Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Tổng quan về một thời kỳ văn học (Từ thế kỷ 15 đến nửa đầu thế kỷ 19)

Vũ Bình Lục | Chủ Nhật, 02/05/2021 19:25 GMT +7

Lời tác giả: Cho đến thời điểm này, tôi đã hoàn tất bản thảo bộ sách 2 tập mang tên NHỮNG KHOẢNG LẶNG TÂM TƯ, giải mã thơ chữ Hán Việt nam từ thế kỷ 14 đến nửa đầu thế kỷ 19. Tôi đã dịch thơ và bình giải 402 bài thơ của 120 tác giả. Cả 2 cuốn khoảng 1450 trang in khổ 24/16. Đây là bài TỔNG QUAN vừa viết xong. Xin các cụ cao minh và bạn đọc cho ý kiến góp ý chân thành. Tác giả có thể điều chỉnh trước khi in. Đa tạ!

Tác giả Vũ Bình Lục.


1
Nước ta có lịch sử mấy ngàn năm, dựng nước và giữ nước. Quá trình lịch sử lâu dài ấy, biết mấy thăng trầm, biết bao bể dâu hưng phế. Gian khổ, đau thương, mà anh dũng tuyệt vời. Trước hết, vẫn phải kể đến liên tiếp những cuộc chống ngoại xâm, chúng đến từ khắp bốn phương như những đàn quạ dữ. Nhưng sự chịu đựng ngoan cường nhất, vất vả hy sinh nhiều nhất, vẫn là những cuộc chiến đấu chống kẻ thù tàn bạo đến từ phương Bắc. Nói thẳng ra, đó chính là những cuộc chiến đấu chống lại các tập đoàn quân phiệt Trung Quốc, từ cổ chí kim. Chúng chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn tiêu diệt, muốn đồng hóa dân tộc ta, kể cả giống nòi và văn hóa, biến nước ta thành quận huyện, thành chư hầu của chúng. Và chúng đã có một số lần thành công. Chúng đã đặt ách đô hộ dã man lên nước ta, có thời kỳ kéo dài hàng ngàn năm. Sử sách thường gọi đó là thời kỳ Bắc thuộc.
Bộ tộc Lạc Việt của nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước, đã bị Thục Phán, hậu duệ của nước Thục ở khoảng Tứ Xuyên Trung Quốc đánh bại. Trước đó, năm 316 trước công nguyên, nước Thục đã bị nhà Tần thôn tính. Con cháu nước Thục sống sót trôi dạt xuống phương Nam, lập ra bộ tộc Tây Âu, sinh sống ở vùng Vân Nam (Trung Quốc ngày nay), Cao Bằng, Yên Bái (của nước ta ngày nay). Thục Phán thôn tính được nước Văn Lang của vua Hùng, sáp nhập bộ tộc Tây Âu của ông ta vào bộ tộc Lạc Việt, thành bộ tộc Âu Lạc, rồi chuyển đô từ Phong Châu (Phú Thọ), xuống Phong Khê, xây thành ốc Cổ Loa, (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), tự xưng là An Dương Vương, thống trị nước ta khoảng 50 năm. Cuối đời, Thục Phán ăn chơi hưởng lạc, nghe lời sàm tấu của bọn siểm nịnh, giết hại các Lạc Hầu, Lạc Tướng đã từng giúp ông ta lập quốc, như những công thần khai quốc hàng đầu. Ví như tướng quân Cao Lỗ (Cao Lỗ Vương), Đinh Toán, Nồi Hầu… khiến vương triều suy yếu. Cuối cùng, Thục Phán (An Dương Vương) đã bị Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) tiêu diệt. Nước Văn Lang được sáp nhập vào nước Nam Việt, do Triệu Vũ Đế (240 trước CN-137 trước CN) sáng lập, đóng đô ở Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc), tồn tại mạnh mẽ hàng trăm năm, hùng mạnh như một quốc gia rộng lớn của người Bách Việt, lấy dãy núi Ngũ Lĩnh làm biên giới, đối trọng với nhà Tần, nhà Hán của Trung Quốc. Người anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Đại thi hào Nguyễn Trãi đã viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc (TQ), Nam (Đại Việt) cũng khác / Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương / Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau / Song hào kiệt đời nào cũng có” (Trích ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ)… Đến đời chắt của Triệu Vũ Đế, nước Nam Việt bị nhà Hán thôn tính. Các tộc Việt ở phía Nam Ngũ Lĩnh bị giặc Hán đồng hóa, đất đai bị chúng cướp mất, văn hóa, chữ viết bị chúng thủ tiêu…
Năm 40 sau CN, hai chị em Bà Trưng, hậu duệ của các vua Hùng, dựng cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Thái thú Tô Định, giành lại toàn bộ đất đai nước Nam Việt cũ, bao gồm Lưỡng Quảng, chạy dài ra bán đảo Hải Nam của Trung Quốc ngày nay. Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh (Hà Nội ngày nay). Nhưng cũng chỉ tồn tại được 3 năm. Năm 43 sau CN, Mã Viện lại đem binh hùng tướng mạnh sang đánh bại Hai Bà Trưng. Nước Nam Việt lại rơi vào tay nhà Hán.
Đến khoảng giữa thiên niên kỷ, một số cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lương, nhà Đường đã nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí (Lý Bôn) lãnh đạo, lập ra nước Vạn Xuân. Lý Bí (503-548) xưng là Lý Nam Đế, sau lại bị giặc Bắc đánh bại. Triệu Quang Phục (524-571) nối tiếp sự nghiệp của Lý Nam Đế, xưng là Triệu Việt Vương, nhưng cuối cùng do nội bộ mâu thuẫn, khiến Triệu Quang Phục cũng thất bại. Mãi đến năm 938, Ngô Quyền (897-944) đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại quyền tự chủ…Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, lại đóng đô ở Cổ Loa. Đinh Bộ Lĩnh (924-979) đánh dẹp 12 sứ quân, lập ra nhà Đinh, xưng là Vạn Thắng Vương, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt tên nước là Đại Cồ Việt, mở ra một thời kỳ mới vẻ vang của dân tộc. Đó là một sự thật lịch sử đã được khẳng định, được chép vào các bộ sử lớn của nước ta, xin đừng quên và không ai được phép cố tình quên lãng điều ấy!
2
Có một số nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng ở thời kỳ các vua Hùng, hơn 2 ngàn năm, nước ta không thấy có chữ viết. Nhưng họ không nghĩ, không suy xét đến tận gốc nguồn, để tự lý giải cho câu hỏi của mình. Một dân tộc nhỏ bé bị giặc Tàu đô hộ, dã tâm tiêu diệt nền văn hóa của ta, kéo dài cả hàng ngàn năm, thì sao có thể còn chữ viết? Nhưng có một bảo vật quốc gia mà không ai có thể chối cãi được, đó chính là trống đồng của người Việt, vẫn còn đó như một chứng nhân lịch sử vô cùng sống động. Trống đồng Đông Sơn, một sản phẩm văn hóa tuyệt vời do bàn tay tài hoa và trí tuệ trác việt của người Việt chế tác. Trên mặt trống đồng Đông Sơn đã tích hợp một cách vô cùng tinh xảo những họa tiết tinh vi, đã thể hiện gần như đầy đủ hình ảnh cuộc sống phong phú của người Việt, bao gồm cả đời sống văn hóa, tâm linh, mà ở đấy có cả Kinh Dịch, mà người Trung Quốc đã ăn cắp, rồi nhận là của họ, rồi nâng cấp lên đến hoàn hảo như ngày nay. Một dân tộc đã làm ra trống đồng, đỉnh cao của nền văn minh thời ấy, chẳng lẽ lại không có chữ viết của riêng mình hay sao? Bọn xâm lược Tàu đã dã tâm triệt tiêu tất cả, kể cả chữ viết của nước ta.
Đến năm 1407, tên tội phạm văn hóa lớn nhất mọi thời đại là Minh Thành Tổ (Chu Đệ) đã chỉ thị cho tướng Trương Phụ phải triệt để tiêu diệt nền văn hóa của nước ta. Đến cuối năm 1407, Chu Đệ lại hạ lệnh cho các tướng của hắn một lần nữa, truy quét một lần nữa, quyết không để sót một thứ gì, kể cả bia đá của người Việt. Sách vở thư tịch của nước ta từ thời Lý-Trần, cái gì quý thì chúng cướp về Trung Quốc. Còn lại thì chúng đốt sạch sành sanh. Minh Thành Tổ còn không quên chỉ bảo bọn quan quân nhà Minh phải xóa sạch, thủ tiêu cả những văn bản chiếu chỉ mà hắn gửi từ Yên Kinh (Bắc Kinh) tới, không để cho người nước ta biết. Để làm gì? Để xóa sạch vết tích tội ác diệt văn hóa vô cùng tàn bạo của chúng chứ sao?
Chính vì lẽ đó, kho tàng văn chương thời Lý Trần đồ sộ như núi, cũng chỉ còn sót lại một số ít ỏi, do nhân dân ta tìm cách giấu đi. Bia đá thì dìm xuống ao hồ. Văn chương thì chôn giấu ở hang núi, chùa chiền… Một số thơ ca được các cụ ta khôn kéo giấu vào trong trí nhớ, trong các bộ sách nhà chùa.v.v…Số còn lại mà chúng ta có được đến nay, quả là một kho báu vô giá. Việc giải mã kho báu văn chương đời Lý-Trần, đã có, nhưng cũng chưa được bao nhiêu…
Thơ ca hơn hai trăm năm của triều đại nhà Hậu Lý (1009-1255), ngoài mấy bài thơ của Thượng thư Đoàn Văn Khâm, cũng chỉ thấy còn lại được khoảng gần trăm bài kệ của các Thiền sư, đã đạt đến tiêu chí của Thơ về nghệ thuật. Thế thôi. Nội dung các bài thơ (kệ) chủ yếu thể hiện những yếu chỉ của Phật pháp. Đời Lý lấy Phật giáo làm Quốc giáo. Thơ ca may còn sót lại, là vì nó nằm trong các thư tịch, kinh điển của Phật giáo. Còn như thơ ca của những tác giả khác, mà chắc chắn là rất nhiều, đã bị giặc Minh tiêu hủy trong năm 1407. Số còn lại thì mục nát trong các rương hòm của gia đình các tác giả.
Thơ ca gần hai trăm năm ở đời Trần (1256-1400), rất nhiều giá trị, cũng chỉ còn sót lại có mấy trăm bài. Những tên tuổi lớn, phải kể đến là Hưng Ninh Vương Trần Tung (anh trai Trần Quốc Tuấn), Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Quang Triều, Nguyễn Ức, Nguyễn Phi Khanh. Có thể kể thêm Trần Minh Tông và Trần Nguyên Đán nữa…
Nhìn chung, thơ ca đời Lý-Trần, phần nhiều in đậm hoặc phảng phất mùi Thiền, mà bao trùm vẫn là dòng Thiền TRÚC LÂM YÊN TỬ, khởi nguồn từ Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, tiếp nối là Trúc Lâm Đại Sĩ Trần Nhân Tông và các đệ tử Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) và Huyền Trang (Lý Đạo Tái)…
3
Từ đời Hậu Lê, nhìn toàn cảnh, có thể thấy rõ mấy thời kỳ nổi bật.
Cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh, do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ mới của dân tộc. Năm 1418, Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, thiết lập nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền. Điển chế đều dựa vào các điển chế của nhà Minh bên Trung Quốc. Thời kỳ cầm quyền 6 năm của Lê Lợi, đất nước xảy ra rất nhiều biến cố trên chính trường. Một số tù trưởng vùng biên cương trước theo nhà Minh, chưa chịu sự lãnh đạo của triều đình nhà Lê, muốn làm chủ một vùng lãnh thổ biên cương rộng lớn. Lê Lợi phải đích thân cầm quân đi chinh phạt. Lớn nhất là cuộc hành quân chinh phạt thủ lĩnh Đèo Cát Hãn ở Lai Châu, Hòa Bình. Đấy là chưa kể những cuộc xâm lấn quấy phá của người Chiêm Thành ở phía nam, của người Ai Lao (Lào) ở phía tây, vẫn diễn ra liên tiếp, kể cả các đời vua sau....
Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ra sức củng cố vương quyền, ổn định xã tắc. Tuy nhiên, Lê Lợi vẫn mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng. Vì muốn bảo vệ quyền lợi cho gia tộc và dòng họ, Lê Lợi đã tin dùng những kẻ siểm nịnh, dẫn đến việc giết oan một số công thần khai quốc, như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn. Nguyễn Trãi cũng bị bắt giam, may lại được tha, rồi thất sủng. Lộng thần Lê Sát giết oan công thần khai quốc Lưu Nhân Chú v.v…Vụ án giết oan Phạm Văn Xảo còn bị xóa đi trong chính sử, nhằm che giấu tội ác của kẻ cầm quyền. Mãi sau, các ông Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú… mới lại được minh oan. Tình hình trong triều ngoài biên như thế, trong sáu năm Lê Lợi cầm quyền, sao gọi là ổn định và phát triển được? Thêm nữa, Lê Lợi tin dùng những tướng lĩnh võ biền, không biết chữ, nắm giữ những chức vụ trọng yếu trong việc điều hành đất nước, giết hết những khai quốc công thần có học, thì sự rối loạn sẽ là điều tất nhiên. Tướng lĩnh người nhà, có công trong chiến tranh chống giặc Minh xâm lược, nhưng họ mù chữ, lòng dạ tiểu nhân, chỉ biết ghen ghét người tài, mưu toan lợi ích nhóm, hậu quả là vô cùng nguy hại, như ta đã biết.
Lê Thái Tông làm vua khi còn nhỏ, được sự giúp đỡ của vợ chồng Nguyễn Trãi. Tưởng rằng trời đất sẽ sáng sủa ra. Nhưng thời bình, nhóm lợi ích nổi lên tìm mọi cách câu kết với nhau, chống lại Nguyễn Trãi và một số người có tư tưởng như Nguyễn Trãi. Kế hoạch giết vua, giết vợ chồng Nguyễn Trãi đã được thiết kế rất hoàn hảo. Và họ đã thành công mỹ mãn.
Trong khoảng thời gian chỉ vài chục năm, triều Hậu Lê rối như canh hẹ. Nội tộc giết nhau như ngóe, tranh ngôi đoạt vị, khiến trăm họ lầm than. Chỉ đến khi Lê Tư Thành (Lê Thánh Tông) lên ngôi, đất nước mới yên. Lê Thánh Tông cầm quyền, mở ra một thời đại huy hoàng, cực thịnh, mặc dù ông cũng có một số sai lầm nghiêm trọng, khiến cháu chắt ông bắt chước mà thành ra những tên Vua Quỷ (Lê Uy Mục), Vua Lợn (Lê Tương Dực). Kể từ đó, triều nhà Lê Sơ mục ruỗng, suy tàn.
Văn chương ở giai đoạn đầu Lê, trước hết phải kể đến ngọn núi thơ Nguyễn Trãi, với khoảng hơn 254 bài thơ Nôm, khoảng hơn trăm bài thơ chữ Hán được sưu tầm. Mới chỉ tìm kiếm được như thế đấy thôi. Tác phẩm của Nguyễn Trãi chắc không chỉ có thế. Ngoài phần trước tác văn xuôi hiện có, thơ Nguyễn Trãi đã bị bọn cầm quyền nhơ bẩn dã tâm đốt hết cả rồi…Ngoài đỉnh cao Nguyễn Trãi, còn khá nhiều thi nhân nổi bật, ví như Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Mộng Tuân, Vũ Mộng Nguyên, Lý Tử Tấn. Giai đoạn vua Lê Thánh Tông cầm quyền, nhà vua lập hội Tao Đàn Nhị thập bát tú, cùng các văn quan xướng họa. Nội dung thơ thời kỳ này chủ yếu là tụng ca, nghệ thuật thơ đạt đến kinh điển, nhưng hình thức quan phương, gò bó. Chỉ riêng có Thái Thuận, Lý Tử Tấn, Nguyễn Bảo, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân… thì lại đậm chất trữ tình bản thể, vừa hiện thực, lại vừa điêu luyện…
Mạc Đăng Dung giành lấy vương quyền, sáng lập ra nhà Mạc (1527-1683), thịnh trị rực rỡ ở triều Mạc Thái Tổ (Đăng Dung) và Mạc Thái Tông (Đăng Doanh). Nhưng từ Mạc Phúc Hải trở đi, do một số viên quan sủng thần lộng hành, nội bộ tranh đoạt lẫn nhau, khiến nhà Mạc suy yếu dần. Những cuộc chiến giữa nhà Mạc và nhà Lê trung hưng ở Thanh Hóa, diễn ra liên miên. Cuối cùng, nhờ thế lực nhà Trịnh, nhà Lê lại giành lại được chính quyền. Tuy nhiên, vua Lê chỉ là một cái bóng vàng son tội nghiệp. Chính quyền thực sự rơi vào tay các chúa Trịnh.
Thơ ca thời kỳ nhà Mạc bị triều Lê-Trịnh và nhà Nguyễn tìm cách thủ tiêu. Hình ảnh nhà Mạc bị che lấp bởi những định kiến hủ lậu. Tuy nhiên, văn hóa vật thể và phi vật thể do nhà Mạc để lại, vẫn không thể bị tiêu diệt hết. Những tác gia nổi tiếng, như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Hoàng Sĩ Khải v.v…vẫn được người đời quý trọng, vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.
Thơ ca ở thời kỳ Lê Mạt, có nhiều cung bậc trữ tình khác nhau. Mà nổi bật, vẫn là những nhà thơ từng đi sứ sang nhà Minh và tiếp đấy là nhà Thanh. Phải kể đến mấy nhà thơ tiêu biểu, như Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn, Đoàn Nguyễn Thục, Hồ Sĩ Đống…Thơ Quốc âm ở thời kỳ này, đặc sắc nhất là các tác phẩm CUNG OÁN NGÂM KHÚC của Nguyễn Gia Thiều, CHINH PHỤ NGÂM KHÚC, Đoàn Thị Điểm chuyển ngữ từ thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn, TRUYỆN KIỀU, Nguyễn Du chuyển thể từ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN (Văn xuôi) của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc thành truyện thơ thể lục bát truyền thống của người Việt. Ngoài ra, phải kể đến thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, mặc dù, cho đến nay, thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn những vấn đề còn phải minh xác thêm nữa…
Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh, “phù Lê”. Nhiều cuộc đổi gió xoay chiều liên tiếp diễn ra. Sĩ phu Bắc Hà cũng tan tác, xoay chiều tứ tán, lâm vào cuộc khủng hoảng tư tưởng rất đáng thương. Lê Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh, rồi lại mượn sức người Thanh quay lại “phục quốc”. Cuối năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh mượn danh nghĩa giúp Lê Chiêu Thống, sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem gần ba chục vạn quân ào ạt vượt biên giới sang cướp nước ta. Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung đem quân tiến ra Thăng Long, chỉ trong mấy ngày, đã quét sạch giặc thanh, giải phong Thăng Long. Sĩ phu Bắc Hà, kẻ khư khư ôm nỗi cô trung, như Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Trần Danh Án v.v… người nhanh chóng hướng theo ánh sáng thời đại mới như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Thế Lịch. v.v…Một số tác gia tiêu biểu ở thời kỳ Tây Sơn chính là Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn…
Nhà Tây Sơn mau chóng sụp đổ, kể từ sau cái chết rất bất thường của người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ. Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, thống nhất thiên hạ. Một số sĩ phu Bắc Hà từng phục vụ ở thời Lê Mạt, lại ra giúp nhà Nguyễn, như Nguyễn Du, Đặng Trần Thường… Các sĩ phu Bắc Hà từng phục vụ nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh truy sát. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số người khác bị bắt, bị đánh đòn thù ở ngay Văn Miếu Thăng Long. Riêng Ngô Thì Nhậm bị đánh đến chết. Thiên hạ kinh hoàng nhốn nháo đảo điên.
Thơ ca đầu nhà Nguyễn, đỉnh cao chót vót vẫn là thơ chữ Hán của Thánh thơ Cao Bá Quát. Sau nữa là thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nguyễn Tư Giản, Vũ Tông Phan. Thơ Quốc âm của Bà Huyện Thanh Quan (Nguyễn Thị Hinh), Nguyễn Đình Chiểu ở Nam Bộ. Ngoài ra cũng phải kể đến mảng thơ ca của vua Tự Đức và của các vị tôn thất cung đình, như Tùng Thiện Vương, Tuy lý Vương v.v…
4
Mấy trăm năm lịch sử, chủ yếu là những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực, vô cùng đẫm máu, khiến nhân dân ta vô cùng khốn khổ. Ngoại trừ cuộc chiến đấu chống bọn xâm lược Mãn Thanh (1789), diễn ra trong một thời gian ngắn, thì còn lại chỉ là những cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, không ngừng không nghỉ. Những cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại ách áp bức nặng nề của triều đình phong kiến, ở thời Lê Trịnh và nhà Nguyễn liên tục diễn ra. Biến động lịch sử đau thương, khiến lòng người chia rẽ, gia đình ly tán, xóm làng điêu linh, dân tộc chìm đắm trong lạc hậu tăm tối…
Văn chương ở giai đoạn lịch sử khoảng 500 năm kể từ thời Hậu Lê cho đến đời nhà Nguyễn, cũng mất mát quá nhiều. Chiến tranh loạn lạc điêu tàn, cảnh đốt phá chém giết là không tránh khỏi. Một số quan chức bị bắt tội, dù đúng hay sai, tác phẩm của họ do đó cũng bị thất tán, hoặc bị tiêu hủy rất nhiều. Thật là đáng tiếc lắm thay!
Thơ ca có thiên chức vô cùng cao quý. Nó phản ánh đời sống tâm hồn, trí tuệ và minh triết nhân văn của người Việt ta. Thơ phóng chiếu hình ảnh lịch sử. Qua những mảnh vụn tâm tư của các nhà thơ, hình ảnh xã hội hiện lên một cách chân thực và sinh động vô cùng.
Dù chưa thể và cũng không thể đầy đủ, song, những gì chúng ta còn có trong tay, khoảng hơn 400 bài thơ, 119 tác giả được chọn trong sách NHỮNG KHOẢNG LẶNG TÂM TƯ, rất đáng để chúng ta tự hào, nâng niu quý trọng và gìn giữ cho muôn đời sau, như những bảo vật phi vật chất vô giá. Và quan trọng hơn, là phải truyền cảm hứng sáng tạo và tự hào dân tộc đến thế hệ trẻ muôn đời sau!
Hà Nội 1-5-2021

V-B-L

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}