Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước (Kỳ 8)

TS Cao Văn Liên | Chủ Nhật, 11/04/2021 08:34 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp sách “Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước” của TS Sử học Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Thanh niên - HN - 2004 ấn hành.

KỲ 8

Sự phân biệt đẳng cấp còn được thể hiện rõ ở pháp luật. Bộ luật lớn nhất của Ấn Độ thời kỳ này là bộ luật Ma-nu quy định, nếu giết một người Bà La Môn thì bị trừng phạt rất nặng, ngược lại giết một người thuộc đẳng cấp dưới tội được giảm nhẹ dần, tuỳ nạn nhân là người đẳng cấp cao hay thấp. Đẳng cấp Bà la môn được pháp luật khẳng định là đẳng cấp cao quý, và thân thể của họ là không thể xâm phạm. Chỉ cần đe doạ giết người Bà La Môn là linh hồn kẻ đe doạ bị đày xuống địa ngục 100 năm.

Chế độ đẳng cấp bắt nguồn từ xã hội phân chia thành các giai cấp, nhưng với các giai cấp trong xã hội, người của giai cấp này có thể chuyển hoá thành giai cấp khác, như nô lệ có thể được giải phóng thành người tự do và ngược lại, người tự do có thể trở thành nô lệ. Còn chế độ đẳng cấp là thân phận vĩnh viễn không thể biến đổi, từ đời này qua đời khác. Người của đẳng cấp dưới có ý đồ ngoi lên địa vị của đẳng cấp trên bị trừng phạt.

Nhưng bản thân đẳng cấp Thủ Đà Là dù thấp hèn nhất cũng không phải là nô lệ. Người Thủ Đà Là có thể làm nghề thủ công, được vay nợ lãi. Họ là một kiểu nô lệ suốt đời và muôn thế hệ.

Chế độ đẳng cấp Vác na sinh ra trong quá trình tan rã của công xã nguyên thuỷ. Nguyên nhân sinh ra chế độ này là do xã hội phân hoá thành chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự xuất hiện các giai cấp trong xã hội. Ngoài ra, chế độ này được kiến lập còn do sự phân công nghề nghiệp, sự khác nhau về địa vị xã hội và chủng tộc.

Chế độ đẳng cấp chỉ là công cụ bảo vệ cho chế độ xã hội có giai cấp, củng cố địa vị của các giai cấp thống trị bóc lột mà cụ thể là quý tộc chủ nô Ấn Độ.

Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp và quyền sở hữu tối cao ruộng đất thuộc về nhà vua, nhà nước chiếm hữu nô lệ Ấn Độ cũng là nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền.

Vua là người đứng đầu nhà nước có uy quyền lớn. Cũng như vua của các nước phương Đông khác, vua Ấn Độ được thần thánh hoá. Vua là do trời sáng tạo ra, là một bộ phận của cơ thể thần thánh nên rất thiêng liêng. Bộ luật Manu viết: “Khi chưa có vua, nhân dân sợ hãi nên tản mát bốn phương, vì vậy trời đã sáng tạo ra vua để che chở cho cả thế giới. Vua là một bộ phận cơ thể các thần tạo nên, do đó vua huy hoàng, xán lạn hơn tất cả mọi sinh vật. Ngài như mặt trời. Mỗi khi đôi mắt và tấm lòng của ngài rực cháy thì bất cứ người nào trên trái đất đều không thể như ngài. Nói về uy quyền ngài giống như thần, bởi vậy giả sử như ngài còn là đứa trẻ thì đó là chỉ là hình thức bên ngoài, chứ thực ra ngài là thần thánh”.

Giúp việc cho vua gồm có các đại thần cao cấp ở triều đình. Quan cao cấp nhất là đại tư tế có vai trò như tể tướng, bên cạnh còn có các quan phụ trách thu thuế, tài chính, lễ nghi, tư pháp, quân sự.

Bên cạnh các đại thần có Hội đồng ngự tiền bao gồm những quý tộc có thế lực. Hội đồng này chỉ có nhiệm vụ kiến nghị công việc với nhà vua mà không có quyền quyết định.

Nhà nước đã lập cơ quan mật thám do vua trực tiếp lãnh đạo, có nhiệm vụ theo dõi, giám sát các hành động của các quan lại, thần dân để báo cáo cho vua biết.

Toàn quốc gia được chia thành các đơn vị hành chính các cấp. Đơn vị cơ sở thấp nhất là làng, cấp trên làng là 10 làng, cấp trên của 10 làng là 20 làng, cấp trên 20 làng là 100 làng và cấp hành chính lớn nhất là 1.000 làng. Nhà vua trực tiếp bổ nhiệm quan lại cai quản từ 10 làng trở lên. Quan lại trông coi 1.000 làng là quan lớn trực thuộc nhà vua.

Nhà nước còn lập ra cơ quan quản lý công trình thuỷ lợi, trông coi việc tưới tiêu để đảm bảo cho nông nghiệp, mùa màng.

Nhà nước đã đặt ra các phẩm trật quan tước, quy định chức năng, nhiệm vụ cho từng chức quan. Quan lại từ trung ương đến địa phương được nhà nước cấp lương bổng bằng tiền:

- Quan cao cấp lương gấp 6 lần quan trung cấp.

- Quan trung cấp lương gấp 3 lần quan sơ cấp.

Ngoài lương, quan lại hàng năm được cấp hai lần quần áo, mỗi tháng được cấp một bậc lương (khoảng 11 kg lương thực).

Để có lương bổng cấp cho bộ máy hành chính, nhà nước dựa vào nguồn thuế thu từ nông dân công xã, từ thủ công nghiệp và buôn bán. Về thuế má nặng nề, bộ luật Manu viết: “Như con đỉa, con ruồi trâu, con ong kiếm thức ăn cho mình, nhà vua cũng hết năm này sang năm khác thu các khoản thuế má một cách đúng mức trong đất nước của mình.

Dù lương bổng các quan không ít, nhưng các quan lại vẫn tìm cách đục khoét của nhân dân. Sách “Luận về chính trị” một tác phẩm chính luận nổi tiếng thời cổ đại đã khuyến cáo rằng: “Quan lại là những con mèo thèm sữa bò, khi chúng đã uống no nê rồi thì nên đẩy chúng ra để chúng không nuốt hết tất cả”. Một trong các công cụ quan trọng bậc nhất của nhà nước Ấn Độ là quân đội. Dưới vương triều Mô-ri-a, lực lượng vũ trang khá hùng mạnh bao gồm quân nhà vua, quân đội các nước chư hầu và lực lượng vũ trang của các bộ lạc phụ thuộc.

Quân đội Ấn Độ được biên chế thành các quân, binh chủng như bộ binh, kỵ binh, tượng binh và chiến xa (xe trận). Trong một cuộc chiến tranh dưới vương triều San-đơ-ra-gup-ta vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên đã huy động tới 60 vạn bộ binh, 3 vạn kỵ binh và 9 nghìn voi chiến.

II. Pháp luật

Bộ luật Ma-nu là bộ luật tương đối hoàn chỉnh của luật pháp cổ Ấn Độ. Theo truyền thuyết, bộ luật là một tác phẩm chép lại những lời răn dạy của thần Ma-nu (thủy tổ của loài người). Cuốn sách bao gồm những luật lệ, tập quán được các nhà thần học Bà La Môn tập hợp biên soạn lại theo quan điểm của giai cấp thống trị. Sách được biên soạn từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên đến thế kỷ 1 sau Công nguyên, dưới dạng thơ ca, gồm 2685 điều, chia thành 12 chương, nội dung đề cập đến những vấn đề đạo đức, chính trị, luật lệ, tôn giáo và cả quan niệm về thế giới vũ trụ. Về pháp luật bao gồm các nội dung:

1. Những chế định về tài sản

Những chế định về quyền sở hữu tài sản là công cụ để bảo vệ tài sản cho giai cấp giàu có. Trước hết, luật quy định về quyền sở hữu ruộng đất. Điều 246 ghi rõ: “Vườn, đất ao hồ của mỗi gia đình thành viên công xã nông thôn là không thể bị tước đoạt bằng vũ lực hay bị đe doạ bằng vũ lực. Luật nghiêm cấm việc tuỳ tiện thay đổi giới hạn, phân chia các mảnh đất. Chỉ có nhà vua là người sở hữu tối cao ruộng đất toàn quốc có quyền đó”.

Luật Manu thừa nhận việc mua bán ruộng đất nhưng việc đó phải đặt dưới sự giám sát của nhà nước. Điều 9 của luật ghi rõ: “Nếu người bán bất động sản nhận được số tiền nhiều hơn giá quy định của nhà nước sẽ bị thu hồi số dư đó”. Khi hai bên tranh chấp đất đai, nếu hai bên không đưa được chứng cớ đất đó thuộc quyền sở hữu của mình thì nhà nước sẽ thu hồi ruộng đất đó.

Như vậy, luật Manu thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất cổ đại Ấn Độ bao gồm 3 hình thức: quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà vua, quyền sở hữu thứ hai thuộc về công xã, thứ ba là quyền sở hữu cá nhân thuộc thành viên của công xã.

Đối với quyền sở hữu những tài sản khác chỉ được pháp luật thừa nhận khi có chứng cớ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của tài sản như là do mua bán, được thừa kế, được ban tặng...

Luật quy định nếu chủ sở hữu đồ vật cho kẻ khác sử dụng đồ vật đó trong 10 năm liền thì không có quyền đòi lại.

2. Chế định hợp đồng

Những quy định về thể lệ hợp đồng của luật Manu có nhiều điểm tiến bộ. Ví như luật quy định một hợp đồng không có hiệu lực khi hợp đồng ký với người điên, người già yếu, trí tuệ đã giảm sút, người say rượu, người chưa đến tuổi thành niên hay ký do bị áp lực, do bị lừa dối. Hợp đồng phải bảo đảm tính công khai. Tất cả các hợp đồng ký bí mật là hợp đồng không hợp pháp.

Trong quy định về vay mượn cầm cố, luật bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, cho đẳng cấp trên, giai cấp bị thống trị và đẳng cấp dưới bị thua thiệt. Ví dụ như luật quy định mức lãi suất tối đa đối với từng đẳng cấp là khác nhau dù cùng thời hạn vay và số tiền vay mượn bằng nhau:

- Người Bà La Môn mỗi tháng phải trả 2% lãi suất.

- Người Sát Đế Lợi mỗi tháng phải trả 3% lãi suất.

- Người Vệ Xá mỗi tháng phải trả 4% lãi suất.

- Người Thủ Đà La mỗi tháng phải trả 5% lãi suất.

Như vậy đẳng cấp càng thấp thì số lãi càng nhiều hơn.

Luật quy định nếu con nợ không trả được nợ thì phải bán mình làm nô lệ để trừ nợ. Nếu con nợ có khả năng trả nợ mà khất lần thì chủ nợ có quyền đánh đập hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ.

3. Chế định hôn nhân gia đình

Luật Manu thừa nhận hôn nhân mang tính chất mua bán. Người phụ nữ được người đàn ông mua về để làm vợ. Tất cả của hồi môn của vợ đều thuộc sở hữu của chồng. Luật Manu khẳng định người phụ nữ không bao giờ có đủ khả năng tự lập nên phải chịu sự bảo hộ của người chồng. Cũng giống như tư tưởng gia trưởng của Trung Quốc, luật pháp Ấn Độ cũng quy định người phụ nữ ở nhà phải phục tùng cha, đi lấy chồng phải phục tùng chồng, chồng chết phải phục tùng con trai. Luật cấm phụ nữ tuyệt đối không được ly hôn. Người vợ phải coi chồng như thần thánh dù người chồng đó có mất đạo đức, độc ác, tha hóa, trụy lạc v.v... Khi người vợ không đáp ứng được các nhu cầu của người chồng như sinh toàn con gái hoặc không có con thì người chồng có quyền bỏ vợ.

Về thừa kế tài sản, luật quy định các con đều có quyền thừa kế tài sản của người cha. Con gái cũng có quyền thừa kế, chủ yếu để làm của hồi môn. Nếu các em không muốn chia tài sản thì người anh có quyền quản lý.

4. Chế định hình sự

Các chế định hình sự của luật Manu mang đậm bản chất giai cấp và đẳng cấp, luật tuân theo nguyên tắc bảo vệ, khoan dung đối với đẳng cấp trên, trừng trị và chà đạp đối với đẳng cấp dưới. Luật trừng trị không thương tiếc đối với những người có hành vi xâm phạm tài sản, tính mạng, danh dự của đẳng cấp trên: cãi nhau với đẳng cấp trên sẽ bị cắt lưỡi hoặc đổ dầu sôi vào miệng, ngược lại nếu người Bà La Môn hoặc người Sát Đế Lợi vu cáo (xúc phạm danh dự) của đẳng cấp dưới thì chỉ bị phạt tiền. Phụ nữ đẳng cấp trên thông dâm với đàn ông đẳng cấp dưới thì người phụ nữ đó bị khắc dấu hình người cụt đầu vào mặt, bị giáng xuống tầng lớp thấp nhất của đẳng cấp Thủ Đà La là Paria (Pariah) và bị trục xuất khỏi nơi ở. Nam giới thuộc đẳng cấp Thủ Đà La, thuộc lớp Paria mà thông dâm với phụ nữ đẳng cấp cao quý Bà La Môn thì người đàn ông đó sẽ bị tử hình. Thậm chí chỉ cần giao thiệp với đẳng cấp Bà La Môn họ cũng bị trừng phạt nặng nề.

Để bảo vệ chế độ tư hữu và tài sản của giai cấp giàu có, luật cũng trừng trị nặng tội trộm cắp. Ban đêm khoét tường vào nhà ăn trộm, bị bắt sẽ bị chặt hai tay và đặt ngồi trên một chiếc cọc nhọn. Nếu người đó phạm tội này đến lần thứ 3 thì bị tử hình. Người sử dụng ngựa hoặc xe của người khác mà làm tàn phế ngựa, làm hỏng xe thì bị xử đâm. Can tội trộm cắp tài sản của nhà vua, hay của các đền chùa sẽ bị tử hình mà không cần xét xử.

Nhìn chung, chế tài trong các chế định hình sự luật Manu mang tính chất nặng nề, dã man. Đó là công cụ để duy trì sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp.

5. Chế định về tố tụng

Trong luật pháp, chế định về tố tụng là quy định cách thức, thủ tục điều tra xét xử. Luật tố tụng trong bộ luật Manu cũng mang tính chất giai cấp. Luật quy định để bảo đảm xét xử đúng sự thật của vụ án phải có bằng chứng cụ thể như người làm chứng và tang vật. Đây là điểm tiến bộ của luật tố tụng cổ đại Ấn Độ. Nhưng các chứng cớ của vụ án lại phụ thuộc vào đẳng cấp và giới tính. Luật quy định: kẻ phạm pháp thuộc đẳng cấp nào, giới tính nào thì người làm chứng cũng thuộc đẳng cấp và giới tính đó. Nếu lời khai của các nhân chứng mâu thuẫn nhau thì thẩm phán lựa chọn phiếu khai có nội dung tốt nhất.

Trong chế tài hình phạt cũng phân biệt đẳng cấp: Nếu giết một người Bà La Môn thì bị xử tội rất nặng, nếu giết một người Sát Đế Lợi thì bị xử bằng 1/4 tội giết một người Bà La Môn, nếu giết chết một người Vệ Xá thì bị xử bằng 1/8 và giết một người Thủ Đà La chỉ bị xử bằng 1/16 tội giết một người Bà La Môn. Ngược lại nếu một người Bà La Môn phạm những tội ác tàn bạo nhất cũng không phải chịu hình phạt tử hình.

Tóm lại, luật Manu là Bộ luật bảo vệ quyền lợi, tài sản, danh dự, tính mạng của giai cấp giàu có và các đẳng cấp trên, đặc biệt là đẳng cấp Bà La Môn (chủng tộc Aria). Cho nên luật mang tính chất bất bình đẳng, đối tượng trừng trị của nó là giai cấp bị bóc lột và các đẳng cấp dưới. Luật Manu phản ánh sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ và sự phân biệt đẳng cấp là nguyên tắc chi phối của chế định của luật. Đây là hiện tượng đặc biệt của luật pháp Ấn Độ cổ đại. Luật Manu vừa là phong tục tập quán, vừa là pháp luật thừa nhận bảo vệ làm cho chế độ đẳng cấp tồn tại đến tận thời kỳ lịch sử cận đại của Ấn Độ, là một trong các nguyên nhân làm cho xã hội Ấn Độ trì trệ suy yếu và rơi vào ách thống trị của người Anh vào năm 1757.

(Còn nữa)
CVL

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}