hướng dẫn bơi vòng hai vòng theo hướng ngược dòng về đầu nguồn, trông xa giống những con rồng thật đang quấy nước theo nhịp trống chiêng, tù và và tiếng nhạc sinh tiền. Sau đó, đoàn thuyền dừng ở giữa sông để chọn một luồng nước trong làm lễ lấy nước.

Hương án lúc nào cũng nhang khói thơm ngát. Cụ Tiên chỉ đọc bài văn lễ hà bá rồi ném vàng thoi (đồ mã) xuống nước (500 thoi). Xong nghi thức này, những người được chỉ định lấy nước sẽ dùng gáo (sơn son thiếp vàng) múc nước dưới sông lên và mỗi vị Thánh chỉ cần lấy 4 gáo nước. Như vậy, choé của Đức Thánh Chử và nhị vị phu nhân cần 12 gáo nước, choé của Càn Hải Đại Vương Tứ Vị Thánh Nương cần 16 gáo và choé của bố mẹ Chử Đồng Tử cần 8 gáo.

Lấy nước xong, các thuyền đưa đoàn rước về bến rồi theo đường cũ trở về lăng và đình. Các choé nước được đưa vào lăng và đình để chờ lễ Mộc dục, cụ Tiên chỉ lại khấn trình Thánh các choé nước. Nghi lễ Rước nước kéo dài tới 4-5 tiếng đồng hồ.

Chiều cùng ngày (17-1 âm lịch), cụ Tiên chỉ thắp hương dâng thánh các lá phiếu dùng để bốc thăm chọn người trong ban lễ Mộc dục xem ai là người thực hiện lễ này ở lăng hay đình. Lễ Mộc dục được tiến hành vào đầu giờ chiều. ở đình lễ Mộc dục được làm ngay tại hậu cung. Ngai và bài vị được đưa ra khỏi bệ lau chùi sạch sẽ và khoác xiêm y mũ mão. Còn ở lăng, hai bức tượng Thánh Phụ, Thánh Mẫu được lau rửa sạch sẽ và thay khăn choàng. Dân làng cho rằng ai được làm lễ Mộc dục thì năm đó cả gia đình được nhờ lộc thánh, con cháu sẽ khoẻ mạnh, làm ăn dễ dàng.

Đêm ngày 17-1, các giáp tiếp tục làm cỗ làng cho ngày chính hội (18-1), cỗ làng cũng được chế biến như ngày hôm trước, với hai loại: cỗ chay (trai lễ) ; cỗ mặn (sinh lễ). Ngoài cỗ làng, các giáp còn phải làm cỗ thi (bánh dầy) tại nhà các ông trưởng giáp. Gạo nếp nấu xôi làm bánh dầy thi được tuyển chọn rất kỹ từ nếp quýt (nếp thơm) và được ngâm bằng nước mưa. Có khoảng 40 kg gạo nếp đã chọn, đã ngâm nước từ đêm hôm trước, vớt ra để ráo rồi cho vào hai chõ thùng (gỗ) đồ chín rồi đem ra giã làm bánh. Cối và chày giã được bảo quản rất kỹ, các chày giã được thay đầu bịt mỗi năm một lần (chày làm bằng tre già bịt đầu bằng mo nang). Thường mỗi giáp có 2 cối 8 chày, các cối giã xôi thường do các thanh niên khoẻ đảm nhiệm. Xôi giã nhuyễn được để vào mâm đồng thật sạch rồi đưa vào nơi “tạo” bánh - thường là buồng riêng được dọn dẹp sạch sẽ. Trước khi “bắt” (véo) bánh, các ông phải “lộn” đi “lộn” lại xôi đã giã xem còn sót hạt xôi nào không, nếu có thì dùng tăm gẩy ra để bánh được đảm bảo nhuyễn mịn hoàn toàn. Khi “bắt” bánh người ta xoa tay bằng lòng trắng trứng gà cho khô để khỏi dính tay. Bánh “bắt” xong được để ướm vào khuôn rồi mới đặt vào những miếng là chuối tây non (được rửa sạch và lau khô), lại có người khác chỉ chuyên ngồi dùng miếng vải chúc bâu nõn dúng vào nước chanh vắt trong chậu nước rồi xoa vào mặt bánh cho nõn trắng và bóng. Sau khi bánh được hoàn thiện, người ta xếp những chiếc bánh đó lên một sập gỗ (giường) và quây màn kín xung quanh để giữ không cho một hạt bụi vương vào. Mỗi chiếc bánh to bằng chiếc đĩa nhỡ (đường kính khoảng 17 cm) và nặng gần cân gạo. Như vậy, mỗi giáp làm được khoảng gần 40 chiếc bánh. Họ sẽ chọn ra 22 chiếc bánh đều và đẹp để bày cỗ thi. Mâm bày bánh hình vuông được sơn son và chạm trổ hình hoa lá rất đẹp (nay làng thay bằng mâm bồng lớn, hình tròn). Lòng mâm bày bánh đã đục sẵn các lỗ tròn cho vừa bánh, mỗi mâm có 22 lỗ. Cỗ bàn làm xong thì trời cũng sáng, mọi người chuẩn bị quần áo chỉnh tề và đem cỗ lên đình.

Sáng ngày 18 (tháng Giêng-âm lịch), người ta đã đưa sẵn long ngai và bài vị của Đức Thánh Chử và nhị vị phu nhân được đặt trên các kiệu ra ngoài sân đình để làm lễ. Hương án cũng được đặt ra ngoài sân đình, ngay chính giữa cửa, trước hương án người ta trải những tấm chiếu, các ông Đông xướng Tây xướng đứng hai bên. Sau các ông là phường trống. Hai ông Đông xướng Tây xướng là người điều hành các nghi thức lễ, sau mỗi lệnh xướng của hai ông là một hồi trống. Mở đầu là việc trình văn tế các Đức Thánh do ông chủ tế (Tiên chỉ) đọc, đứng cạnh ông chủ tế là hai ông phụ tế (hay còn gọi là phụng văn). Sau bài văn tế, cả ban tế (18 người, trang phục áo dài lễ màu lục, quần trắng và đi hài thêu rồng) vào tế và làm lễ dâng hương, dâng rượu, ông chủ tế nâng khay chén, còn hai ông phụ tế nâng hai be rượu. Sau các bước “cung, bái” các ông rót rượu đưa lên hương án để dâng Thánh. Ngày nay còn có thêm ban tế nữ (cũng 18 bà trong trang phục áo dài màu vàng, quần trắng, thắt lưng xanh, khăn vành dây màu vàng có đính kim sa) vào tế, theo điều khiển của Đông xướng Tây xướng, ban tế nữ vào dâng trà và hoa. Trong khi các ban tế của làng làm nghi thức tế lễ thì đằng sau họ là đội múa sinh tiền biểu diễn, hết bài thì đến hai cậu con trai giả nữ ra múa điệu con đĩ đánh bồng.

JPEG - 31.2 kb
Lễ tế tại lăng mộ Thân phụ Thánh Chử

Khi tế xong, ông chủ tế điều khiển đoàn rước các kiệu Thánh Chử và nhị vị phu nhân có mũ, áo, đai, hia ra lăng lễ trình Thánh Phụ - Thánh Mẫu. Đi theo đoàn rước cũng đủ cờ, trống, các đội tế, đội múa, v.v...

Ở ngoài lăng, người ta cúng cỗ mặn nhưng vẫn có hương, hoa, trà, quả. ở lăng cũng làm nghi thức như vừa trình ở đình, hai ông Đông xướng và Tây xướng cũng điều hành cuộc tế, có một bài văn tế để tạ ơn cha mẹ. Sau khi lễ cha mẹ xong, đoàn rước quay trở lại đình, long ngai và bài vị của Đức Thánh Chử và nhị vị phu nhân được đưa vào hậu cung. Cỗ mặn, cỗ chay được bày vào bệ thờ để cúng ngâm nga. Hai gian Đại bái và Tiền tế, người ta bày các mâm cỗ thi (bánh dầy) của 7 giáp.

Buổi sáng 18-1 (âm lịch) này, nghi thức tế lễ rất long trọng và thiêng liêng. Các làng thờ Chử Đồng Tử ở khắp nơi tới tế trong ngày hội ở Chử Xá. Các làng đó lập các đội tế nhỏ (6- 8 người) do các ông Tiên chỉ của các làng đó làm chủ tế, đây gần như là một cuộc hành hương về lễ tổ. Các làng thờ Đức Thánh Chử cũng có ý muốn lễ trình trước khi làng họ mở hội tế lễ Ngài (làng Chử Xá mở hội đầu tiên). Cuộc tế lễ có khi kéo dài đến hết ngày bởi các làng xa gần đến rải rác. Chử Xá đảm bảo tiếp khách chu đáo đúng như một người anh cả (làng xưa kia đã làm cả một con đường chạy dài suốt rìa làng, phía ngoài sông- được gọi là “đường khách” để tiếp rước các đoàn lễ ở các nơi đến).

Sau khi làng tế xong, hội đồng đại biểu các giáp và các chức sắc tổ chức cuộc bình xét về các cỗ bánh dầy của các giáp. Giải nhất sẽ thuộc về mâm cỗ mà bánh có chất lượng: trằng đều, mịn, nhuyễn, bóng và bánh không bị khô. Giải thưởng chỉ là một be rượu (đã cúng thánh), chục miếng cau khô và trầu têm hoặc có thêm bánh pháo, nhưng đó là một vinh dự vô cùng cho giáp giật giải năm đó. Họ cho rằng, giáp nào được giải nhất sẽ làm ăn thịnh vượng và mọi người đều khoẻ mạnh. Sau khi được giải, giáp được phép rước kiệu bánh đi vòng quanh làng.

Phía ngoài các ban tế, các đội múa sinh tiền, múa con đĩ đánh bồng thay nhau múa hầu Thánh. Đặc biệt, phải kể đến điệu múa trống xếp chữ “Thiên hạ thái bình” của 22 em trai (tuổi từ 10-15). Đây là điệu múa rất đẹp và nổi tiếng trong vùng, dân làng còn gọi là nghi thức lễ chữ.

Tuy nhiên, sau khi làng “anh” (Chử Xá) tế lễ xong, các làng khách (em) đến tế, người ta đã bắt đầu tổ chức các trò chơi (từ đầu giờ chiều) ở các bãi đất được san sửa phẳng ngoài sân đình.

Trước hết phải kể đến trò đánh gậy (còn gọi là múa gậy) của nam thanh niên- trung niên. Các cặp chơi với nhau phải cùng tuổi, thi thoảng có các cặp chơi mang tính thi thố thì có lệch tuổi. Muốn chơi được, họ phải tập luyện từ trong năm vào mỗi dịp nông nhàn và được các võ sư hướng dẫn. Chử Xá rất nổi tiếng về trò đánh gậy và trở thành ngón võ của trai làng. Xưa kia, vào năm 1370 đời Trần Nghệ Tông, vua đi theo đường sông Đà vào Thăng Long dẹp loạn Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ, trai làng Chử Xá đã hưởng ứng và mang theo gậy tre, theo sau thuyền vua về Thăng Long, giúp vua dẹp loạn. Sau này, trai làng Chử Xá cũng với cây gậy đã giúp nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật. Gậy múa (đánh) được chọn từ các cây tre đực già, các mắt ở đốt tre có 3 dễ, loại tre này làm gậy đánh khó dập, thân gậy không to dễ cầm, gậy có độ dài khoảng 2 m. Sau khi đã chuốt hết các mắt tre, người ta hơ qua lửa để nắn cho thẳng, rồi đánh bóng nhẵn, hai đầu được sơn đỏ. Các gậy tre này được dựng trước hương án cúng Thánh trước khi mang ra chơi.

Trò chơi đánh gậy thu hút mọi người từ già, trẻ, gái, trai bởi sự hồi hộp với tiếng gậy đập vào nhau nghe chát chúa cùng với tiếng trống điều khiển thúc dồn mỗi khi trận đấu ở bước quyết định. Các đường gậy múa tít, quấn vào nhau, không phân biệt được tay người nào với người nào, tiếng các bước chân nhảy lên nhảy xuống thình thịch... Các ngón võ được thay đổi làm sinh động cuộc chơi, lúc thì đánh năm cửa (ngũ môn), khi thì đánh ba cửa (tam môn). Tất cả đều là lối đánh trước- sau, trên- dưới, phải- trái phối hợp lại tạo thành các ngón võ. Có các cặp chơi quá mạnh mẽ đến gẫy gậy, người ta lại thay gậy khác và chơi tiếp.

Ngoài ao đình cũng có trò chơi khá hấp dẫn, đó là thi bơi thuyền (nhỏ) với mái chèo ngắn. Thanh niên các giáp có tài điều khiển thuyền lập thành các đội để thi với nhau. Mỗi thuyền chỉ cần 6 hoặc 8 người. Mỗi lần thi chỉ cần hai thuyền, và số người trên thuyền phải bằng nhau. Vì không phải bơi trên sông có đường thẳng mà là trong ao nên mọi người trong nhóm phải phối hợp với nhau thật khéo léo sao cho thuyền vừa đi nhanh mà vẫn có thể lượn theo vòng ao, không đâm phải bờ ao và không đâm phải nhau. Số vòng bơi do ông trưởng trò (thường là một người được làng bầu là người bơi giỏi và chèo thuyền giỏi nhất làng) đặt ra. Cứ hai đội thi với nhau rồi sau đó đảo đội thi. Trò chơi làm cho không khí hội thêm nhộn nhịp bởi tiếng trống thúc giục trên bờ, tiếng hò reo của mọi người cộng với tiếng khua nước oàm oạp. Nói là thi nhưng lại không có giải, đội nào thắng sẽ được dân làng truyền danh cả năm.

Một góc bãi khác, trò chơi chém mía (đất trồng của người Chử Xá trước đây vốn là bãi trồng một vụ mía) cũng sôi động không kém tuy không được tổ chức chính thức như các trò trên. Trò chơi này thể hiện sự khéo léo và có nhiều người tham gia. Rất nhiều mía từ các gia đình được mang vào hội để vừa chơi vừa phục vụ (bán) “giải khát” luôn. Các cây mía cần được chặt ra thành tấm và tự nhiên từ lúc nào, hình thành những người thi chặt mía nhanh và đều tấm. Ai đó có thể đứng ra làm trọng tài và hô “một-ba”, có nghĩa là một nhát dao chặt được 3 tấm mía hoặc “hai-năm” là hai nhát dao chặt thành 5 tấm mía. Để làm được, người tham gia chơi dựng cây mía lên, tay cầm phía ngọn mía vít nó xuống làm cho cây mía cong đi. Người đó dùng một con dao dài lưỡi hơi to bản và rất sắc chém thật mạnh một nhát từ trên xuống. Đường dao đó đi qua hai đoạn của cây mía cong (một phía ngọn, một phía gốc), thế là một nhát chia cây mía ra thành ba. Muốn chặt thành 5 tấm người ta cũng làm như vậy, trò chơi này đòi hỏi người tham gia phải có động tác khéo léo khi uốn cong thân cây mía, bởi cây mía mềm dễ uốn thì cũng dễ trượt gốc phía dưới đất, do vậy người ta thao tác rất nhanh và vung dao chặt mạnh, dứt khoát. Có nhà thua mất cả ôm mía mà vẫn vui vẻ. Những cây mía của người thắng cuộc được đem chia cho mọi người vây quanh ăn thoả thích.

Một trò chơi khác nghe cũng rất lạ, là trò cắt đậu phụ (Chử Xá là đất trồng màu nên có rất nhiều đậu tương, và đây là món ăn thường ngày của họ). Những bìa đậu phụ (hình chữ nhật) to gần bằng bàn tay ngay từ khi sản xuất người ta đã đưa vào đó những que tre vót nhỏ bằng cái tăm và đặt dọc hoặc ngang bìa đậu. Nhìn hình bìa đậu rất khó đoán cái que nằm ở đâu, thế mà vẫn có người có ngón tay nhạy cảm, người nhận lời đố tranh thủ lướt nhẹ các ngón tay trên bìa đậu trước khi cắt, cũng dùng tre vót que hình dẹt mỏng, rồi hạ tay cắt. Kết quả cũng khá hồi hộp, dù đoán trúng hay không thì cả người thi lẫn người đố đều phá lên cười mỗi khi kết quả “hiện ra”. Trò chơi cắt đậu là một trò chơi giải trí nhẹ nhàng, cả nam cả nữ, cả người già trẻ con đều có thể đố và giải đố.

Suốt chiều ngày 18, dân Chử Xá chạy qua chạy lại tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng (xem hoặc dự cuộc) vừa trò chuyện cùng nhau, chúc tụng cho nhau vụ mùa mới. Trong ngày hội, một số cô gái bày bán nước và trầu cau cho người chơi hội uống cho đỡ khát, ăn miếng trầu cho thơm miệng và mình thì có thêm chút lộc đầu năm. Các cô cố thể hiện sự khéo léo của mình qua miếng trầu têm cánh phượng mong các chàng trai tới mua. Các chàng thanh niên thường tụ nhau lại rồi kéo đi lần lượt các bàn của các cô xem trầu, bình phẩm, trêu chọc các cô. Lời qua lại đối đáp dễ gây cảm tình và đoán tính cách nhau để kết thân. Đây mới là ý muốn đích thực của các cô... Ngoài ra, còn một số trò chơi khác như đấu vật, chọi gà được nhóm họp thành hội chơi trên bãi..

Các trò chơi kéo dài suốt buổi chiều và riêng các bàn trầu nước của các cô thì bày bán cả tối, bởi tối làng có trò diễn chèo. Xưa kia, Chử Xá có phường nhạc rất giỏi và có nhiều kép chèo nổi tiếng như gánh hát của kép Viêu, Quản Giá với những nghệ nhân như ông Câu, bà Muộn... Buổi tối ngày mười tám này, các phường chèo thường diễn các vở Lưu Bình - Dương Lễ, Phạm Công - Cúc Hoa, Nhị Độ Mai, các tích trong Tam Quốc... Đã có năm họ diễn tích (phường chèo tự soạn) về cuộc đời của Đức Thánh Chử, tích diễn kéo dài nhiều đêm, bắt đầu từ đêm mười sáu. Không hiểu sao, về sau tích diễn này mất.

Ngày thứ ba của lễ hội làng (19 tháng Giêng), ngày cuối cùng được gọi là ngày Lễ Tạ hay còn gọi là ngày lễ Giải Y (cởi áo). Đồ cúng của ngày hôm đó chủ yếu dùng đồ chay (trai lễ): bánh dầy, oản xôi, hoa, quả, trà, rượu. Nhưng đặc biệt, ngày hôm đó, làng có một hũ (chĩnh) mắm cá Mòi mang ra đình cúng dâng thánh. Hũ mắm cá này được các giáp bầu chọn ra một giáp chuẩn bị lo lễ vật từ năm trước. Giáp nào được chọn làm mắm Mòi sẽ không phải đóng góp vật chất trong hội làng. Cá Mòi trông giống cá mè, thơm ngon và chắc thịt, hũ mắm Mòi được chuẩn bị từ năm trước- sau hội làng năm đó. Vào mùa cá Mòi (tháng 2-3 âm lịch) người ta đánh cá và chọn ra 100 con cá Mòi to bằng bàn tay (khoảng 2-3 lạng) rồi lấy ruột rửa sạch, để ráo nước rồi xếp vào hũ, cứ một lớp cá người ta rải một lớp muối và thính gạo rang vàng, trên cùng hũ cá người ta đổ vào một chén tống rượu gạo thơm ngon rồi đậy kín nắp đến năm sau mới mở ra cúng. Cá muối phải đảm bảo có màu đỏ, thơm và khô. Hũ sành muối cá không được dùng lại lần hai.

Đến chiều, cụ chủ tế (Tiên chỉ) ra đình làm lễ xin Giải Y (cởi áo) cho các Đức Thánh và đồng thời làng cũng xin Thánh cất các đồ: trống con, trống lớn, trống bồng, chiêng, thanh la, tù và (ốc biển, sừng trâu), sinh tiền. Lễ hội coi như kết thúc tuy một số trò chơi vẫn còn tiếp tục như đánh gậy, đấu vật, chọi gà, nhưng dường như không còn sôi nổi như hôm trước. Các phường chèo cũng diễn thêm đêm cuối.

Hội làng kết thúc, mọi người đều cảm thấy phấn chấn trước ngày mới vì đã nhận được ở hội sự phù hộ của các vị thần cho mình và cho vật nuôi, cây trồng.

Ở Chử Xá ngày nay, hội làng không còn quy mô lớn như xưa, chỉ kéo dài trong hai ngày. Các nghi thức tế lễ được rút gọn lại, số làng “em” đến lễ ít đi, chủ yếu là các làng ở xã Bình Minh (Yên Vĩnh -Châu Giang - Hưng Yên), làng Gòi (Tự Nhiên - Thường Tín - Hà Tây) đến tế. Nghi thức lễ hũ mắm cá mòi hiện nay không còn (trước năm 1945, tục này vẫn còn) vì Chử Xá đã hết nghề chài lưới trên sông và sông cũng không còn nguồn cá mòi, tục thi cỗ bánh dầy cũng đã mất, dân làng phải sang Vạn Phước, làng bên kia sông để đặt bánh dày bày cúng, một số các trò chơi như đua thuyền, chém mía, cắt đậu không còn bởi dân không còn trồng mía, cả làng chỉ còn 1-2 nhà làm đậu phụ...

Điều kiện tự nhiên môi trường tác động tới cơ cấu kinh tế, từ đó lại ảnh hưởng tới đời sống xã hội, con đường đi của lễ hội cũng có những thay đổi. Tuy nhiên, ý nghĩa của các hình tượng tâm linh của người dân không thay đổi. Tất cả các Đức Thánh đều là các vị thần bảo trợ cho xóm làng và cuộc sống của người dân nơi đây.

Nguồn: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}