Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Về Đồng Lẫm xem kiệu quay

TRẦN ĐỨC HIỂN | Thứ Hai, 30/09/2013 02:51 GMT +7
(Văn Hiến) - Lễ hội Đồng Lẫm thể hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng, thể hiện một khía cạnh trong bản sắc văn hóa dân tộc: uống nước nhớ nguồn.

 

Những thánh nhân công lao hiển hách

Về thôn Đồng Lẫm - La Sơn - Bình Lục - Hà Nam dịp hội làng vào ngày 11, 12/02 âm lịch, chúng ta sẽ được xem rước sắc Đức Hưng Đạo Đại Vương, Thành Hoàng làng Đông Hải Đại Vương và Đức mẫu Quế Anh. Cứ hai năm một lần vào những năm chẵn, dân hai xóm Lẫm Hạ và Lẫm Thượng (gọi chung là Đồng Lẫm) lại thay phiên tổ chức chính lễ rước sắc phong rất chu đáo. Lễ hội truyền thống này thể hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng, thể hiện một khía cạnh trong bản sắc văn hóa dân tộc: uống nước nhớ nguồn.

JPEG - 30.2 kb

Theo sử tích thì Thành Hoàng làng là Nguyễn Phục, quê xã Đoàn Tùng (sau đổi là Đoàn Lâm) huyện Trường Tân (nay là Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) đậu Tiến sĩ khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hoà 11 (1453) đời vua Lê Nhân Tông, làm quan đến chức Hàn lâm, kiêm vương phó (thầy dạy học cho vương tử). Ông là người văn võ song toàn lại có tài ăn nói nên đã nhiều lần được cử đi sứ ở Trung Quốc Năm 1470, vua Lê Thánh Tông đưa đại quân đi đánh Chiêm Thành, giao cho ông giữ chức Đốc lương lo việc vận chuyển lương thực. Không may trên đường đi bị bão, thuyền lương đến chậm, ông bị xử trảm theo quân luật. Sau vua biết ông bị oan nên đã phong cho ông làm phúc thần, ban tước hiệu là Đông Hải đại vương. Ở các vùng Thanh Hoá, Hà Nam, Hải Dương … nhân dân tỏ lòng biết ơn đã lập đền thờ và ông được nhận nhiều sắc phong Thành Hoàng làng ở nhiều nơi. Các đời vua Nguyễn: Tự Đức, Thánh Thái, Minh Mạng đã phong 11 đạo sắc với tước hiệu: Đông Hải Đại Vương Thượng Đẳng Thần.

Cùng với đó là dịp để tưởng nhớ công ơn của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người có công bình giặc Nguyên, phò bốn đời vua: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, được phong đến Thái sư thượng phụ thượng quốc công. Công lao và đức độ của Ngài đã được nhân dân suy tôn là bậc thánh hiền. Cũng theo truyền thuyết nơi đây thì Đức Mẫu Quế Anh phu nhân là công chúa tiên nữ hiển ứng ở phố Cát, chợt gặp Đức Mẫu Liễu Hạnh đi qua, bà theo hầu, chơi xem thắng cảnh, phúc kẻ thiện, họa kẻ gian. Thời vua Lê niên hiệu Cảnh trị đã sai lập miếu thờ ở phố Cát, sau nhiều nơi cũng lập đền thờ, cầu xin gì đều có linh ứng.

JPEG - 34.7 kb
Lễ rước sắc Đức Hưng Đạo Đại Vương, Thành Hoàng làng Đông Hải Đại Vương và Đức mẫu Quế Anh

Lễ rước kiệu uy nghiêm lạ mắt

Ngày rước kiệu, dân làng tổ chức nhiều chương trình văn nghệ của từ các em nhỏ đến các cụ già diễn ra tại sân đình thể hiện tình đoàn kết và tôn kính chung đối với lễ hội của làng. Ba kiệu chính gồm kiệu của Đức Thánh Trần, kiệu Thành Hoàng làng (mỗi kiệu 8 thanh niên) và kiệu Mẫu (năm thiếu nữ) được đặt trước sân đình. Những người tham gia rước phải là nam thanh nữ tú, sống ngoan ngoãn nề nếp, những người hộ giá cũng phải là người đứng đắn, có uy tín trong làng. Trong mấy ngày chuẩn bị cho rước kiệu, mọi người đều phải kiêng khem, không được uống rượu, ăn thịt chó... hay làm điều gì sai trái để tránh ô uế cửa Thánh. Nếu không, năm đó rước kiệu sẽ khó khăn. Khi nghi lễ cúng xin các vị thánh hoàn thành, chủ tế lần lượt chỉ đạo việc rước kiệu của Hưng Đạo Vương trước rồi đến Thành hoàng làng và kiệu Mẫu. Kiệu được rước từ Lẫm Hạ lên Lẫm Thượng để đưa sắc phong về đình làng, đến hôm sau lại rước trả.

Một điều đặc sắc là khi các kiệu được nhấc lên vai của những người khiêng thì dường như sự di chuyển của kiệu là không thể kiểm soát, hết chạy lại gần bát hương ở cửa đình, khi quỳ xuống, khi vểnh lên, rồi lại chạy hoặc quay khắp sân đình, xuống phủ Mẫu, có khi chạy ra mãi ngoài đường đến cả vài trăm mét rồi lại thấy quay lại đình, mỗi kiệu một người cầm lọng chạy theo và bốn năm người nữa phải tìm cách giữ hoặc đẩy để kiệu không bị vướng đập vào đâu. Đây là phần có rất đông người xem nên nếu không chạy kịp là có thể bị ngã hoặc văng xuống ruộng. Theo dân làng thì đó là do các “Thánh về ra uy”. Thánh càng ra uy bao nhiêu thì kiệu càng quay bấy nhiêu. Chả thế mà mỗi khi kiệu quay nhiều và mạnh quá, mọi người lại chắp tay cầu khấn "Ngài" linh thiêng đừng ra uy nhiều quá để con cháu đỡ khổ. "Chỉ khi nào Thánh chứng đủ lễ thì mới đi đàng hoàng được."

Không biết đúng hay sai nhưng cứ nhìn cách mọi người dân cung kính, vái lạy mỗi khi kiệu "tung hoành" cũng đủ thấy một nét đẹp tâm linh tưởng nhớ những người đã có công của người dân nơi đây. Điều đó đã trở thành truyền thống giúp cho nhân dân sống đoàn kết và tốt đẹp hơn.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}