Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Lễ hội Đền Cuông

Trần Minh Siêu | Thứ Hai, 30/09/2013 02:30 GMT +7
(Văn Hiến) - Do công lao dựng nước và giữ nước, ý chí bất khuất trước kẻ thù, Thục An Dương Vương được lịch sử đánh giá là người anh hùng dân tộc, đã nhiều lần lãnh đạo nhân dân đuổi Tần, đánh Triệu lập nên những chiến công hiển hách, mở đầu cho việc tạo dựng nên truyền thống anh dũng, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
JPEG - 24.1 kb

 

Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Thục An Dương Vương, nhân dân vùng Diễn Châu (nay thuộc xã Diễn Trung) đã lập miếu thờ ở cửa Hiền. Theo truyền thuyết mỗi khi màn đêm buông xuống, có những đốm lửa lập loè trên sườn núi Mộ Dạ. Nhiều người nghĩ rằng - đốm lửa là linh hồn vua Thục muốn yên ngự trên sườn núi, nên nhân dân đã lập đền và rước linh hồn ngài về đó để thờ phụng. Đền thờ Thục An Dương Vương có từ đó.

Đền Cuông nằm sát đường Quốc lộ 1A, là điểm cực nam huyện Diễn Châu cách thành phố Vinh 30 km về hướng bắc. Du khách đến di tích có thể đi bằng đường bộ, đường biển hay đường sắt, đều thuận lợi. Nếu đi bằng tầu hoả, dọc tuyến đường sắt Bắc - Nam, tới ga Mỹ Lý (Diễn Châu), chỉ cần đi bộ 1 km nữa là tới đền. Nếu đi bằng đường biển, chỉ cần neo thuyền ở cửa Hiền sau đó đi 3 km đường qua núi Mộ Dạ là tới.

Theo nhân dân truyền lại, hồi đó núi Mộ Dạ có rất nhiều chim công, đến nỗi đương thời có người gọi là núi Công. Thế núi Mộ Dạ đứng xa trông giống hình con công (hoặc con chim hạc) khổng lồ đang múa, đuôi xoè ra đến làng La Vân, hai cánh dang rộng với những ngọn núi lúp xúp, đầu công chính là nơi dựng đền Vua Thục. Vì thế nhân dân thường gọi đền thờ Thục An Dương Vương là đền Công, tiếng địa phương gọi là đền Cuông.

Niên đại khởi dựng đền Cuông đến nay vẫn chưa xác định được chính xác, nhưng đến thời Lê mạt, danh sĩ Phạm Đình Hồ (1768 - 1839) trong tác phẩm Vũ Trung tuỳ bút đã viết: “Nhân việc nhà tôi đi qua đền Cuông, đứng trên đầu hạc nhìn xuống, đền Thục An Dương Vương nằm trên sườn núi, nhìn thấy cổ hạc xanh rì đàn công múa rất đẹp, qua trung điện, hạ điện mái lợp tranh, qua ba cấp là xuống núi”. Năm 1802, vua Gia Long đã cho tu sửa lại đền. Đến năm Giáp Tý (1864) dưới thời Tự Đức, triều đình cho tu sửa và nâng cao như quy mô hiện nay, niên đại tu sửa còn ghi rõ ở ván ấm nhà hạ điện. Việc tu sửa theo sắc chỉ của vua Tự Đức phải chọn gỗ tốt, thợ giỏi về làm. Dựa trên biểu mẫu đã phê duyệt, hai hiệp thợ nổi tiếng ở Nam Đàn và Hưng Nguyên thi nhau làm. Khi khánh thành vua Tự Đức đã ban thưởng một đồng tiền vàng mang nhãn hiệu nhà vua để làm bảo vật của đền.

Đến năm Thành Thái thứ 10 (1897) nhà thượng điện được nâng cấp cho phù hợp với nơi thờ phụng vị vua chủ. Năm Khải Định thứ 1 (1916) phần ngoại thất được tu lý để hài hoà với nột thất của đền.

Đền Cuông là một công trình kiến trúc đẹp, vững chắc phù hợp với điều kiện thiên nhiên ở xứ sở miền trung có nhiều mưa to, bão lớn. Trên núi Mộ Dạ hiện nay là cả rừng thông bạt ngàn. Sau núi là biển cả mênh mông ngày đêm rì rào sóng vỗ, mỗi sáng sớm mặt trời từ biển nhô lên, tất cả cảnh vật được phủ hào quang rực rỡ. Về phía bắc dưới chân núi Mộ Dạ là cửa Hiền lịch sử, nơi có huyền thoại khi An Dương Vương cùng đường, thần Kim Quy đã hiện lên rẽ nuớc đưa ngài về cõi vĩnh hằng, nơi có ngôi mộ của Mỵ Châu, một nạn nhân của thiên bi tình sử. Bãi biển vùng cửa Hiền bằng phẳng, nước trong xanh là bãi tắm rất tốt, đây là vùng tiểu khí hậu không có gió tây nam, những đợt gió nóng từ đất Lào trườn qua dãy Trường Sơn, về tới đây bị cây rừng của núi Mộ Dạ chặn lại. Trên bãi biển nhô lên hàng ngàn hòn đá có hình thù giống như những con cá biển nên nhân dân gọi là bãi đá Ngư Hải. ở đây có một phiến đá to cao, bằng phẳng tương truyền những ngày đẹp trời, Thục An Dương Vương thường dạo chơi và đánh cờ với tiên ở đó, nên gọi là đá Bàn Cờ.

Khi bình minh thức dậy, cả bãi đá ánh lên vạn màu sắc rực rỡ. Có thể những hòn đá có màu sắc ở đây sẽ trở thành vật kỷ niệm cho những ai là du khách đã từng đặt chân tới đây. Nửa chiều khi bóng núi Mộ Dạ đổ xuống che hết cả bãi đá, thì nhiệt độ ở đây hạ xuống mát mẻ, dễ chịu, thần kinh được thư giãn, thoải mái. Nếu con người biết gia công mỹ thuật thì bãi đá Ngư Hải sẽ biến thành những bãi đá tự nhiên để du khách ngồi hóng mát, giải khát, thưởng thức các đặc sản vùng quê Diễn Châu, tâm hồn hoà quyện với biển, trời, non nước trong huyền thoại thần Kim Quy với vua Thục, Mỵ Châu với Trọng Thuỷ...

Từ đền Cuông nhìn về phía tây chưa đầy một cây số là núi Mụa, có dáng voi phục chầu về đền Cuông. Tục truyền rằng trên đỉnh núi này có ngót 50 tướng sĩ của vua Thục đã tuẫn tiết. Sát chân núi Mụa có phiến đá đồ sộ, bề mặt phẳng phiu in đậm bàn chân các nàng tiên lúc du ngoạn trần gian. Bên phải núi Mụa là núi Bạc có dáng hình con Kim Quy (Rùa Vàng) đang nằm im, mơ màng nhìn về đền Cuông, nhớ tới một thời oanh liệt của quá khứ. Không xa về phía tây có động Hồng Hoa với bao huyền thoại về việc tạo dựng quê hương vùng này. ở đó có đập nước Xuân Dương, phong cảnh nên thơ, cá nhiều và ngon, có thể là nơi bơi thuyền câu cá cho du khách đến nghỉ mát ở bãi biển cửa Hiền.

Từ đền Cuông ra phía bắc gặp núi Lưỡng Kiên (lèn Hai Vai), một thắng cảnh, một di tích lịch sử gắn liền với thời tiền sử và cả thời hiện đại, là nguồn cảm hứng đã sản sinh ra nhiều áng văn thơ nổi tiếng của bao thi nhân mặc khách. Quanh chân lèn Hai Vai có sông Bùng như một dải lụa uốn lượn giữa màu xanh của đồng lúa rộng thẳng cánh cò bay. Trên bờ sông Bùng tại làng Lý Trai, xã Diễn Kỳ có di tích lịch sử văn hoá của phụ tử đồng khoa tiến sĩ Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hoà thời hậu Lê, thành trãi ở xã Diên Hồng nơi tướng Đinh Lễ của Lê Lợi dùng kế mai phục cướp được 300 thuyền lương của tướng giặc Minh là Trương Hưng, buộc Tiết Phụ phải mở cửa ra hàng.

Cách đền Cuông về phía tây chừng 4km là làng Nho Lâm, nơi có nghề rèn nổi tiếng do Lư Cao Sơn một tướng của Thục An Dương Vương khởi tạo. Cũng tồn tại với đền Cuông, dưới chân phía tây núi Mộ Dạ, có dòng kênh uốn lượn do Lê Đại Hành đào vào thế kỷ thứ X.

Những lúc đẹp trời đứng trên đỉnh núi Mộ Dạ phóng tầm mắt ra bốn phía, ta mới thấy được những điều kỳ thú của một vùng non nước hữu tình, cứ ngỡ đây là nơi gặp gỡ của núi và biển, của sông ngòi và kênh rạch của lịch sử và tình yêu.

Đền Cuông là một di sản vật chất quý giá đã được Bộ Văn hoá - Thông tin ra quyết định số 9 QĐ/BT ngày 21/2/1975 xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia.

Trước đây các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã ghi nhận, khẳng định giá trị văn hoá quý báu, cao đẹp của di tích đền Cuông nên đã có nhiều bản sắc phong và tổ chức trùng tu, tôn tạo. Riêng vua Tự Đức đã tặng một đạo chiếu văn tôn vinh Thục An Dương Vương là “Nam quốc đế Vương”, xếp đền Cuông vào hàng quốc tế.

Từ xa xưa, lịch lễ tiết hàng năm của đền Cuông thường được tổ chức vào hai kỳ chính là ngày 15-2 (âm lịch) gọi là Xuân tế và 15-8 (âm lịch) gọi là Thu tế. Nhưng, lễ hội chủ yếu mở vào mùa Xuân trong các ngày 14,15,16 tháng 2 (âm lịch) tức là vào dịp Xuân tế [1]. Xưa, ban phụng sự tế lễ chuẩn bị cho lễ hội đền Cuông rất long trọng và chu đáo. Đền Cuông là đền quốc tế, nhưng việc phụng sự tổ chức tế lễ lại do tổng Cao Xá phủ Diễn Châu đảm nhiệm. Đền Cuông còn là đền thờ thành hoàng của 4 làng quanh đền: Tập Phúc (nay thuộc Diễn An), Cao Quan, Cao ái, Yên Phụ (nay thuộc xã Diễn Trung) gọi chung là Tứ thôn. Lễ hội đền Cuông xưa không chỉ bó hẹp trong phạm vi tổng Cao Xá, Tứ thôn mà quy mô của nó mở rộng ra cả vùng Đông Thành (gồm Diễn Châu, Yên Thành và một xã thuộc huyện Nghi Lộc hiện nay). Trước mấy ngày chuẩn bị vào đại tế ở đền Cuông, các đình phải làm lễ cáo yết và xin thần hoàng cho phép làng mở hội và rước kiệu thần về đền Cuông (vào các ngày 12,13-2).

Ngày 13-2, tại đền Cuông, ban phụng sự đền Cuông của Tứ thôn tiến hành làm các lễ:

Lễ rước nước: nước được lấy từ giữa sông hoặc ở giếng, rước về đền Cuông và các đình làng. Sau khi đám rước đến giếng, người ta trịnh trọng đặt kiệu long đình ở một nơi cao ráo, sạch sẽ. Hai thanh niên khoẻ mạnh (đã được trai giới), khiêng chum từ kiệu long đình xuống, đặt sát gần miệng giếng. Một cụ già được cắt cử trước, lấy gáo dừa có cán dài, đưa gáo ra giữa giếng múc từng gáo một đổ từ từ qua miệng vải điều căng qua miệng chum sau đó khiêng lên kiệu rước về đền Cuông.

Lễ mộc dục: ngay sau lễ rước nước, làng cử hành lễ mộc dục, rửa tượng thần, đồ tế khí, long ngai...

Tế gia quan: sau khi lau rửa, làm lễ khoác áo mũ cho tượng thần (đốt vàng mã), sau đó bắt đầu tuần tế trước long kiệu (gọi là tế gia quan).

Ngày 15-2, tổ chức lễ tế thần (đại tế), mục đích thỉnh mời và đón rước thần linh về dự hội để dân làng chúc tụng, tỏ lòng biết ơn đấng thần linh. Đây là nghi lễ trang trọng nhất trong hệ thống lễ. Sáng ra, trống, chiêng gióng 3 hồi 9 tiếng. Mọi chức sắc, bô lão tề tựu đông đủ, lễ phục trang nghiêm vào cuộc tế thần. Nói chung nghi thức tế lễ ở đền Cuông cũng là nghi thức tế lễ cổ truyền như ở các nơi khác, nhưng xưa, các vị về tế lễ ở đền Cuông đều là các quan về hưu và quan chức đương triều, người nào cũng áo mũ cân đai, làm cho buổi tế thần càng uy nghiêm, không khác gì một buổi thiết triều trước cung điện nhà vua. Chủ tế trong lễ chính Xuân tế và Thu tế hàng năm là tổng đốc An Tĩnh. Năm đại lễ (4 năm một lần vào các năm Sửu, Tỵ, Dậu), chủ tế là quan đại thần của triều đình là người trong vùng, đã hưu. Trước đây có Đông Các học sỹ Cao Xuân Dục, Tế tửu hoàng giáp Đặng Xuân Thụy đã từng làm chủ tế tại đền Cuông.

Buổi tế kéo dài thường là 2 tiếng đồng hồ, qua 40 lần xướng và thực hiện, kể từ khi “khởi chinh cổ” tới “lễ tất”. Sau lễ tế thần là rức kiệu. Đám rước thần ở đền Cuông xưa được tiến hành như sau: Đi đầu đám rước là cờ tiết, cờ mao. Tiếp đến là 5 lá cờ ngũ hành, mỗi cờ một màu tượng trưng cho một thứ vật chất (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ), tiếp đến là 4 lá cờ tứ linh. Tiếp đến là lá cờ bát quái. Các chân cờ đội nón dấu, áo nâu, nẹp đỏ, thắt lưng bó que. Tiếp sau đó là đám người mang biển hồi ty, tĩnh túc, trống cái, chiêng vừa đi vừa đánh theo nhịp đã quy định.

Kế tiếp là một ngựa hồng, ngựa bạch bằng gỗ to như ngựa thật, được trang trí rất đẹp đặt trên bệ gỗ có 4 bánh xe, mỗi bên có 2 người kéo. Ngựa có tán lọng che và có người vác hiệu đao đi hộ vệ. Kế tiếp là đoàn người vác chấp kích, đồ lỗ bộ, phường nhạc đồng, con đĩ đánh bồng, đám người mặc trang phục nhà lính mang kiếm lệnh, rồi đến phường bát âm, đám đô tuỳ khiêng long đình, long kiệu. Các bô lão, chức sắc ăn mặc lễ phục, dân làng đủ mọi lứa tuổi đi sau đám rước.

Đám rước một vòng từ đền Cuông xuống các làng sau đó lại rước về đền Cuông (hoàn cung):

Trong lúc đó, ở khu vực xung quanh đền, người trẩy hội kín cả một vùng, các phe, giáp, phường hội náo nức đua tài. Buổi tối, các phường tuồng, chèo, hát ca trù, hát giao duyên, ví phường vải, hát dặm... Ban ngày có đánh đu, cờ người, đấu vật, chọi gà, kéo co, múa lân, rồng, nấu cơm thi, làm nham (nộm).

Độc đáo của cuộc nấu cơm thi ở hội đền Cuông là theo hai thể loại: nấu cơm cần và nấu cơm canh cóc, đã đi vào câu ca:

“Đi coi (xem) một bữa cơm cần
Bõ công nhớp áo (bẩn), nhớp quần cả năm”.

Hay:

“Thôi đừng rầu rĩ nữa em
Sửa soạn khăn yếm đi xem cơm cần”.

Qua phần trình bày ở trên, có thể rút ra nhận xét là: lễ hội đền Cuông, phần lễ chiếm nhiều hơn phần hội.

Lễ hội đền Cuông, trong mấy chục năm qua, do nhiều nguyên nhân, không tổ chức được. Năm 1993, UBND huyện Diễn Châu bắt đầu cho khôi phục lại, xuân ất Hợi (1995) được sự đồng ý của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở Văn hoá - Thông tin, Sở Thể dục thể thao phối hợp với UBND huyện Diễn Châu tổ chức lễ hội đền Cuông nhằm phục hồi lại các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và để góp phần thoả mãn nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của quần chúng nhân dân.

T.M.S

[1] Tư liệu viết về phần lễ hội dưới đây, chúng tôi tham khảo Đền Cuông — di tích và lễ hội ­– Luận án thạc sĩ khoa học văn hoá của Lương Khải Hoàn — Hà Nội 1997.

Nguồn: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}