Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước (Kỳ 9)

TS Cao Văn Liên | Thứ Hai, 12/04/2021 08:23 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp sách “Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước” của TS Sử học Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Thanh niên - HN - 2004 ấn hành.                                                                                        

Kỳ 9.

Chương III: PHÁP LUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI

I. Khái quát Hi lạp cổ đại

Hy Lạp ở phía đông nam châu Âu, trên bán đảo Ban - căng (Balkan), còn bao gồm nhiều đảo và quân đảo ở biển Ê-giê (Aegea) và Địa Trung Hải, gần các nước: Nam Tư (cũ), Anbani, Bungari và Thổ Nhĩ Kỳ. Vùng bán đảo của Hy Lạp bao gồm ba khu vực: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Ngăn cách Bắc Bộ và Trung Bộ có đèo Téc-mô-pin Trung Bộ có vùng đồng bằng Át-tích (Attike) và đồng bằng Bê-ô-xi-a (Beotia). Ở đây có nhiều thành phố quan trọng xinh đẹp, nổi tiếng nhất là thủ đô A-ten (Athens). Trung Bộ và Nam Bộ được nối với nhau bằng eo Co-ranh (Corinth). Nam Bộ là một bán đảo như hình bàn tay xoè ra gọi là bán đảo Pê-lô-pô-e-dơ (Peloponesos). Ở đây có nhiều đồng bằng phì nhiêu.

Vùng bờ biển phía Tây của Hy Lạp khúc khuỷu tạo nên nhiều vịnh và hải cảng thuận tiện cho việc làm thương cảng. Các quần đảo và đảo trên biển Ê-giê là những căn cứ cho thuyền bè từ Hy Lạp sang Tiểu Á, Bắc Phi. Tiểu Á còn gọi là chiếc cầu nối giữa Hy Lạp với phương Đông cổ đại. Điều kiện địa lý như vậy giúp cho Hy Lạp cổ đại vừa phát triển kinh tế nông nghiệp, vừa phát triển công thương nghiệp, giao lưu kinh tế, văn hoá với phương Đông thuận tiện.

Cư dân của Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều tộc người: Người Êôliêng, người Lôniêng, người Akêăng và người Đôriêng.

Vào thế kỷ 11-12 trước Công nguyên, công xã nguyên thuỷ bắt đắt đầu tan rã, Hy Lạp bước vào thời kỳ dân chủ quân sự. Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ Hô-me-rơ (Homer), tác giả của hai tập sử thi nổi tiếng I-li-át (Iliad) và Ô-đi-xê (Odyssey). Thời kỳ này vừa có thủ lĩnh quân sự, vừa có Đại hội nhân dân nên gọi là dân chủ quân sự, phân hoá giai cấp đã rõ rệt nhưng nhà nước chưa ra đời.

Vào thế kỷ 8 trước Công nguyên, Hy Lạp bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước. Giai cấp thống trị áp bức bóc lột là chủ nô. Giai cấp quý tộc chủ nô bao gồm hai tầng lớp, tương ứng với các thành phần kinh tế của Hy Lạp: tầng lớp thứ nhất là chủ nô nông nghiệp (quý tộc - thị tộc). Đa số họ là quan chức trong thời kỳ nguyên thuỷ: Thủ lĩnh quân sự, tộc trưởng, tù trưởng thị tộc, bộ lạc, chiếm đoạt nhiều đất đai trở nên giàu có. Tầng lớp thứ hai là chủ nô công thương nghiệp. Tiếp đó là giai cấp bình dân bao gồm nông dân công xã và thị dân. Họ là những người có tài sản, tự do và là những công dân Hy Lạp. Giai cấp bị áp bức bóc lột nặng nề nhất là nô lệ. Cũng như các nước phương Đông, nô lệ Hy Lạp cũng là “tài sản biết nói” thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Nhưng nô lệ Hy Lạp khác nô lệ phương Đông ở chỗ Hy Lạp là chế độ nô lệ điển hình, nô lệ là lực lượng sản xuất chính của xã hội. Họ bị bóc lột kiểu khổ sai, lao động cật lực ở đồng ruộng, trong các xưởng thủ công và chèo thuyền cho chủ nhân buôn bán. Nguồn gốc nô lệ của Hy Lạp bao gồm các bộ lạc bị bại trận trong chiến tranh và những tù binh bắt, bị biến thành nô lệ.

Sự hình thành các nhà nước ở Hy Lạp bao gồm nhiều thành bang, mỗi thành bang là một nhà nước độc lập. Thành bang gồm một thành thị làm trung tâm và vùng đồng bằng hoặc miền núi xung quanh. Thành bang bé có diện tích khoảng 800 km2, thành bang rộng khoảng 8.000 km2. Ở Hy Lạp khi đó có hai thành bang lớn nhất là A-ten và X-pác.

Trong quá trình hình thành nhà nước, ở các thành bang đã diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp để lựa chọn hình thức nhà nước. Đó là cuộc đấu tranh giữa một bên là quý tộc muốn thiết lập chế độ quân chủ và bên kia là quý tộc công, thương có bình dân ủng hộ muốn thiết lập nền cộng hoà. Trong cuộc đấu tranh đó bọn quý tộc thị tộc đã thất bại. Ở những thành bang như A-ten, quý tộc công thương và bình dân chiến thắng triệt để, quý tộc thị tộc bị đẩy khỏi các cơ quan nhà nước thì thiết lập được nền cộng hoà dân chủ chủ nô. Ở những thành bang mà quý tộc công thương và bình dân chiến thắng không triệt để, thế lực của quý tộc, thị tộc còn lớn trong bộ máy nhà nước thì lập được chế độ cộng hoà quý tộc chủ nô như ở thành bang  X-pác.

Nền cộng hoà dân chủ chủ nô A-ten là một nhà nước dân chủ nhất của các nhà nước nô lệ thời kỳ cổ đại kể cả phương Tây và phương Đông. Nếu như ở chế độ quân chủ tất cả quyền lực tập trung vào tay vua. Vua nắm quyền suốt đời và do kế vị thì chế độ cộng hoà quyền lực thuộc về một tập thể do nhân dân bầu ra và có nhiệm kỳ nhất định. Chế độ cộng hoà dân chủ chủ nô Aten là dựa trên cơ sở kinh tế công, thương nghiệp, dựa trên cơ sở quý tộc công, thương và bình dân đông đảo trong xã hội. Nhà nước đó hình thành qua một quá trình đấu tranh lâu dài thông qua cuộc chính biến và những cuộc cải cách. Như chính biến của Xôlông năm 630 trước Công nguyên, cải cách của Tê-zê (Theséc) thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, cải cách Xô-lông (Solon) năm 594 trước Công nguyên, cải cách của Clix-ten (Clisthene) năm 509 trước Công nguyên và cuối cùng là cải cách của Pe-ri-cờ-lét (Pericles). Những cuộc cải cách đó đã hạn chế đi đến tiêu diệt thế lực của quý tộc thị tộc, cải tiến và hoàn thiện bộ máy nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô. Cho đến thời Pê-ri-cơ-lét  thế kỷ 5 trước Công nguyên là thời kỳ cao nhất của nền dân chủ A-ten.

Hình thức nhà nước A-ten là cộng hoà dân chủ chủ nô. Đứng đầu nhà nước là quan chấp chính do Đại hội nhân dân bầu ra với một nhiệm kỳ nhất định.

Đại hội nhân dân cứ mười ngày họp một lần, là cơ quan có quyền lực cao nhất của nhà nước. Thành phần tham gia bao gồm tất cả các công dân A-ten. Đây là cơ quan lập pháp nhưng phạm vi thảo luận của Đại hội nhân dân rất rộng và quyêt định những công việc lớn của nhà nước như việc quản lý đất nước; các chính sách đối nội và đối ngoại; chiến tranh hay hoà bình. Đại hội nhân dân bầu chọn những viên chức nhà nước. Các quan chức nhà nước phải báo cáo công việc và chịu trách nhiêm trước Đại hội nhân dân.

Đại hội nhân dân có quyền bầu ra Hội đồng 10 viên tư lệnh, mỗi người giữ một chức vụ khác nhau như Tư lệnh Bộ binh, Tư lệnh Thủ đô A-ten, Tư lệnh Hải quân, Tư lệnh Quân cảng Pi-rê (Piret)... Đại hội bầu ra những quan chức trông coi tài chính như chức giám đốc ngân hàng, chức quản lý cầu cống và kiến trúc và nhiều chức vụ khác. Các chức vụ đó đòi hỏi người có kiến thức chuyên môn cao và có tài sản để sẵn sàng đền bù cho nhà nước nếu như làm thất thoát. Đại hội nhân dân còn bàn đến những việc quan trọng nhất của toà án. Đại hội còn có quyền ban cấp hoặc tước đoạt quyền công dân của người nào đó.

Như vậy, Đại hội nhân dân đã bầu và giám sát tất cả các chức vụ dân cử, các quan chức đại diện cho quyền lực công cộng, quyền giám sát đó được thực hiện theo nguyên tắc cả công dân đều có quyền chất vấn và phát triển ở Đại hội nhân dân.

Hội đồng nhân dân: Còn gọi là Hội đồng 500 là một cơ quan nhà nước có vai trò sau Đại hội nhân dân. Hội đồng được bầu theo lối bốc thăm ở 10 phân khu hành chính của A-ten, mỗi phân khu bầu 50 đại biểu và tổng số hội đồng là 500 người. Đây là hội đồng thường trực của Đại hội nhân dân như là uỷ ban hành chính.

Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện nhà nước trong mối quan hệ ngoại giao như đón tiếp đại sứ và giới thiệu họ trước Đại hội nhân dân. Hội đồng có trách nhiệm thi hành những nghị quyết của Đại hội nhân dân, giải quyết các công việc không quan trọng giữa hai nhiệm kỳ của đại hội, quyền quản lý tài chính, thảo luận và chuẩn bị những văn bản thuộc những vấn đề lớn, quan trọng của nhà nước để Đại hội nhân dân biểu quyết, như dự án luật... Hội đồng có quyền bắt giam người có tội phá hoại an ninh quốc gia, quyền truy tố trước toà án kẻ phản bội Tổ quốc, quyền giám sát công việc của các quan chức nhà nước, kiểm tra việc thi hành những nghị quyết của Đại hội nhân dân.

Hội đồng 10 viên tư lệnh: được bầu ở Đại hội nhân dân, nhiệm kỳ 1 năm. Hội đồng có quyền chỉ huy quân đội A-ten, quyền vạch chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước. Các thành viên của Hội đồng chịu trách nhiệm trước Đại hội nhân dân. Thành viên của Hội đồng không được ăn lương của nhà nước cho nên chỉ những người giàu có mới được giữ chức vụ này. Khi phản bội Tổ quốc hay bại trận, thành viên đó sẽ bị xử tử hoặc bị sung công tài sản và bị trục xuất khỏi A-ten.

Cơ quan thứ tư của nhà nước A-ten là Toà án nhân dân, gồm 6.000 thẩm phán, là cơ quan giám sát và tư pháp cao nhất. Trong khi xử án, nhà nước đặt ra nhiều luật lệ để ngăn chặn tình trạng thiếu công minh và ăn hối lộ. Cũng giống như Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân cũng được bầu ở 10 phân khu hành chính, mỗi phân khu bầu 600 thẩm phán theo phương pháp bỏ phiếu và nhiệm kỳ 1 năm.

Nhà nước Aten không có viện công tố, mọi người dân có thể tự phát đơn kiện, tức là tự khởi tố hoặc là tự bào chữa cho mình. Trong phiên tòa sau khi đã nghe hai bên đối chất, tòa sẽ họp kín để quyết định bản án.

Nhà nước A-ten sử dụng rất nhiều cách thức bỏ phiếu để phát huy quyền dân chủ, đó là các hình thức giơ tay biểu quyết, bỏ phiếu bằng cách bốc thăm để bảo đảm công bằng, tạo cho nông dân tham gia vào bộ máy nhà nước. Ví dụ như cách bỏ phiếu bằng cách bốc thăm để lựa chọn vị quan cao nhất của nhà nước là quan chấp chính. Trong đại hội nhân dân, ai bốc được chiếc thăm có ghi làm quan chấp chính thì người đó sẽ là quan chấp chính, dù trước đó anh ta là một công dân thường.

Dưới thời cai trị của Clix-ten bắt đầu từ năm 509 trước Công nguyên, để bảo vệ nền dân chủ, ngăn chặn nguy cơ độc tài, trong Đại hội nhân dân hằng năm có bỏ phiếu kín bằng vỏ sò thăm dò dư luận. Cá nhân nào bị 6.000 phiếu ghi là có tư tưởng độc tài thì người đó phải rời khỏi A-ten, 10 năm sau mới được trở về và lại được hưởng quyền công dân như trước.

Tóm lại, nhà nước A-ten là nhà nước dân chủ nhất thời kỳ cổ đại. Giải thích hiện tượng này, Pê-ri-cơ-lét nhà chính trị uy tín nhất của nhà nước A-ten đã viết: “Chế độ đó được gọi là chế độ dân chủ, bởi vì ở đó chính quyền không phải thuộc về thiểu số mà thuộc về đa số công dân”. Các Mác cũng viết: “Sự phát triển cao nhất của nội bộ Hy Lạp là thời Pê-ri-cơ-let”[1], tức là vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, thời Pê-ri-cơ-lét vào quan chấp chính.

Dù bản chất của nó là phục vụ giai cấp chủ nô, nhưng đỉnh cao của thiết chế dân chủ tạo điều kiện cho nền văn hoá A-ten phát triển rực rỡ đạt đến trình độ văn minh, đặt cơ sở cho nền văn minh La Mã cổ đại và cho toàn bộ nền văn minh châu Âu thời kỳ cận hiện đại.

(Còn nữa)
CVL

----------------------

[1] Mac-Ăngghen toàn tập. T. 12 tiếng Nga, trang 98.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}