Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Dân tộc:

 

Mảng mầu Văn hóa Chăm Pa trong Văn hóa Hà Nam

Thứ Năm, 02/07/2015 08:12 GMT +7
   TS. Nguyễn Minh San
(Tạp chí Văn hiến Việt Nam)

 
 Nhà thơ Trần Mạnh Hảo có những câu thơ hay, mà tôi thích, thế này:

“Mẹ Âu Cơ đã đi vòng trái đất
Chọn vùng tâm bão để sinh con”

Vâng, cái “tâm bão” ấy chính là vị trí địa lý của nước Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, ở ngã tư đường của sự giao lưu khu vực Đông Nam Á và thế giới. Vị trí địa lý ấy và lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm qua đã tạo cho văn hóa Việt Nam luôn phát triển giữa hai lực nội sinh và ngoại nhập. Văn hóa ngoại nhập / ngoại lai vào nước ta đến từ mọi hướng, song mạnh nhất, đậm nhất là đến từ nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” Trung Quốc, với các yếu tố văn hóa nghệ thuật Hán – Trung Hoa. Tiếp đến và, gần như cùng thời điểm với văn hóa Hán – Trung Hoa là các yếu tố văn hóa nghệ thuật Chăm Pa từ phương Nam. Và, từ thế kỷ XVI, tới năm 1975 của thế kỷ XX, là các yếu tố văn hóa nghệ thuật Âu – Mỹ. Ứng xử với các yếu tố văn hóa ngoại nhập / ngoại lai ấy, dù là đến theo con đường nào, theo phương thức giao lưu văn hóa tự nguyện hay giao lưu văn hóa cưỡng bức, người Việt bao giờ cũng tiếp nhận hòa đồng những giá trị văn hóa ngoại lai – những yếu tố ngoại sinh ấy sau một quá trình “Việt Nam hóa” phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, qua đó tạo nên những thành tố mới của văn hóa Việt Nam, để làm giầu thêm sự hiểu biết, làm giầu vốn văn hóa của Việt Nam, để làm nên cái thế đứng “Bốn nghìn năm ta lại là ta”.

Đó là điều không thể bàn cãi. Bởi, văn hóa ngoại nhập / ngoại lai không chỉ là dấu vết nữa, mà là sự hiện hữu cả trong văn hóa hữu thể và văn hóa vô thể Việt Nam đều không khó để nhận ra những yếu tố văn hóa ngoại nhập / ngoại lai ấy trong chỉnh thể văn hóa Việt Nam hôm nay. Nghiên cứu để tìm ra đâu là yếu tố bản địa / nội sinh, đâu là các yếu tố ngoại lai (tất nhiên nay nó đã là văn hóa Việt Nam rồi) trong văn hóa Việt Nam hôm nay là vấn đề lớn, bao gồm nhiều lĩnh lực, đòi hỏi trí tuệ uyên bác của nhiều người.

Trong khuôn khổ một tham luận, tôi chỉ đi vào tìm hiểu các yếu tố văn hóa nghệ thuật Chăm Pa trong văn hóa Việt Nam và, cũng chỉ xin “liếc một liếc” (chữ của GS. Từ Chi) vào “Mảng mầu văn hóa Chăm Pa trong văn hóa Hà Nam”, mà thôi.
 
I. Dấu ấn văn hóa Chăm Pa trên đất Hà Nam
 
1. Hà Nam – nơi đầu tiên tiếp nhận và trồng Lúa Chiêm – giống lúa của Chăm Pa / Chiêm Thành

Nước ta là nước nông nghiệp trồng lúa nước. Cây lúa, có hai loại: lúa tẻ và lúa nếp. Cách nay khoảng 30 đến 40 năm, lúa tẻ mới chỉ có Lúa Mùa và Lúa Chiêm. Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì Lúa Mùa là giống lúa bản địa, còn Lúa Chiêm là giống lúa du nhập từ Chăm Pa / Chiêm Thành vào. Đến thời Lâm Ấp – Chiêm Thành, việc canh tác lúa đã phát triển mà đáng kể nhất là về sự đa dạng của các giống lúa trồng. Cư dân Chăm Pa đã phân biệt được các chân ruộng, định ra giống lúa thích hợp với thổ nhưỡng và thời tiết. Họ đã làm một năm 2 vụ. Ở Chiêm Thành, ngũ cốc không có lúa mạch mà có lúa canh (loại lúa chín muộn và ít nhựa như lúa tám canh, tức lúa mùa) và lúa túc (tức lúa tẻ, thường gọi là Lúa Chiêm), vừng, đậu. Giống lúa Chiêm này đã truyền sang Trung Quốc và Đại Việt. Theo Văn Doanh trong cuốn Tương Sơn dã lục (thế kỷ XI), vào thời nhà Tống “vua Chân Tông chăm lo đến việc trồng trọt, nghe nói ở Chiêm Thành có loại lúa chịu hạn… liền sai sứ dùng báu vật xin lấy giống, được 20 thạch lúa giống Chiêm Thành. Cho đến nay truyền bá đi các nơi”. Trong Tống sử, ở mục “Thực hóa chí” cũng có đề cập đến lúa Chiêm Thành “Năm Đại trung tường phù thứ 4 (1011), Hoàng đế thấy miền Giang Hoài, Lưỡng Triết thường bị hạn, khiến ruộng nước không thu hoạch được; sai sứ Phúc Kiến lấy ba vạn hộc lúa Chiêm Thành phân cấp cho ba lộ trồng. Chọn ruộng của dân, ruộng nào cao thì trồng. Đó tức là lúa sớm. Lúa này so với lúa Trung Quốc thì bông dài hơn, không có râu, hạt nhỏ, không cần chọn đất cũng cứ mọc” (Dẫn lại, Lịch sử Việt Nam, Nhà Xb Trẻ, 2006, Tập 3, tr 264 – 265). Trong Vân đài loại ngữ, mục “Phẩm vật”, Lê Quý Đông cho biết:  “Người nước Nam (tức Đại Việt) tiếp xúc với người Chiêm nên trồng được nhiều thứ lúa đạo, chín về mùa Hạ, gọi là Lúa Chiêm”. (Dẫn lại, Lịch sử Việt Nam, Nhà Xb Trẻ, 2006, Tập 3, tr 265). Sách Lịch sử Việt Nam cũng khẳng định: “… lúa Chiêm, tức là loại lúa đỏ hoặc lúa túc, trồng vào mùa Đông (tháng 12) chín vào mùa Hè (tháng 4), “một loại lúa đặc hữu ở Chiêm Thành (gọi là Lúa Chiêm) cũng đã được truyền sang Trung Quốc, sang Đại Việt” (Lịch sử Việt Nam, Nhà Xb Trẻ, 2006, Tập 3, tr 264). Từ khi xuất hiện giống  Lúa Chiêm thích hợp với thổ ngơi, thời tiết của xứ sở mới, trong đó có Đại Việt, đã góp phần quan trọng cho cả Trung Quốc và Đại Việt mở rộng diện tích và thời vụ trồng lúa, tăng sản lượng lương thực.  

Theo tôi, trên đất Đại Việt, nơi mà giống Lúa Chiêm được trồng đầu tiên là vùng Hà Nam. Những khái niệm, như “đồng Chiêm trũng”, “Chiêm khê, mùa thối” ra đời từ đó, và khi nói đến những từ này, người ta nghĩ ngay đến … Hà Nam và, chỉ Hà Nam mới có khái niệm đó.  Và câu ca dao:

“Lúa Chiêm ngấp nghé đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
theo tôi cũng ra đời từ Hà Nam.

2. Văn hóa hữu thể

2.1. Phù điêu (đầu) Người (mình) chim / Kinari

Nhiều công trình nghiên cứu, nhất là khảo cổ học đã khẳng định, trong nhiều công trình kiến trúc, phổ biến nhất là chùa thời Lý, tiếp đó là thời Trần đã có sự hòa trộn của văn hóa Việt - Chăm Pa.

Ở Hà Nam, yếu tố Chăm Pa để lại rõ rệt và phổ biến nhất là phù điêu / tượng (đầu) Người (mình) chim / Kinari trong một số bộ phận của kiến trúc thời Lý ở Hà Nam, tiêu biểu là Chùa Đọi và tháp Sùng Thiện Diên Linh (huyện Duy Tiên). Người chim (đầu người, mình chim) là nhân vật thần thoại trong văn hóa Ấn Độ - Chăm Pa. Họ / các nhân vật Người chim là các nhân vật chuyên lo việc ca múa nhạc trong các chùa tháp Phật giáo mà thần thoại Ấn Độ gọi là Kinari (Trung Quốc gọi là Ca La Tăng Già) phổ biến trong nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ - Đông Nam Á. Tại chùa Long Đọi, qua đợt khai quật khảo cổ học tháng 10 năm 2001, tại khu vực được cho là chân đế của ngôi Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh, Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng Hà Nam, đã thu được nhiều di vật quí, ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa thời Lý; trong đó, những tượng (đầu) Người chim / Kinari của văn hóa Ấn Độ / Chăm Pa. Hiện nay ở Bảo tàng Hà Nam đang lưu giữ một số tượng (đầu) Người chim / Kinari đó, có niên đại thời Lý, năm 1121. Đó là:

1. Tượng (đầu) Người chim / Kinari mất đế, chân, đuôi; tóc búi cao trên đỉnh đầu, hai cánh chim xòe ra, hai tay người đánh trống.

2. Tượng (đầu) Người chim / Kinari cao 58cm, bị sứt, đứng trên bệ hình chữ nhật, tóc búi cao trên đỉnh đầu, hai cánh chim xòe ra, hai tay giữ nhạc cụ, duôi chim vểnh cao, xòe rộng.

Về chất liệu, các tượng (đầu) Người chim / Kinari này đều tạc bằng đá. Tuy chúng có kích thước khác nhau, nhưng đều chung cách tạo dáng và bố cục. Tượng có khuôn mặt người đầy đặn, hiền từ, các chi tiết trên mặt đều sáng sủa, tóc tết thành búi trên đỉnh và được dải băng hoa buộc lại trên trán; ẩn hiện dưới những bông hoa cài trang điểm. Khuôn mặt người đó gắn với chiếc cổ cao ba ngấn, bộ ngực nở nang, đôi tay tròn mập biểu diễn một nhạc cụ nào đó (trống cơm, đàn, chũm chọe). Phần “chim” trong tượng Người chim trên thể hiện ở đôi chân chim gắn với thân người. Đôi chân ngắn, khỏe, có 3 móng sắc bám chắc lấy bệ tượng. Ngoài ra là đôi cánh chim xòe nhưng không dang ngang, mà mở rộng, dựng đứng áp sát thân, như đang quạt gió. Cái đuôi chim uốn cong hất lên cao. Nghĩa là, Người chim này vừa có tay người để biểu diễn nhạc cụ, vừa có cánh chim để bay lên. Cả khối tượng Người chim đậu chắc trên đế bệ. Tư thế này cho thấy, mặc dù tượng ở thế tĩnh, song lại trong một thế động. Cả khối tượng đó đứng trên một chiếc đế liền khối với tượng, có tác dụng như một chiếc đấu vuông thót đáy. Chỗ khác nhau của các tượng (đầu) Người chim này, cơ bản là ở các nhạc cụ (trống cơm, chũm chọe và đàn). Những nhạc cụ này có hình dáng khác nhau nhưng đều được nằm trước ngực nhân vật, và tay Người chim đang trong tư thế chơi/đánh nhạc. Nhìn đằng trước, tượng được cấu tạo hai nửa phải và trái đăng đối, có dạng khối tam giác lớn lồng lên khối tam giác nhỏ (bệ và bụng tượng) nên tĩnh mà lại động, chắc chắn nhưng chồng chềnh; nếu nhìn ở sườn bên thì lại có dạng một múi cam dựng đứng với cung cong quay vào phía trong, các đường vạch xếp lớp cánh và các lông cánh, lông đuôi cũng phụ họa theo gây ấn tượng về một sự khởi động muốn cho Người chim bốc lên. Trong cấu /kiến trúc Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh, những khối tượng (đầu) Người chim này được bố trí ở mặt ngoài của tháp, vừa giữ vai trò như những con sơn ở trên những chạc đỡ mái thuộc những tầng tháp khác nhau, vừa làm xứ mệnh trang trí mặt ngoài của ngôi bảo tháp.

Ngoài Chùa Đọi và tháp Sùng Thiện Diên Linh, chúng ta còn gặp loại tượng (đầu) Người chim này trong trong một số ngôi chùa, tháp có niên đại thời Lý khác, như: Chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, Tháp men thờ chùa Chò (Vĩnh Phúc); Tháp Chương Sơn (Nam Định)…

Ngoài tượng (đầu) Người chim, ở khu vực Chùa Đọi, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện yếu tố / dấu ấn văn hóa Chăm Pa qua hình tượng con rồng chạm nổi ở mặt trên của đế bia Sùng Thiện Diên Linh. Hình tượng rồng này, mà người xưa gọi là Long xà, tức rồng rắn vốn có nguồn từ hình tượng con rắn, con trăn rất phổ biến ở Việt Nam. Hình rồng này được xác định là hình tổng hợp những yếu tố của nhiều con vật khác nhau, trong đó cơ bản là từ con rắn. Trong nghệ thuật tạo hình Chăm pa nhiều hình rắn Nagar rất thực, nhiều hình con Makara huyền thoại và cả hình rắn đầu rồng đang vẫy vùng trong sóng nước (như ở tháp Bánh Ít- Bình Định)… Nhiều nhà nghiên cứu (trong đó có PGS Chu Quang Trứ) cho rằng, những con vật này của nghệ thuật Chăm Pa đã góp phần tạo nên con rồng thời Lý – Trần, mà đặc sắc nhất là cái mào lửa
.
2.2. Gạch trang trí ở Chùa Đọi và tháp Sùng Thiện Diên Linh

Hiện ở Chùa Đọi đã thu được khá nhiều gạch trang trí thời Lý, có niên đại thế kỷ XI (năm 1121). Những viên gạch này dài 21- 22cm; rộng 12 - 14cm; trên mặt trang trí hình vũ nữ dâng hoa, trong tư thế đầu, 2 tay, 2 chân của vũ nữ này mô phỏng giống như tư thế của vũ nữ Ápsara tạc trên các tháp Chăm ở miền Trung Bộ nước ta. Cũng tại chùa Đọi, cũng thu được những viên gạch trang trí có niên đại thế kỷ XI (năm 1121), có chiều dài 10cm, rộng 11cm, dày 4cm; một mặt trang trí nổi hai con rồng uốn lượn theo hình lá đề / lá nhĩ, một hình tượng vốn rất quen thuộc trong các kiến trúc tháp Chăm, trong các đài thờ, mà rõ nhất là hình lá nhĩ trên đài thờ bà ThiênYana ở Tháp Bà Nha Trang.

3. Văn hóa phi vật thể

3.1. Nghề làm trống Đọi Tam


Người Việt giỏi làm / đúc trống đồng và biểu diễn/ đánh trống đồng. Trống đồng Đông Sơn là đỉnh cao nhất của nghệ thuật đúc trống đồng. Cho đến thời Trần, tiếng trống đồng vẫn vang lên, khiến cho Trần Phu – vị sứ thần nhà Nguyên sau hàng chục năm quân Nguyên bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng, vừa đặt chân vào đất Việt, chợt nghe tiếng trống đồng vẫn cứ ngỡ là tiếng trống trận Bạch Đằng năm xưa, giật mình:

“Kim qua ảnh lý tâm đan khổ
 Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh”

Dịch:

“Bóng lòe gươm sắc lòng thêm đắng
 Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa”

Cho đến nay, chúng ta biết, trống da và nghề làm trống da xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ XI, bắt đầu ở làng Đọi Tam, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Nghề làm trống Đọi Tam có từ lâu đời, ước trên 1.000 tuổi. Theo truyền ngôn, ông tổ của nghề làm trống Đọi Tam là hai anh em ông Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản. Chuyện kể rằng, năm 986, khi được tin vua Lê Đại Hành sẽ về làng làm Lễ Tịch điền, hai anh em mới bàn nhau làm một cái trống  to để đánh trống mừng đón vua. Quả nhiên, hôm đón vua, hai anh em ông mang trống ra đánh, tiếng trống rền vang như sấm dội, khiến vua và dân làng vô cùng ngạc nhiên, thích thú. Dân làng tôn hai ông là Trạng Sấm. Mặc dù vậy, song không hiểu vì sao, trong một số tài liệu viết về nghề truyền thống của nước ta (như “Lược truyện thần tổ các ngành nghề” - Nxb KHXH-H, 1990), không thấy nói đến tổ nghề làm trống da. Sách này chỉ nói đến Tổ nghề đúc đồng là Dương Không Lộ (Ông là tổ chung cả nước, còn ở các làng đúc đồng Huế, Đại Bái (Hà Nội ) lại có Tổ đúc đồng của các làng này). Sách này cũng chỉ nói đến Tổ nghề thuộc da và làm giày dép da (là TS Nguyễn Thời Trung, làm quan thời Mạc, từ thế kỷ XVI, tại Tam Lâm thuộc Hải Dương ngày nay, học nghề này từ Hồ Nam Trung Quốc) mà không nói đến làm trống da. Sách này cũng nói đến Tổ nghề mộc (là Nguyễn Xuân Tài - Nữ thần Mộc) nhưng không nói gì đến nghề làm tang trống da. Với những lý do đó, tôi cho rằng, nghề làm trống da Đọi Tam có nguồn gốc từ Chăm Pa. Người làm trống da phải giỏi / biết cả nghề thuộc da (làm mặt trống) và nghề mộc (để làm tang trống). Nói như thế, còn bởi một lý do nữa là, người Đọi Tam có thể làm được hầu hết các chủng loại trống (như: trống đại, trống đội, trống đình, trống cơm, trống trường, trống nhà thờ, trống chùa, trống hội, trống múa lân sư rồng, trống khẩu, trống đế), trong đó, có trống cơm - một loại trống có nguồn gốc từ Chăm Pa.

3.2. Chùa Bà Đanh

Chùa Bà Đanh hiện nay, tên chữ là Bảo Sơn Tự, nằm ở làng Đanh/Đinh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Chùa Bà Đanh cùng với ngọn Núi Ngọc cách chùa không xa nằm bên tả dòng sông Đáy trong xanh uốn lượn hiền hòa ngay trước mặt. Kiến trúc chùa Bà Đanh hiện nay là kết quả của lần xây dựng vào năm Vĩnh Trị đời vua Lê Hy Tông (1676 – 1680). Điện thần của chùa là của dòng Phật giáo Đại thừa, với các tượng Phật, Bồ Tát, Hộ PHáp, và các tượng của đạo giáo như Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu,…Trong chùa có pho tượng của tín ngưỡng bản địa là bà Pháp Vân. Trong khuôn viên chùa còn có Phủ Mẫu thờ các tượng Tam Tòa, Tứ Phủ, Nhà Tổ. Cũng từ đó, dân địa phương đặt tên chùa là chùa Đức Bà làng Đanh, sau dân gọi tắt là chùa Bà Đanh. Quanh ngôi chùa Bà Đanh có nhiều tài liệu đã khẳng định lịch sử ngôi chùa này trước lần xây dựng mới và có sự bài trí điện thờ như trên, đã từng có những lớp văn hóa khác, chồng lấp lên nhau, lớp văn hóa sau chồng / phủ định lớp văn hóa trước. Đó là hai lớp văn hóa in dấu rõ nhất ở chùa Bà Đanh là lớp văn hóa Đạo Tứ Pháp và lớp văn hóa Chăm Pa.

Nhiều tài liệu cho rằng thoạt kỳ thủy, chùa Bà Đanh khởi dựng thuộc hệ thống chùa thờ Tứ Pháp, để thờ bà Pháp Vân. Sự tích về bà Pháp Vân được chính văn trong thần tích, thần sắc lưu giữ ở chùa này, và lưu truyền trong nhân dân địa phương đều nói rõ Bà Pháp Vân là một trong bốn người con của Phật Mẫu Man Nương và nhà sư Ấn Độ Thiền sư Khâu Đà La (là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), từ quê hương Luy Lâu – Bắc Ninh truyền về. Đặc biệt là sự hiện diện của pho tượng Bà Pháp Vân nói ở trên trong thần điện chùa Bà Đanh hiện nay theo kiểu “Tiền Thánh, hậu Phật” (thực ra Bà Pháp Vân cũng là một vị Phật – Phật dân gian Việt Nam), là bằng chứng rõ rệt nhất về sự tồn tại của tín ngưỡng này, trước khi Phật giáo chính thống  / Đại Thừa vào chiếm / thế chỗ.

Song, cũng tại chùa này, hiện cũng có nhiều tài liệu nói rằng, ngôi chùa Bà Đanh vốn một thời đã là nơi thờ một nữ thần của người Chăm. Có một thực tế lịch sử đã từng tồn tại nhiều thế kỷ, từ thời Lý, ngay tại Kinh đô Thăng Long, đã có một ngôi chùa Bà Đanh (nay là / mang tên chùa Bà Đá, Hoàn Kiếm, Hà Nội) thờ nữ thần Chàm do người Chăm Pa mang theo. Ngoài Kinh thành Thăng Long, còn có một số ngôi chùa nữa cũng mang tên chùa Bà Đanh, như chùa Bà Đanh ở Kim Bảng nói ở trên, và “Bà Đanh Tự” (tên chữ là chùa Thiên Phúc) ở xã Trà Phương, Kiến An, Hải Phòng. Chùa này do 25 người hoàng tộc nhà Mạc góp triền của, ruộng nương, trong đó có nhắc đến số ruộng của bà Thái hoàng Thái hậu cúng từ  năm 1542. Chùa Bà Đanh / Bà Banh là tên người Việt gọi ngôi chùa / nói đúng hơn là đền thờ nữ thần Pô Yan Dari của người Chăm. Vị nữ thần này được tạc bằng đá, mang dáng hình rất phồn thực, hai chân dạng / banh ra, phô phang cả âm hộ, vú vê căng mọng. Vị nữ thần này chuyên ban phúc cho những người đến cầu cúng, khi người này cầm gậy (bằng đá) thọc vào hạ bộ / âm hộ của thần, như biểu tượng sự giao phối thần thánh. Tên Bà Banh là cách gọi dân dã, chỉ sự “phô phang” các bộ phận sinh dục nữ đó. Hẳn đã rất ấn tượng về pho tượng này ở chùa Bà Đanh, nên tác giả Lương Hiền đã viết: “Đúng là trước gọi là chùa Bà Banh, trong chùa có thờ tượng nữ thần tình ái, có chày đá và cối đá, cho những người cầu tự cầm chày giã. Nhưng do từ Banh thô tục, nên gọi chệch đi là Đanh. Hơn nữa, chùa này thuộc làng Đanh Xuyên, nên cũng gọi là Chùa Đanh, hay chùa Bà Đanh. Thường có câu tục ngữ: “Vắng như chùa Bà Đanh”. Về sau, do sự biến đổi, lễ hội chùa Bà Đanh luôn đông vui tấp nập:

“Ai bảo chùa Đanh chỉ vắng tanh
Tháng ba, lễ hội khắp thị thành
Đều đổ xô về đường chật ních
Chùa Đanh lại hóa chốn đua tranh”

(sách: Hà Nam ngũ sắc – Hội VHNT  Hà Nam xuất bản năm 1997, tr 40).

Tiếc thay, trong chùa Bà Đanh hiện nay không còn sự hiện diện của pho tượng Chăm Pa cổ Bà Banh đặc biệt vô cùng quý giá này nữa. 

3.3. Tín ngưỡng thờ Mỵ Ê và Sạ Đẩu

3.3.1. Lai lịch bà Mỵ Ê

Tư liệu sớm nhất về bà Mỵ Ê là Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên viết vào thế kỷ XIV. Trong mục “Hiệp chính hựu thiện trinh liệt chân mãnh phu nhân”, sách này viết: Phu nhân không rõ họ là gì, người Chiêm Thành, tên là Mỵ Ê, vợ vua Chiêm Thành xưa là Sạ Đẩu. Dưới triều Lý Thái Tông, Sạ Đẩu không giữ phận triều cống, bỏ lễ phiên thần. Nhà vua thân sang đánh phương Nam. Đẩu dẫn quân chống lại ở sông Bố Chính, liền bị quân nhà vua đánh tan. Đẩu chết tại trận. Vương phi và tỳ thiếp bị bắt làm tù binh đưa về. Về đến sông Lý Nhân, nhà vua nghe nói Mỵ Ê đẹp, bèn mật sai quan Trung sứ triệu sang hầu ở thuyền ngự. Phu nhân hết sức phẫn uất, từ chối rằng: - “Vợ người rợ mọi quê kệch, ăn mặc xấu xí, nói năng thô lậu, không bằng các phi tần ở trung thổ; nay đau khổ vì nỗi nước mất, chồng chết, tự xét chỉ có một chết mà thôi, nếu ép cưỡng phải hợp hoan với nhà vua, sợ rằng nhơ đến mình rồng”. Bèn ngầm lấy chăn vải trắng quấn quanh mình, rồi nhảy xuống dòng sông. Chỉ thấy đánh ùm một cái đã không thấy bóng dáng người đẹp nữa. Nhà vua lấy làm kinh lạ, hối hận, cho cứu vớt nhưng không kịp nữa. Ở nơi ấy, những đêm yên tĩnh lặng sóng, trăng sao vằng vặc, thường nghe có tiếng đàn bà than khóc. Dân làng cho là chuyện lạ, dâng biểu xin lập miếu thờ (Đền thờ ở hai xã Lý Nhân, Lam Cầu, huyện Lý Nhân, Hà Nam). Từ đó mới hết tiếng khóc than. Về sau, nhà vua về Lý Nhân, thuyền đi trên sông thấy đền ở trên bờ, bèn hỏi. Người chung quanh kể lại việc ấy. Nhà vua nín lặng hồi lâu rồi nói: “Không ngờ đàn bà mọi rợ lại có người trinh liệt như thế. Nếu quả là vượt lên trên bậc kỳ vỹ anh linh, thì nên cho trẫm biết”. Đêm ấy, vào canh ba khuya khoắt bỗng thầy một trận gió thơm, hơi lạnh tỏa khắp, nhà vua thấy một người đàn bà vừa lạy vừa khóc mà rằng: - “Tôi nghe nói cái đạo người vợ là chỉ một chồng mà thôi. Quốc vương nước tôi trước kia tuy không dám tranh đua với bệ hạ, nhưng cũng là một trang nam tử có kỳ tài ở một phương. Tôi đã lạm được hầu khăn lược, ân ái dồi dào. Chẳng may mà nước tan vua chết. Tôi ngày đêm đau xót, nghĩ đến việc báo thù. Nhưng là phận đàn bà yếu ớt, không biết tính vào đâu. Nhờ có ơn lớn của bệ hạ sai sứ đưa tôi về nước nơi suối vàng gặp chồng, ý nguyện đã thỏa; còn như có gì là anh linh mà đâu dám đến đường đột”. Nói xong, bỗng không thấy đâu nữa. Nhà vua giật mình tỉnh dậy mới biết là giấc mộng. Bèn lập tức dọn rượu tế tạ, sắc phong làm Hiệp chính nương. Từ đó xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong là Hiệp chính hựu thiện phu nhân. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), tặng thêm hai chữ “trinh liệt”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), tặng thêm hai chữ “chân mãnh”. Đến nay thờ cúng, càng thấy linh ứng”. (“Việt điện U linh, Nam Ông mộng lục, Truyền kỳ mạn lục” – Nxb Văn học, 2008, tr 23 -  25).

Bà Mỵ Ê – một phụ nữ Chăm Pa đã “đi vào” Quốc sử quán triều Nguyễn  (“Đại Nam nhất thống chí”) trong tư cách một Liệt nữ được kính trọng, biểu dương: Liệt nữ người Chiêm Thành ở  Phủ Thừa Thiên (“Mỵ Ê trinh phu nhân: Là vợ chúa Chiêm Thành Sạ Đẩu. Lý Thái Tông thân đi đánh Chiêm Thành, Sạ Đẩu chống cự, bày trận ở bên sông Bố Chính. Quách Gia Di xông trận chém được Sạ Đẩu, rồi kéo quân vào thành Phật Thệ, bắt thê thiếp của Sạ Đẩu. Khi về đến Hoàng Giang, phu nhân nghe sứ của vua triệu đến hầu  thuyền ngự, bèn nhảy xuống sông tự tử, người trong nước cho là nghĩa, lập đền thờ, sau Thái Tông đi ra Lỵ Nhân, thuyền ngự theo ven sông thấy bờ có đèn lấy làm lạ, bèn hỏi bầy tôi, tả hữu đem việc ấy tâu bày, vua thương xót, sai quan tế phong Hiệp chính nương”. (Đại Nam nhất thống chí, T1, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr 245).

Sách “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam”, đã đề cập đến ngôi đền thờ bà Mỵ Ê trên đất Bắc, và thần tích của Bà (Đền thờ bà phi vợ vua Chiêm Thành là Mỵ Ê ở xã Lý Nhân, huyện Nam Xương, trấn Sơn Nam; nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm Minh Đạo thứ 3 (1044), vua Lý Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Sạ Đẩu (sử chép là giết chết Sạ Đẩu) cùng phu nhân Mỵ Ê đem về. Đến hành điện ở phủ Lý Nhân, vua sai gọi Mỵ Ê sang hầu ở thuyền vua, Mỵ Ê quyết thủ tiết, lấy chăn quấn vào người rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Vua khen là trinh tiết, phong là “Hiệp chính hựu thiện phu nhân”.). (Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam Viện nghiên cứu Hán Nôm - Nxb KHXH, H, 1991, tr 459 - 460)

Ngoài ra, lai lịch bà Mỵ Ê còn được phản ánh trong các bản thần tích, thần sắc hiện còn lưu ở những đền, miếu thờ Bà ở Hà Nam và các nơi khác. Các tài liệu trên, về cơ bản phản ánh đúng những chi tiết chủ yếu về lai lịch của bà Mỵ Ê đúng như Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên đã viết. Có một số tài liệu thì tóm tắt ngắn gọn, song có tài liệu lại thêm thắt một số tình tiết “râu ria” làm phong phú thêm câu chuyện, mà không làm thay đổi bản chất chuyện bà Mỵ Ê – một nữ thần Chăm Pa trên đất Bắc.

3.3.2. Việc thờ phụng bà Mỵ Ê

Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr 216), chỉ cho hay: “Đền Mỵ Ê phu nhân: ở hai xã Lý Nhân và Lam Cầu, huyện Nam Xang (tỉnh Hà Nội xưa, nay là thôn Lam Cầu / tên nôm là thôn Chàm, có 2 xóm, xã Nhân Thịnh, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Đền được lập từ thời Lý. Cuốn sách “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam” nói ở trên cũng cho biết ngôi đền thờ bà Mỵ Ê vợ vua Chiêm Thành ở xã Lý Nhân, huyện Nam Xương, trấn Sơn Nam; nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Song, qua thần tích, thần sắc về các vị thần được thờ trên đất Hà Nam và kết quả khảo sát thực tế của tôi, chắc chắn là chưa đầy đủ, có 15 di tích thờ bà Mỵ Ê trên đất Hà Nam. Cụ thể:

- TP Phủ Lý có 1 nơi thờ bà Mỵ Ê và chồng là vua Sạ Đẩu ở phường Lương Khánh Thiện (xưa là Thôn Chợ, thị xã Châu Cầu, huyện Thanh Liêm).
- Huyện Lý Nhân có 10 nơi thờ bà Mỵ Ê, là: Xóm Phúc Mãn, xã Phú Phúc; Thôn Vạn Thọ, xã Nhân Bình; Thôn Chàm (nay là thôn Lam Cầu), xã Nhân Thịnh; Xóm Tây Trữ, xã Tiến Thắng; Các xóm Phú Cốc 12, Phú Cốc 14, xã Phú Phúc; Xóm Đông Trữ, xã Tiến Thắng; Thôn Nguyễn Đồng, xã Hòa Hậu; Các xóm Thanh Nga 1 và Thanh Nga 2 thuộc xã Phú Phúc.
- Huyện Thanh Liêm có 04 nơi thờ bà Mỵ Ê, là: Thôn Hạ, xã Liêm Sơn; Thôn Thượng (tên nôm là Song Thượng), xã Liêm Sơn; Thôn Lê, xã Liêm Sơn;  Thôn Truật (tên thường gọi là làng Giụt), xã Liêm Sơn.
 
 II. Nguyên nhân xuất hiện di sản văn hóa Chăm pa trên đất Hà Nam
 
1. Nguyên nhân xuất hiện di sản văn hóa Chăm Pa trên đất Hà Nam

Sự xuất hiện di sản văn hóa Chăm Pa trên đất Đại Việt, trong đó có Hà Nam, là kết quả của sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Chăm Pa – Đại Việt diễn ra trong một thời gian dài, từ khi vương quốc Chăm Pa hình thành năm 192 cho đến khi Chăm Pa hòa đồng vào / thành một phần lãnh thổ Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII.

1.1. Từ khi dựng nước Lâm Ấp (năm 192) cho đến khi đổi tên là Hoàn Vương, sau đó là Chiêm Thành, quốc gia ở phía Nam nước Đại Việt này luôn thực hiện việc khuếch trương thế lực, mở rộng lãnh thổ; Trong đó, mục tiêu Bắc tiến được đặt lên hàng đầu, nhằm thôn tính lãnh thổ Đại Việt. Vào khoảng năm 980, biên giới Chiêm Thành ở phía Bắc đã đến khoảng núi Hoành Sơn thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, từ năm lập quốc 192 cho đến cuối thế kỷ XVII, nhất là từ thế kỷ X, khi quốc gia Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ ra đời, vương quốc này đã nhiều lần phát động chiến tranh xâm lược, không ít lần đánh chiếm, tàn phá Kinh thành Thăng Long.

Từ khi nước ta giành được độc lập, tự chủ (thế kỷ X), mặc dù luôn chủ trương giữ mối quan hệ ngoại giao hòa hiếu, nhưng trước hành động hiếu chiến “của ông bạn láng giềng” ở phía Nam, quân dân Đại Việt đã kiên quyết ngăn chặn các cuộc xâm phạm lãnh thổ và đập tan các cuộc xâm lược của Chăm Pa vào Thăng Long, và nhiều lần, để tự vệ và nhằm xóa bỏ tận gốc mối đe dọa nền độc lập quốc gia từ phía Nam, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chống xâm lược của các triều đại Trung Quốc ở phía Bắc, các vua Đại Việt đã nhiều lần phát binh trừng phạt, không ít lần đánh vào tận kinh đô của Chăm Pa. Vị vua đầu tiên của Đại Việt xuất chinh trừng phạt Chăm Pa đang có âm mưu phối hợp với nhà Tống ở phía Bắc để đánh Đại Việt từ cả hai phía, Nam đánh lên, Bắc đánh xuống, là vua Lê Đại Hành. Hành động đó diễn ra vào năm  982. Lần đó, Lê Đại Hành đã đánh vào tận Kinh đô Indrapura của Chăm Pa, cho phá sạch Kinh đô và bắt sống rất nhiều tù binh đưa về.  Sau khi dẹp tan giặc Chiêm ở phía Nam, Lê Đại Hành tập trung lực lượng để nghênh chiến quân Tống ở phía Bắc. Cuộc kháng chiến chống Tống (980 – 984) thắng lợi, nước Đại Việt nhanh chóng trở thành một quốc gia hùng mạnh.

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó: thời Lý, Trần, Lê,… cũng để tránh cùng một lúc bị đánh từ hai phía, dẹp yên hiểm họa Chăm Pa liên minh với các triều đại phong kiến Trung Hoa nhằm xâm lược Đại Việt, nhiều lần các vua Đại Việt đã thân chinh cầm quân trừng phạt Chăm Pa, đánh tận kinh đô nước này, bắt nhiều tù binh đưa về nước. Có thể kể đến cuộc chinh phạt năm 1044, nhà Lý tổ chức chinh phạt vào tận kinh thành Đồ Bàn. Nhà Lý chiến thắng, đã bắt đưa về Bắc trên 5.000 tù binh Chăm. Số tù binh này sau đó được đưa đến sinh sống rải rác từ Nghệ An đến vùng trung, thượng lưu sông Hồng, trong “các thôn ấp đặt phỏng theo tên gọi cũ của người Chàm”.

Tháng 3 năm 1069, vua Lý Thánh Tông chỉ huy hơn 5 vạn quân nhà Lý, chủ yếu là tủy quân, do Lý Thường Kiệt làm tướng tiên phong, giữ chức nguyên soái, xuất phát từ Thăng Long với vài trăm chiến thuyền theo đường thủy tiến vào Chăm Pa. Trận chiến thắng lợi, số tù binh Chăm bị bắt đưa về Đại Việt đông gấp mười lần số tù binh bắt trận trước, tức là khoảng trên dưới 50.000 người, “và không rõ nơi an trí họ ở đâu”. (Tạ Chí Đại Trường - Thần, Người và Đất Việt – Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2006, tr 170). Năm 1074 Chăm Pa lại quấy rối, khiến cho nhà Lý trước khi vào cuộc kháng chiến chống Tống ở mặt Bắc, đã phát binh đánh Chăm để yên mặt Nam, họa bản đồ, mộ dân Việt đến ở.

Một điều chắc chắn là số tù binh Chăm Pa bị nhà Lý bắt đưa về Đại Việt chủ yếu là cung nữ biết múa hát, những nghệ nhân dân gian đủ mọi ngành nghề (dệt, gốm, …), kiến trúc sư. Dấu vết về nơi ở của những tù binh trên đất Đại Việt hiện vẫn còn qua tên các địa danh mang địa danh Chàm. Ví như, ở vùng Hồ Tây, Hà Nội có bến, có đồng Lâm Ấp thuộc xã Xuân Đỉnh, là nơi của người Chàm ở, còn truyền lại chuyện người nữ tù binh với 24 nữ tỳ lập trang Thiên Niên, chết đi được tôn làm Bà Chúa Dệt Lĩnh và được thờ ở đền Thiên Niên. (Tạ Chí Đại Trường - Thần, Người và Đất Việt – Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2006, tr 170).

Đó là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận.

Tỉnh Hà Nam - là vùng đất phên dậu, cửa ngõ phía Nam Kinh đô Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Vùng này là một “tứ giác nước”, bởi nó gần như bị bao bọc bởi 4 con sông, là sông Hồng ở phía Đông, sông Đáy ở phía Tây, và Nhuệ Giang ở phía Bắc, Ninh Giang ở phía Nam. Từ Kinh đô đi Hà Nam và từ đó để đi về phía Nam (cũng như từ Hà Nam và cả phía Nam đất nước đến Kinh đô), bằng 2 con đường là đường nước và đường bộ (đường kinh lý, nay là Quốc lộ 1A) đều phải qua đất Hà Nam. Vì thế, hầu hết các cuộc xâm lăng / đánh vào Thăng Long (hoặc bị thua phải rút chạy) của quân Chiêm Thành (và cả quân Trung Quốc) đều đi / và cả dừng lại / qua đất – sông Hà Nam. Và, cũng vậy, hầu hết các cuộc phát binh đi chinh phạt Chăm Pa của Thăng Long đều đi qua Hà Nam, chủ yếu là đường thủy. Trong các cuộc chinh phạt Chăm Pa ấy, khi ca khúc khải hoàn mang theo tù binh, chiến lợi phẩm, đặc biệt là các cô vũ công Chăm Pa xinh đẹp hát hay múa dẻo, cũng như một hai lần thất bại ê chề ủ rũ kéo về đều đi qua / và dừng lại nghỉ ngơi ở Hà Nam, cụ thể là ở vùng huyện Lý Nhân (nơi có Hành cung của nhà Lý và phía đối diện sông Châu Giang là Hành cung Thiên Trường của nhà Trần), Thanh Liêm, TP Phủ Lý, Duy Tiên, Kim Bảng. Trong những lần chinh chiến ấy, quân Đại Việt, dù chiến thắng hay thất bại, sau mấy tháng trời chinh chiến và phải vượt qua chặng đường dài vật lộn với sóng biển trở về, nhất là sau khi đã vượt qua được dòng xoáy nguy hiểm của sông Hồng ở đoạn Ngã Ba Tuần Vường (“Nhất cao là núi Tản Viên / Nhất sâu là vũng Thủy Tiên Tuần Vường”), đều chọn đất Lý Nhân, nói đúng ra là chọn những bến cảng sông Hồng, sông Châu Giang của Lý Nhân nằm trên Ngã Ba Tuần Vường chừng 7- 8km để nghỉ ngơi, mừng đã thoát chết trở về, cũng như để đưa số tù binh Chăm bị bắt được bố trí ở lại Hành cung Lý Nhân cũng như để  khai phá vùng đất bãi bồi sông Hồng này. Sở dĩ nói như vậy, bởi, mầy chục năm sau, vùng đất thuộc xã Bảo Lộc mà sau đó nhà Trần lập Hành cung Thiên Trường ở đây, vẫn còn là vùng đất cát bồi. Vùng này đã được An Sinh vương Trần Liễu mộ dân khai khẩn, lập ấp. Do Hưng Đạo Vương có công lớn bình Nguyên, nên được lập sinh từ ở đó. 

Vì thế có thể khẳng định rằng, nơi tiếp xúc và giao lưu văn hóa Chăm Pa với Đại Việt đầu tiên là diễn ra trên đất Hà Nam. Từ đó, có thể giải thích vì sao dấu vết văn hóa Chăm Pa trên đất Hà Nam, cả văn hóa hữu thể và văn hóa phi vật thể, lại đậm đặc như vậy. Nói cách khác, trong văn hóa Hà Nam hôm nay, đã có sự hòa trộn đến mức rất khó tách bạch /làm nên bởi / văn hóa Chăm Pa và văn hóa Việt.

1.2. Người đầu tiên “đưa” văn hóa Chăm Pa về Đại Việt nói chung, Hà Nam nói riêng, chính là Hoàng đế Lê Đại Hành, một người con của Hà Nam. Với hai sự kiện lịch sử là: thời điểm giống Lúa Chiêm của Chăm Pa xuất hiện ở Đại Việt là đầu thế kỷ XI, và thời điểm xuất hiện chiếc trống da đầu tiên ở Đọi Tam là để mừng đón Lê Hoàn ca khúc khải hoàn đánh thắng Chiêm Thành, chúng tôi cho rằng không phải là ngẫu nhiên, mà, chính Lê Đại Hành sau cuộc chinh phạt Chiêm Thành chiến thắng trở, ông đã mang theo giống lúa Chiêm của người Chăm và mang theo nhiều nghệ nhân, trong đó có những nghệ nhân làm trống da để sau đó, theo yêu cầu / lệnh của ông những nghệ nhân này đã đóng những chiếc trống đánh trong lễ mừng công của quân dân Đại Việt. Dần dần, nghề làm trống phát triển, như làng trống Đọi Tam ngày nay.

1.3. Việc tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa văn hóa Chăm Pa và Đại Việt diễn ra theo 2 “kịch bản”

- Một là, sau những trận chiến thắng Chăm Pa, quân Đại Việt lấy chiến lợi phẩm (những hiện vật / đồ vật / sản phẩm / mẫu điêu khắc,…là văn hóa hữu thể) và bắt người (những nghệ nhân, nghệ sĩ, cung nữ, các nhà pháp thuật làm phù chú, đạo sĩ …) là những tinh hoa văn hóa – nghệ thuật Chăm Pa đưa về nước. Những hiện vật dùng để làm mẫu, cho người bắt chước mà làm y xì hoặc có môrife đưa yếu tố văn hóa Việt vào, sau đó sản xuất ra một sản phẩm mới của Đại Việt. Còn những nghệ sĩ múa, hát, các nghệ nhân Chăm Pa sẽ trình diễn, truyền dạy / huấn luyện cho các nghệ sĩ Việt những tinh hoa, ngón nghề của mình. Từ lâu, các nhà âm nhạc học đã khẳng định âm nhạc thời Lý có ảnh hưởng nhạc, múa Chàm rất rõ. Hay như, điệu múa “con đĩ đánh bồng” thường biểu diễn ở nhiều lễ hội (như Lễ hội làng Triều Khúc – Hà Nội), với 4 vũ công nam giả gái, ưỡn ẹo, vỗ chiếc trống cơm Chàm đeo trước bụng đánh nhịp điều khiển, là có nguồn gốc Chăm Pa,...

- Hai là, số tù binh Chăm Pa được bố trí sinh sống thành làng độc lập nằm xen kẽ (xôi đỗ) với làng của dân Việt bản địa (như ở vùng Hồ Tây, Hà Nội có bến, có đồng Lâm Ấp thuộc xã Xuân Đỉnh, là nơi của người Chàm ở,…). Tại đây, họ phải tự túc, tự cấp là chính. Cũng tại đây, đám cư dân Chàm xa quê, sinh sống trên vùng đất mới, đã mang gần như nguyên vẹn phong tục tập quán, tín ngưỡng riêng,… đã ăn sâu vào máu thịt họ ở nơi quê cha đất tổ gây dựng trên vùng đất mới này. Theo thời gian, văn hóa của những cộng đồng Chăm Pa này và văn hóa của cư dân bản địa Đại Việt tiếp xúc, giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau.

Người Việt vốn bản tính hiền hòa, không kỳ thị dân tộc, tôn giáo, nhanh ứng phó với hoàn cảnh theo phương châm “có bệnh thì vái tứ phương”, nên dễ học hỏi, không câu nệ, phân biệt quá đáng, sẵn sàng học hỏi / chấp nhận những cái hay trong văn hóa của kẻ bại trận – những người Chàm. Vì thế, người Chăm Pa đã có một “chiến thắng ngược”, khi văn hóa của họ - kẻ bại trận “đánh bại” kẻ thắng trận. Một ví dụ điển hình là ở xã Xuân Đỉnh (Hà Nội) - nơi người Chàm ở năm xưa, còn truyền lại chuyện người nữ tù binh với 24 nữ tỳ lập trang Thiên Niên, chết đi được tôn làm Bà Chúa Dệt Lĩnh và được thờ ở đền Thiên Niên.

Những di sản văn hóa Chăm Pa trên đất Đại Việt, trong đó có Hà Nam tồn tại và ăn sâu vào đời sống người dân Việt, trở thành di sản văn hóa Việt Nam qua hàng nghìn năm là thế.

Trong một tài liệu của Hà Nam, khi nói về hiện tượng thờ Hoàng hậu Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu của Chăm Pa ở Hà Nam, có viết: “Có lẽ hiếm nơi đâu lại có chuyện lạ lùng là người dân dám xây mộ, xây đền thờ “vợ giặc” như ở Hà Nam”. Theo tôi, không chỉ có người Hà Nam xây mộ, xây đền thờ “vợ giặc” và “giặc” – những kẻ đã từng mang quân xâm lược, gây bao chết chóc, đau thương cho người Việt Nam, mà trong tín ngưỡng của người Việt ở nhiều nơi khác cũng có hiện tượng này. Ngoài thờ cúng những người có công giúp dân giúp nước, người Việt còn thờ cả các vị thần mà họ cho là “thần ác”, cả các tướng giặc bị chết trận (như: ở Hà Nội, có ngôi miếu thờ Sầm Nghi Đống – tên tướng bại trận khi xâm lược Việt Nam, để cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ, trong đó có câu nổi tiếng “Ví đây đổi phận làm trai được”. Các viên tướng Tầu, như: Mã Viện, Liễu Thăng,… lại được chính người Việt thờ. Triệu Đà trở thành Thành hoàng làng Đồng Xâm, tỉnh Thái Bình…

Trước hết cần khẳng định, nhân dân ta có chủ ý và phân biệt việc thờ phụng trên. Một là, người Việt thờ các tướng giặc đã có nhiều tội ác với nhân dân ta, là chỉ vì lý do tín ngưỡng. Thờ hắn, “để hắn quản số ma lính của hắn chết trận, hay quấy nhiễu”. Hai là, lý do nhân đạo. Người Việt thờ cúng các tên tướng giặc Tầu như vậy không phải bởi vì ân vì nghĩa, không phải bởi chữ Lễ mà, bởi người Việt quan niệm, những tướng giặc kia cũng là con người, bị chết nơi đất khách, không ai cúng cấp, sẽ bị đói. Vì vậy, với bản tính “thương người như thể thương thân”, người Việt cúng cấp cho chúng khỏi đói. Và cũng là để phòng nếu không cúng cấp / tức cho chúng ăn, để chúng trở thành ma đói sẽ phá phách, ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và cộng đồng.   

Trong quá trình diễn ra các “kịch bản” trên, văn hóa Chăm Pa, cũng như bất cứ văn hóa nào đến Việt Nam cùng thời hoặc sau đó, thì người Việt Nam cũng biết phân biệt; tiếp thu những tinh hoa của nó để nâng tầm văn hóa dân tộc ta lên; đồng thời thải loại những gì phản tiến bộ, không lành mạnh trái với đạo lý Việt Nam. Chính vì vậy, văn hóa Việt Nam có sức mạnh to lớn và sức mạnh ấy xây đắp nên tinh thần làm chủ của dân tộc ta.

2. Về chủ thể đầu tiên thờ phụng bà Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu – những người Chăm Pa trên đất Hà Nam

Với hai “kịch bản” giải thích về sự hiện diện di sản văn hóa Chăm Pa trên đất Đại Việt / Hà Nam trên, vậy việc thờ phụng bà Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu – những người Chăm Pa trên đất Hà Nam diễn ra theo “kịch bản” nào?

Theo tôi, việc này diễn ra theo “kịch bản” thứ hai. Nghĩa là, từ thời Lý, có một bộ phận tù binh Chăm Pa đã được bố trí sinh sống ở vùng đất nay thuộc một số xã nằm ở phía Nam huyện Lý Nhân. Số người Chăm này được gọi bằng cái tên “người Man” (Đây là cách gọi ảnh hưởng thư tịch cổ Trung Hoa thời Hán gọi chung dân bản địa cả vùng Giao Châu là tộc người Việt phương Nam hoặc người Man - là người ở phía Nam đất nước; là loại người man di mọi rợ. Ở một số vùng (như ở nhiều vùng thuộc tỉnh Quảng Bình – vốn là đất cũ Châu Ô – đất của Chiêm Thành, thế kỷ XIII, vua Chiêm là Chế Mân đã sính lễ cùng với Châu Lý để được cưới công chúa Huyền Trân con vua Trần Anh Tông, năm 1306, để từ đó biên giới Đại Việt đến vùng Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay), người Chăm được người Việt gọi với cái tên người Hời).  Bộ phận “người Man” này không được ở trong đê (sông Hồng) – nơi người Việt đã lập làng, sinh sống ổn định từ lâu, mà phải ở ngoài đê, khai phá vùng đất bãi bồi sông Hồng dọc dài theo chân đê này. Bằng chứng là, sách Địa chí Hà Nam, căn cứ vào các nguồn sử liệu (như: Quốc sử quán triều Nguyễn là Khâm định Việt sử thông giám cương mục), đã viết: “Năm Tân Tỵ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, vua Lê Hiển Tông (1761), triều Lê – Trịnh, lệnh cho lấy đất bãi của xã Nễ Độ, huyện Nam Xang (nay thuộc huyện Lý Nhân) và xã Yên Lệnh (nay thuộc huyện Duy Tiên) ở Sơn Nam Thượng lộ, trích cấp cho người Man cày cấy, đặt làm Sở Tuy Viễn” (Địa chí Hà Nam - Nxb KHXH, H, 2005, tr 246).

Một bằng chứng nữa là tên địa danh “Trục Mãn” đã từng tồn tại là đơn vị hành chính của huyện Lý Nhân. Theo Địa chí Hà Nam (tr 1201 – 1202): vào đầu thế kỷ XIX, huyện Nam Xang nằm trong phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam Thượng, bao gồm 10 tổng, 80 xã, thôn, phường,  trang, trại, sở. Tổng Đồng Thủy có 13 xã: Đồng Thủy, Thọ Mai, Lam Cầu, Lỵ Nhân, Phú Cốc, Đà Xuyên, Cao Đà, Bảo Đà, Trà Thục, Do Đạo, trang Bảo Đà, sở Trục Mãn, trại Bảo Đà. Tôi chú ý tới tên “sở Trục Mãn”. Sau nhiều lần tách ra, nhập vào và thay đổi tên gọi, hiện nay khu vực thuộc “sở Trục Mãn” nằm trong địa phận xã Phú Phúc, với tên gọi là Xóm 8 / Phúc Mãn.

Trong một lần điền dã, tôi đã gặp ông Đỗ Văn Thiều (sinh năm 1943) người làng Phúc Mãn cũ, tên cổ là Chục Mãn (không phải là Trục Mãn), nay là Xóm 8, xã Phú Phúc, nguyên cán bộ điện lực về hưu, hiện đang trông coi mộ bà Mỵ Ê. Ông kể rằng, lăng mộ Bà Mỵ Ê xuất hiện từ năm 1044. Khi phu nhân Mỵ Ê bị bắt làm tù binh đưa ra Bắc, Bà có 10 người hầu, 3 nữ, 7 nam giới. Khi Bà trẫm mình ở khúc sông Tuần Vường, cách mộ hiện nay khoảng 7km, nhưng lạ kỳ, xác bà lại trôi ngược vè khu vực mộ hiện nay. Khi vua Lý cho người đi tìm, không có xác, vì bị mối đùn, chỉ để lòi ra một dải yếm. 10 người hầu của Bà được vua Lý cho lên bờ trông coi ngôi mộ bà Mỵ Ê. Họ lập làng ở đây, đầu tiên lấy tên là làng Chục Mãn, lấy chung một họ là họ Đỗ, với nghĩa là đỗ lại / dừng chân lại đây. Rồi 3 người phụ nữ Chăm đi lấy chồng đâu, không rõ. Còn 7 người đàn ông người Chăm còn lại lập làng Chục Mãn. Nhưng rồi, chỉ có 4 người ở lại làng Chục Mãn, còn 3 người dần dần bỏ làng đi lập nghiệp nơi khác. Một người đi vào lập làng mới là làng Trung Gia, nay là đất thôn Tân Hưng, xã Nhân Mỹ. Làng này toàn người họ Đỗ. Một ông thì đi sang bên kia sông, làng Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập làng Tự Tân, và trong làng cũng toàn người họ Đỗ. Một ông xuống Đại An, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, lấy vợ, lập làng Đại Ạn, cũng toàn người họ Đỗ.

Khi vua về thấy dải yếm, cầm giữ làm kỷ niệm. . Mỗi khi cầm dải yếm, nhà vua lại nhớ về chuyện cũ, lại cho làng Chục Mãn một đám đất để làm đất tắm gội. Dấu ấn của sự việc trên là tên gọi Cao Đà có Phúc Mãn trên, Phúc Mãn dưới. Khu Chuông ở Hà Đông, bãi Phúc Xasd (Hà Nội) cũng là đất nhà vua cho dân làng Phúc Mãn gọi là đất tắm gội.

Hiện ở cửa ngôi đền dựng trên khu đất tương truyền là mộ Bà Mỵ Ê, có đôi câu đối:

Phách tại Châu Giang hoài Phật Thệ
Hồn lưu Phúc Mãn vọng Chiêm bang.

Trên đất Lý Nhân còn có một địa danh nữa là “Thôn Chàm”, nay là 2 xóm  Lam Cầu 1 và Lam Cầu 2, thuộc xã Nhân Thịnh. Theo tôi, tên Thôn Chàm, là cách gọi kiểu duy danh quen thuộc của người Việt, nghĩa là thôn toàn người Chàm / Chăm sinh sống. Dân thôn này thờ Mỵ Ê. Ngài được 37 sắc phong của nhiều triều đại, sắc phong sớm nhất là của vua Lý Thái Tông năm thứ 3 (1044) phong là “Hựu thiện hiệp chính phu nhân Thượng đẳng tối linh thần, trùng với thời điểm bà Mỵ Ê tuẫn tiết. Theo đó, tôi cho rằng, khởi thủy, bà Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu được thờ chính tại Thôn Chàm này, do chính những người Chăm / Chàm – mà dân địa phương gọi là “người Man” sinh sống ở đây thờ phụng vị Hoàng hậu và vua của mình.

Một lý do nữa để khẳng định việc thờ Bà Mỵ Ê ở Hà Nam do chính người Chàm – những tù binh của Đại Việt bắt về, thờ phụng, đó là các tục hèm, kiêng cữ trong thờ Mỵ Ê và Vua Chiêm Thành Sạ Đẩu. Ví như, ở thôn Lê, xã Liêm Sơn, dân thôn thờ Minh Châu Oánh Ngọc Đại vương hiển ứng chi thần (húy là Sạ Đẩu), Hiệp chính hựu thiện phu nhân (húy là Mỵ Ê), dân thôn khi đọc và nói phải kiêng chữ “Đẩu” và chữ “Ê”. Ai vi phạm lệ thôn qui định phải sửa trầu, rượu tạ thần. (Thần tích, thần sắc Hà Nam - Nxb KHXH, H. 2004, tr 886 - 888). Những kiêng cữ này nói lên một điều là chỉ có thể là những người Chàm mới tôn kính hai vị thần của mình như vậy. Và, luật lệ này do chính họ đề ra trong những đồng bào của họ cùng sinh sống trong ngôi làng trên đất Bắc. Với tâm lý của những kẻ chiến thắng, người Việt không phải kiêng dè, kính nể tên của vị thần bại trận kia đến như vậy.

Do quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa làng người Chăm Pa và làng người Việt bản địa ở Lý Nhân, dần dà, người Việt đã tôn phong và thờ phụng bà Mỵ Ê tại làng mình, hoặc kế thừa và tiếp tục thờ phụng Bà tại chính những nơi mà người Chăm đã lập nên trên đất Hà Nam. Đây chính là người Việt đã tiếp thu cái hay, cái giá trị trong việc thờ phụng Bà Mỵ Ê của người Chăm, mà không coi là hành động thờ “vợ giặc”. Xuất phát của việc làm này chính là bắt nguồn từ sự đồng điệu trong việc đề cao, quý trọng những người phụ nữ trinh tiết của người Việt và người Chăm Pa. Từ bao đời nay, người Hà Nam vẫn đinh ninh dòng sông Châu Giang trong xanh kia là dòng sông đầy nước mắt. Nước mắt của nàng Mỵ Ê trước đêm tuẫn tiết đã chảy thành dòng, rồi nước mắt của dân chúng bao đời thương khóc cho số phận nàng, ngày càng nhiều, ngày càng đầy lên:

“Sông Châu uốn khúc mơ màng
Đầy vơi nước mắt của nàng Mỵ Ê” (thơ Bắc Môn).

Trinh tiết là thứ quí ngàn vàng mà phụ nữ dân tộc nào, Việt cũng như Chăm Pa cũng đề cao, bảo vệ. Sự tôn trọng ấy không chỉ trong lớp bình dân lao động đầy lòng nhân ái, mà cả ở trong các đấng quân vương. Bà Mỵ Ê là vị nữ thần được các triều đại phong kiến Việt Nam ban tặng nhiều sắc phong nhất (37 đạo), trong đó có rất nhiều mỹ từ đẹp. Bà Mỵ Ê là một người phụ nữ dân tộc Chăm Pa thuộc vương quốc Chiêm Thành, ngoại bang của Đại Việt gần một nghìn năm trước, được kẻ thù của dân tộc mình ngợi ca, thờ phụng. Bà là một tù binh bị chính vị vua vừa hủy diệt đất nước mình, giết hại chồng mình đã khiến cho kẻ chiến thắng trên chiến trường lại bị thất bại trong việc chiếm đoạt trinh tiết của Bà, phải tôn vinh Bà vào hạng tối linh Thượng đẳng thần.
 
III. Lời tạm đóng
 
1. Chiến tranh là nguồn gốc của mọi nỗi đau, song cũng là nguyên nhân của giao lưu văn hóa cưỡng bức. Bất kỳ một cuộc chiến tranh nào cũng không chỉ gây nên chết chóc, mà còn gây nên các cuộc ly tán, làm héo hon, làm tàn lụi không biết bao nhiêu cuộc đời, để lại bao vết thương nhức nhối cho từng con người, cho bao gia đình và cho cả xã hội. Song, một cách ngoài ý muốn, chiến tranh cũng mang một bộ mặt khác, đưa đến những cuộc tiếp xúc và giao lưu văn hóa cưỡng bức. Chiến tranh đẻ ra những Anh hùng, đồng thời cũng xây nên bao tượng đài Trinh liệt. Tượng đài Trinh tiết cũng phải xây nên bằng máu và nước mắt của những người phụ nữ yếu đuối. Chính chiến tranh là nguyên nhân cái chết của nàng Mỵ Ê.

Giao lưu là một thuộc tính của văn hóa. Giao lưu văn hóa là sự vận động thường xuyên của văn hóa. Nó không chỉ là động lực phát triển của văn hóa mà còn là động lực của sự tiến hóa của xã hội. Nhưng hãy để văn hóa tiếp xúc và giao lưu tự nguyện mà không cần đến chiến tranh.

2. Vì nhiều lý do, tham luận này chỉ là những nghiên cứu bước đầu về “Mảng mầu văn hóa Chăm Pa trong văn hóa Hà Nam”. Dấu ấn văn hóa Chăm, nhất là tín ngưỡng thờ Bà Mỵ Ê và chồng là Sạ Đẩu ở miền Bắc, đặc biệt là ở Hà Nam, rất cần được quan tâm, nghiên cứu sâu. Chuyện ngôi mộ Bà Mỵ Ê ở Lý Nhân thế nào? Vấn đề trùng tu, tôn tạo những ngôi đền thờ Bà Mỵ Ê đã bị hủy hoại ở Lý Nhân ra sao? Trên miền Bắc, còn những nơi nào thờ Mỵ Ê và Sạ Đẩu? là những câu hỏi rất cần được giải đáp.

3. Xung quanh vấn đề có một bộ phận người Chăm Pa là những tù binh trong các cuộc chiến tranh cách đây cả nghìn năm, được các triều đại phong kiến thời đó bố trí sinh sống trên vùng đất thuộc huyện Lý Nhân ngày nay như chúng tôi đề cập ở trên, rất cần được nghiên cứu sâu thêm. Thực hư chuyện mấy ngôi làng mang toàn họ Đỗ - người Chàm mang họ Việt thế nào? Hậu duệ của những người Chàm trông coi mộ phần, lập làng, gây dựng cuộc sống lâu dài sau đó hòa vào cộng đồng Việt ở Lý Nhân như thế nào? Đám người Chàm này có liên quan gì đến Hành cung Lý Nhân của nhà Lý? … cần được nghiên cứu trên các bình diện: lịch sử, văn hóa học, dân tộc học, nông nghiệp,…

4. Trên đất Lý Nhân, cách nơi thờ bà Mỵ Ê không xa, chừng 6-7km, cũng  phía ngoài con đê sông Hồng, ở Vũ Điện là ngôi Miếu Vợ Chàng Trương, thờ Bà Vũ Thị Thiết. Ngẫu nhiên chăng, hay có một lý do nào đó lại lắng đọng 2 câu chuyện về 2 người phụ nữ, một bản địa, một ngoại quốc cùng lấy cái chết để giữ trọn Trinh tiết, đều được ca ngợi là những Tiết phụ, được phong là Thượng đẳng phúc thần.

Sinh thời, GS Sử học – Văn hóa học tài danh Trần Quốc Vượng, một người con của Đọi Sơn, đã viết: “ Nếu có ai hỏi tôi về một nét bản sắc khác của tiểu vùng văn hóa Hà Nam là gì, chắc chắn tôi sẽ dẫn ra đền nàng Mỵ Ê ở Lý Nhân; cái nhân cách của người cung phi xứ Chăm Pa đó đã được nâng lên thành nhân cách cao cả trong sạch của phụ nữ nói chung và được “thiêng hóa” khi dân gian Hà Nam lập đền thờ và cho đến nay vẫn phụng thờ. Nhân cách phụ nữ lại một lần được bi kịch hóa một lần nữa trong câu chuyện Vợ chàng Trương hàm ẩn một triết lý dân gian tuyệt vời “Là bóng hay là hình” – người đàn bà Việt đã tự phân đôi mình thành cặp vợ chồng quấn quýt nhau như hình với bóng, trong khi đó ở tầng dưới câu chuyện là cái dại khờ ghen tuông vớ vẩn gây chết người của người đàn ông Việt Nam…..Mà đó rốt cùng là văn hóa dân gian vô thể , được hữu thể hóa bằng ngôi miếu Vợ chàng Trương hiện vẫn còn được giữ gìn và tôn tạo bên bờ sông Hồng ở huyện Lý Nhân – không xa đền Mỵ Ê.  Hai ngôi đền này xuất lộ bản sắc, tâm thức Sơn Nam – Hà Nam tôn vinh người phụ nữ - nguồn nữ tính vô hạn. Đấy cũng là nét phản ánh nguyên lý nữ - nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam”.

Xin quí vị cùng đi tìm lời giải cho vấn đề này.

Xin cảm ơn!
                                                             
Lý Nhân -  Hà Nội

Tháng 5 / 2015
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}