Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

Hóa giải cô độc- từ đọc chậm đến sống chậm

Gia Nghị | Thứ Hai, 06/03/2017 10:50 GMT +7

Giới thiệu với bạn đọc bài viết dưới đây của tác giả Gia Nghi mới đăng trên trang Văn học quê nhà của báo điện tử Tổ quốc sau khi đọc 5 tập thơ của Nguyễn Việt Chiến (Mưa lúc không giờ-1992;Ngọn sóng thời gian-1998; Cỏ trên đất-2000; Những con ngựa đêm-2003;Trăng và thơ đọc chậm-2012). 

Cô đơn là bản mệnh của thi sĩ. Chỉ trong trạng thái ấy, cái tôi mới thấm thía hết mọi khía cạnh của hiện hữu (một bản thể). Không gian, thời gian, những chiều kích tâm linh, siêu hình, những giới hạn nằm ngoài dự tưởng… chỉ trở về khi thi sĩ đối diện với cô đơn. Những sáng tạo thi ca chỉ có thể lóe lên trong thăm thẳm của sự cô đơn, trong mênh mông vô hạn bao bọc cá thể, trong những trải nghiệm máu thịt của cá nhân… làm nên đặc trưng của loại hình ngôn từ nghệ thuật này. Đọc thơ Nguyễn Việt Chiến, là gặp một “khách trọ”[1] lưu đầy trong nỗi cô độc, ý thức rất rõ phận mình nhưng đường về đã mịt mờ cát trắng!

Tước bỏ đi những lớp tiền niệm giăng lên bởi ngôn từ, những ảnh tượng thi ca được tu sức bằng trí tưởng, còn lại trong thế giới của Nguyễn Việt Chiến một cá thể cô độc, đang cố gắng để huyễn mị chính mình, nhưng càng cố gắng càng cô độc. Cái tôi mang nghĩa đại diện đã không dấu được bản mệnh của mình là một kiếp lưu đầy, một linh hồn lưu lạc khởi sự từ đêm không giờ (Mưa lúc không giờ - 1992). Qua những Ngọn sóng thời gian (1998), cái tôi ấy càng nhận ra thân phận Cỏ trên đất (2000), muốn làm Những con ngựa đêm (2003) để trở về, chầm chậm sống lại vùng trăng nguyên sơ đã vỡ (Trăng và thơ đọc chậm - 2012). Nhưng, trong những khát vọng tìm về, những huyễn tưởng tự ru vỗ ấy, Nguyễn Việt Chiến vẫn bị nhắc nhói bởi bản chất không thể nào thoát ra được. Từ cái đêm ra đi trên vùng trăng vỡ thuở xưa (Tiếng trăng), cho đến khi “Ngủ nơi chớp bể mưa nguồn đêm đêm” (Ngọn sóng thời gian), “Giữa vòng tay thành phố”, kẻ mang giọng LÀNG ấy nhận ra “Ta là kẻ lưu đầy trong nhẫn nhục” (Khúc hát). Thơ của Nguyễn Việt Chiến là cấu trúc của những ám ảnh, những dằn vặt về nỗi cô đơn, về thân phận lưu lạc, về nỗi bất lực trên con đường trở về. Đọc thơ anh, trong thế giới được hình dung ấy, có thể thấy trội lên những vùng mỹ cảm về thơ ấu, về phố, con người, chiến trận, những đứa trẻ trên mặt đất… Đó là những ám dụ về thế giới, những không gian, những chủ thể của lịch sử. Dù ở chặng nào, cái tôi của Nguyễn Việt Chiến vẫn thấy cô độc, vẫn bị ám ảnh, bị đe dọa:

Anh tới ngồi bên những vì sao xa vắng
Khẽ hát bài ca cô đơn của những người luôn thất bại

(Khúc hát)

Chỉ còn nỗi cô đơn và thơ sinh ra từ đấy. Nỗi cô đơn trở thành tâm thức trữ tình của thi sĩ bởi chính trong cô đơn, cái tôi bản thể hiện hữu đầy đủ nhất. Phổ niệm ấy bao trùm lên đời sống tinh thần của con người cá nhân, nhất là trong bối cảnh hiện đại, công nghiệp và hậu công nghiệp. Từ nỗi cô đơn, Lê Đạt đuổi theo bóng mình, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng lặn sâu vào chữ, Nguyễn Duy làm một “thảo dân” mơ giấc mơ quê nhà bên lề đời bụi bặm, Mai Văn Phấn tìm về Cửa Mẫu để tái sinh, Trương Đăng Dung cô đơn trầm tư về hiện hữu, Nguyễn Bình Phương viết vào đời câu cách ngôn bí ẩn, Vi Thùy Linh cô đơn khát, Miên Di lặng lẽ mang về nơi đang đến những gì để lại lúc đi qua… Còn Nguyễn Việt Chiến, trong cô độc anh mơ những vùng trăng tan vỡ, nằm dưới sao trời lắng nghe nghịch lý của phố phường. Đó là chủ âm, trạng thái mỹ cảm thường trực, là tư thế trữ tình của một hình nhân lưu đầy.

Cảm thức chủ đạo trong thơ Nguyễn Việt Chiến như đã nói là những mộng mơ giữa lưu đầy của một cá nhân cô độc. Bên cạnh chủ lưu này, còn có những dòng mỹ cảm khác gắn với trách nhiệm công dân, con người chính trị xã hội… Đó là câu chuyện của một lần khác khi trở lại cùng Nguyễn Việt Chiến. Vấn đề quan trọng hơn là trong nỗi cô độc của mình, Nguyễn Việt Chiến luôn có ý thức cách tân chữ nghĩa để làm mới, để kiếm tìm ý nghĩa của hiện hữu, kháng cự lại tình thế lưu đầy. Dõi theo những sáng tác của anh từ tập thơ đầu (Mưa lúc không giờ - 1992) đến tập thơ gần đây (Trăng và thơ đọc chậm - 2012), điều không thể không nhận ra là Nguyễn Việt Chiến đã có nhiều dụng công về hình thức nghệ thuật. Trong những bàn luận ngắn này chúng tôi muốn nói đến tư duy kiến tạo nhịp điệu lục bát như là một khía cạnh rõ nhất trong cách tân hình thức thể loại của Nguyễn Việt Chiến.

Thể thơ lục bát vốn không xa lạ trong mỹ cảm cộng đồng Việt. Những thành tựu của thể thơ này gắn với những “thái sơn bắc đẩu” như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, dịch giả Chinh phụ ngâm… Trong bối cảnh đương đại, lục bát cũng gắn với Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Văn Thùy, Đỗ Trọng Khơi, gần đây là Mật thư của Nguyễn Thế Hoàng Linh và tập thơ của Miên Di… Nguyễn Việt Chiến không phải là một cây lục bát, cũng không “ký cược” thi nghiệp của mình vào lục bát, nhưng anh có những bài lục bát để đời: Tiếng trăng, Cát đợi. Cùng với lục bát, người ta còn thấy Nguyễn Việt Chiến miên man, dịu dàng với thể thơ 4, 5 chữ, trầm tư không dứt với thể tự do… Với riêng thể lục bát, cách tạo nhịp bằng dấu chấm thực sự đã có hiệu quả trong việc điều tiết hơi thở, đặt người đọc vào tình thế phải “đọc chậm”. Sẽ không khó để nhận ra, đọc chậm là một đòi hỏi có tính tiên nghiệm của chủ thể sáng tạo đặt lên chủ thể tiếp nhận. Đọc chậm là cách để người ta sống trong không gian thơ, trải nghiệm một cách sâu sắc hơn những ấn tượng thi ca:

Tiếng ngàn xưa. Đã lặng im
Nhịp chày Yên Thái. Ngủ quên. Tháng ngày
May. Còn Trấn Quốc. Chùa đây
Tiếng chuông. Trên sóng. Vọng đầy khói sương

(Thương nhớ sâm cầm)

Đổi nhịp lục bát truyền thống (nhịp chẵn), gieo dấu chấm vào giữa dòng thơ, ấn định nhịp là cách mà Nguyễn Việt Chiến buộc người đọc phải tuân thủ ý niệm sáng tạo của anh. Tuy nhiên, vấn đề không dừng lại ở đấy, cũng không đơn giản như vậy. Tư tưởng của Nguyễn Việt Chiến gợi lên từ những dụng công ấy là một thông điệp văn hóa. Trong bối cảnh sống của con người đương đại, khi tốc độ trở thành một biểu hiện của sinh quyển hiện đại, nhiều giá trị đã bị lướt qua, bị bỏ rơi hay không có cơ hội được chiêm ngẫm một cách thấu đáo. Từ đọc chậm đến sống chậm là cách để con người cảm nhận được sự sống. Hóa ra, tốc độ, sự kết nối đa phương tiện lại chưa hẳn là cách thức để con người sống được nhiều hơn (chưa nói đến sống ý nghĩa hơn). Sống chậm mới là sống sâu sắc từng giây phút của hiện hữu. Cái dấu chấm giữa chuỗi lời kia khiến cho mọi thứ không trôi tuột đi, như là tiếng chuông còn ngân rung trên mặt sóng lãng đãng khói sương. Một cái tôi cô độc sống giữa muôn vàn cá thể cô độc khác, vậy nên Nguyễn Việt Chiến tha thiết níu giữ những nhân hình đang vội vã lướt qua cuộc đời. Tâm thế ấy anh dồn vào hình thức lục bát như là một sứ điệp gần gũi nhất của hồn dân tộc:

Hẹn em. Ở. Hội Chùa Thầy
Tháng Giêng. Lại gặp đò đầy. Chùa Hương
Trái mơ tơ tưởng. Còn vương
Thẹn thò. Ngực áo đẫm sương. Tơ tằm
Nón Chuông. Buông. Mắt lá dăm
Em. Xuôi đò dọc. Anh. Lầm đò ngang

(Mây tơ tằm)

Đọc thơ Nguyễn Việt Chiến thấy được những hiền lành tha thiết, những đăm đắm suy tư và mộng tưởng về cuộc đời, con người và các giá trị cốt thiết làm nên sự sống. Lưu đầy trong nỗi cô đơn, trong hoàn cảnh sống tha hóa, đánh mất những vùng trời bình yên thuở nguyên sơ, cố níu giữ tâm hồn con người... thơ Nguyễn Việt Chiến đã vận hành từ mỹ cảm cá nhân đến vấn đề có tính phổ quát của xã hội, cộng đồng, từ trường thẩm mỹ thơ ca đến trường văn hóa của thời đại. Trong ý niệm ấy, nỗi cô độc được hóa giải!

Gia Nghi (Trang Văn học Quê nhà- Báo điện tử Tổ quốc)

Dưới đây là nguyên bản 2 bài thơ in trong tập thơ Ngọn sóng thời gian-1998 của tôi mà Gia Nghi đã trích dẫn.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN - KHÚC HÁT - RỒI BÓNG ĐÊM NUỐT HẾT

Buổi chiều vừa bị người say đập vỡ ngoài kia
Những mảnh cốc trong veo đáy trời
Rồi bóng đêm nuốt hết

Bên máy nước mùa thu
Hai người đàn bà cãi nhau
Những con chim bồ câu lặng lẽ chợt bay lên
Như cảm thông với nỗi khó nhọc của con người

Cái đám đông tụ tập trên đường
Xung quanh ông thầy bói mù huyên náo 
Phán những điều mất còn của hạnh phúc rủi ro
Rót vào lỗ tai sự tiên tri sấp ngửa của hai đồng tiền cổ

Trong thành phố
Thay dần cho tiếng gà sớm bình yên
Là tiếng tru lên đục ngầu của bầy chó dữ
Biến ban mai thành chiếc giẻ lau nhầu nát
Trên cái mặt bàn ướt đẫm mồ hôi của những mưu toan

Những trâu bò sống trong rơm cỏ đã nghìn năm
Những giấc mơ bùn đất ngủ im giữa cuốc cày
Ta là kẻ lưu đày trong nhẫn nhục

Chiếc váy của em khe khẽ hát bài ca thân thể
Sự chuyển động mơ màng từ ngực đến chân
Tiếng thở dài khỏa thân trong giấc ngủ
Ngọn lửa thân hình em cháy siết dưới ngực mình
Rồi bóng đêm nuốt hết

Nhưng nếu mọi thứ trên đời
Bóng đêm đều nuốt hết
Chúng mình còn gì để yêu nhau

Vượt qua bóng đêm
Anh tới ngồi bên những vì sao xa vắng
Khẽ hát bài ca cô đơn của những người luôn thất bại
Dẫu suốt đời không hiểu vì sao
Rồi bóng đêm nuốt hết
(Thơ trong tập Ngọn sóng thời gian-NXB Thanh Niên 1998)

NGUYỄN VIỆT CHIẾN - NGỌN SÓNG THỜI GIAN

Chiều. Bên cửa sổ. Ta ngồi
Bóng chim ký ức. Tuyệt vời đã xa

Vết thương tận đáy. Hồn ta
Ngủ trong những lá. Sen già suy tư

Mở chiều ra. Phía mùa thu
Mơ. Thấy bóng mẹ. Ngồi ru sen buồn

Thương đứa con. Búp sen non
Ngủ nơi chớp bể mưa nguồn. Đêm đêm

Mẹ. Như hơi thở. Ngọn đèn
Cháy mòn mỏi thức. Giữa miền nhớ mong

Chiều chiều. Mở nước ra. Trông
Bóng Trương Chi. Tận đáy sông Nguyệt Cầm

Đi tìm. Một khúc tri âm
Mở đàn ra. Gặp trầm luân kiếp người

Bến sông. Xưa cát lấp bồi
Trương Chi ngày ấy. Vẫn. Ngồi đốt than

Đời người. Ký ức. Thời gian
Sóng hư vô. Mãi tuần hoàn. Hư không

1996 - (Thơ trong tập Ngọn sóng thời gian-NXB Thanh Niên 1998)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}