Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vai trò của thủy quân Việt Nam trong lịch sử dân tộc (Kỳ 11)

PGS TS Cao Văn Liên | Chủ Nhật, 17/01/2021 07:59 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp bài viết của PGS TS Cao Văn Liên về "Vai trò của thủy quân việt Nam trong lịch sử dân tộc".”

Tranh minh họa: Nguyễn Huệ chỉ huy trận thủy chiến Rạch Gầm – Xoài Mút

Kỳ 11

Trận thủy chiến bắt đầu. Vừa trông thấy hạm đội Tây Sơn, chiến thuyền quân Nguyễn bắn chặn dữ dội. Thủy quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ lợi dụng lúc nước triều đang lên mạnh, thuận chiều gió ào ạt tiến lên và tấn công rất mãnh liệt. Vượt qua làn đạn, thủy quân Tây Sơn dũng cảm tiến sát chiến thuyền quân Nguyễn và tung hỏa công đánh phá dữ dội. Trận thủy chiến diễn ra rất ác liệt. Các chiến thuyền quân Nguyễn bị đốt cháy, lửa khói mù mịt, súng nổ ầm ầm. Cả bầu trời cửa biển Cần Giờ rung chuyển và ngùn ngụt khói lửa. Trước tài chỉ huy của Nguyễn Huệ và sự dũng mãnh của thủy quân Tây Sơn, các chiến thuyền của Nguyễn ánh phải rút dần. Thủy quân Tây Sơn vẫn bám sát chiến thuyền địch, dùng hỏa công bắn phá càng mạnh. Thủy quân Nguyễn Ánh tan vỡ. Các chiến hạm của Pháp và Bồ Đào Nha đều hoảng hốt bỏ chạy. Một chiếc tàu kiểu Âu châu trên có đặt 10 đại bác do Manuel chỉ huy đã không chạy thoát, bị quân Tây Sơn đuổi rất gấp, Nguyễn Ánh đang ở trên tàu chỉ huy cuộc rút lui hốt hoảng phải bỏ tàu xuống thuyền nhẹ chạy nhanh vào bờ. Chiếc tàu của Manuel cố sức chống cự nhưng chiếc tàu tối tân của y vẫn bị thủy quân Tây Sơn đốt cháy, Manuel tử trận. Khi đó Nguyễn Ánh vừa chỉ huy một đội chiến thuyền đến cứu viện cho Manuel nhưng bị hỏa lực trên chiến thuyền Tây Sơn chặn đánh dữ dội. Nguyễn  Ánh phải đem quân rút chạy về Bến Nghé.

   Đạo thủy binh chủ lực của Nguyễn Ánh hoàn toàn bị đánh bại, phòng tuyến quan trọng nhất trong kế hoạch phòng thủ Gia Định bị chọc thủng. Bộ binh và thủy binh Tây Sơn ào ạt tiến đánh Thị Nghè, Bến Nghé, Gia Định và những đồn lũy kiên cố nhất mà Ánh đã dày công xây dựng dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Âu châu. Thành lũy kiên cố không chặn được bước tiến của quân Tây Sơn. Thủy quân và lục quân Tây Sơn liên tục hạ thành Gia Định, chiếm đồn Thị Nghè, tiến đánh Nguyễn Ánh ở Bến Nghé. Thủy binh Nguyễn Ánh tới đây hoàn toàn tan rã. Nguyễn Ánh đem tàn quân trốn về Ba Dòng. Nguyễn Huệ cho các chiến thuyền nhỏ liên tục đuổi đánh trên khắp các ngả sông. Nguyễn Ánh tập hợp một số lực lượng, chỉnh đốn hàng ngũ rồi lên đóng ở Ngã Tư (Tứ Kỳ Giang) thuộc Gia Định. Thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy lại tiến đánh mãnh liệt. Thủy quân Nguyễn Ánh tan rã ngay từ phút chiến đấu đầu tiên. Nguyễn Ánh phải bỏ chạy đi Lột Giang rồi bạt sang miền Hậu Giang.

Trong khi đó đạo quân thủy bộ do tướng của Nguyễn Ánh là Nguyễn Hữu Thận bị bộ binh Tây Sơn do tướng Nguyễn Văn Kim chỉ huy đánh cho đại bại ở Biên Hòa và đạo quân này hoàn toàn bị Nguyễn Văn Kim truy kích tiêu diệt tại Giang Lắng. Các đạo quân của Nguyễn Ánh ở Bình Thuận cũng bị Tây Sơn đánh cho đại bại ở Biên Hòa, các tướng Chu Văn Tiếp, Tôn Thất Dụ phải rút về Bình Thuận. Toàn bộ đất đai Gia Định được giải phóng, lại đặt dưới quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Lực lượng quân sự của Nguyễn Ánh hầu hết bị tiêu diệt.

Cuộc đọ sức lần này là một cuộc đọ sức ác liệt giữa quân đội Tây Sơn và các thế lực của Nguyễn Ánh, những trận chiến đấu có tính chất quyết định đều do thủy quân hai bên làm lực lượng chính và tiến hành. Sở dĩ như vậy vì trước khi bước vào cuộc chiến tranh hai bên đều dành thời gian tăng cường lực lượng và đã có kinh nghiệm trên chiến trường Gia Định. Nguyễn Ánh đã ra sức xây dựng bộ binh và xây dựng một đội thủy quân khá mạnh, chủ lực là những thuyền chiến lớn và các hạm đội Âu châu do các tướng Pháp và Bồ Đào Nha chỉ huy. Tin vào ưu thế quân số, phương tiện kỹ thuật thủy quân và kỹ thuật trúc thành, tham vọng của Nguyễn Ánh là đánh tan cuộc tấn công của Nguyễn Huệ mà trước hết là đập tan được thủy quân chủ lực Tây Sơn ở cửa biển Cần Giờ. Và Nguyễn Ánh tin sẽ làm được điều đó. Để thực hiện tham vọng khi đó, với sự giúp đỡ của các sĩ quan quân sự Âu châu, Nguyễn Ánh đã biến khu vực Gia Định thành khu vực phòng ngự kiên cố. Ánh đã bố trí một lực lượng thủy quân khá mạnh trên cửa biển Cần Giờ mà bộ phận cốt cán là các chiến hạm tối tân Âu châu. Đó là phòng tuyến thứ nhất và quan trọng nhất của hệ thống phòng thủ. Phía trong của phòng tuyến, Ánh tự chỉ huy một đội chiến thuyền dự bị, sẵn sàng xông ra tiếp ứng cho phòng tuyến số một. Để tránh bị uy hiếp cạnh sườn phía Bắc, Nguyễn Ánh phái một đạo quân thủy bộ do tướng thân cận Nguyễn Hữu Thận chỉ huy ngăn chặn bộ binh Tây Sơn từ Bình Thuận tiến vào. Với lối bố trí kín đáo vững chắc lợi hại đó, Nguyễn Ánh đã đặt thủy quân Tây Sơn vào cuộc chiến đấu ác liệt.

Về phía Tây Sơn, Nguyễn Huệ dùng một hạm đội tác chiến rất mạnh và một hạm đội vận tải lớn chở bộ binh. Lần này, kế hoạch của Nguyễn Huệ là tập trung cả thủy binh và bộ binh vào một hướng để phá vỡ phòng tuyến Gia Định mà chủ yếu nhất là phải phá vỡ được phòng tuyến quan trọng số 1 của Nguyễn Ánh trên cửa biển Cần Giờ, tức là phải tiêu diệt được đạo thủy quân chủ lực mạnh mẽ của Nguyễn Ánh. Đó là một nhiệm vụ nặng nề có tầm quan trọng quyết định thành bại của cả chiến dịch. Vì có phá vỡ được đạo thủy binh chủ lực đó của Nguyễn Ánh thì bộ binh và thủy binh Tây Sơn mới tiếp cận được Thị Nghè, Bến Nghé, thành Gia Định để công kích và quân đội Tây Sơn mới thọc sâu mũi dao vào nội địa tiêu diệt kẻ thù. Một lần nữa thủy quân Tây Sơn lại đóng vai trò chủ lực làm nhiệm vụ chủ yếu và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Mặc cho thủy quân địch chặn bắn dữ dội, với một tinh thần dũng cảm cao độ, với sức mạnh tấn công ào ạt, thủy quân Tây Sơn đã nhanh chóng đánh tan đạo thủy quân mạnh mẽ của Nguyễn Ánh, phá vỡ phòng tuyến quan trọng, mở toang cánh cửa cho bộ binh, thủy binh tiến công vào hạ chiến lũy Thị Nghè, Gia Định, Bến Nghé và đột kích vào nhiều hướng khác. Thủy quân Tây Sơn đã đóng vai trò xung kích và chủ lực tiêu diệt quân thù. Tiếp theo chiến thắng Cần Giờ, thủy quân Tây Sơn còn đánh tan thủy quân Nguyễn Ánh trên Tứ Kỳ Giang, thủy quân Nguyễn Hữu Thận ở Bình Hóa, đưa quân đội và thủy quân Nguyễn Ánh đến chiến bại hoàn toàn.

Một đặc điểm nổi bật trong trận thủy chiến lần này là thủy quân Tây Sơn phải đọ sức với các chiến hạm Pháp và các chiến hạm Bồ Đào Nha. Ăngghen đã nhiều lần chỉ ra rằng phương thức sản xuất của xã hội như thế nào thì đẻ ra phương thức tác chiến và vũ khí tác chiến như thế ấy. Vào thế kỷ thứ 18, chủ nghĩa tư bản đã được xác lập ở châu Âu trên cơ sở sản xuất công nghiệp tiên tiến, thì ở phương Đông còn trì trệ trong chế độ phong kiến lạc hậu với nền sản xuất tự nhiên. Điều đó dẫn đến vũ khí tác chiến, chiến hạm phương Tây tiên tiến hơn vũ khí, chiến thuyền của các nước phương Đông. Trong khi tàu của một số nước phương Tây chạy bằng máy hơi nước thì ở phương Đông chiến thuyền vẫn chèo bằng sức lực của binh lính. Để quyết đánh bại quân đội Tây Sơn, thiết lập lại chế độ phong kiến phản động, Nguyễn Ánh đã không từ một thủ đoạn nào. Nguyễn Ánh đã ra sức mua vũ khí tối tân, tàu bè của  tư bản phương Tây và thuê cả chuyên viên quân sự người Âu châu giúp đỡ về phương diện kỹ thuật. Những chiến hạm Tây Âu với các sĩ quan Pháp, Bồ Đào Nha có mặt trong hàng ngũ thủy quân Nguyễn Ánh là những cố gắng trong lĩnh vực đó của ông ta. Nhưng tất cả đều không cứu Nguyễn Ánh khỏi thất bại trước sức mạnh của quân đội Tây Sơn. Bất chấp những chiến hạm bằng đồng có tốc độ nhanh, có gắn nhiều đại bác cỡ lớn, thủy quân Tây Sơn lợi dụng sức gió và sức nước tấn công ào ạt, dũng cảm tiếp cận bám sát chiến thuyền Nguyễn Ánh và chiến hạm của các sĩ quan Âu châu. Tinh thần tấn công dũng mãnh với lối đánh dũng cảm tiếp cận của thủy quân Tây Sơn đã làm cho đại bác và tàu chiến của Âu châu mất hết tác dụng chiến đấu, không phát huy được ưu thế hỏa lực. Ngược lại với lối đánh dũng cảm tiếp cận thủy quân Tây Sơn đã phát huy hết tính năng chiến đấu của vũ khí đánh hỏa công vốn rất lợi hại của thủy quân Tây Sơn. Loại hỏa hổ thủy chiến này của thủy quân Tây Sơn vốn đã làm cho quân Nguyễn khiếp sợ và đã từng làm cho các sĩ quan ngoại quốc kinh hoàng, giờ càng phát huy tác dụng trước lối đánh dũng cảm, táo bạo. Kết quả là thủy quân của Nguyễn Ánh tan vỡ, các tàu đồng tối tân Âu châu cũng phải hoảng sợ tháo chạy, thậm chí chiến hạm gắn 10 đại bác do sĩ quan Pháp Manuel chỉ huy là một chiến hạm lớn cũng bị thủy quân Tây Sơn đốt cháy và Manuel phải bỏ mạng. Trong trận thủy chiến Cần Giờ năm 1782,  thủy quân Tây Sơn với tinh thần dũng cảm tuyệt vời nên đã phát huy cao độ vũ khí sẵn có của mình và đã đánh bại tàu chiến, vũ khí kỹ thuật tối tân tiên tiến nhất của chủ nghĩa tư bản Tây Âu. Thủy quân Tây Sơn đã nêu cao chân lý con người là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh chứ không phải là vũ khí.

Thất bại năm 1782 thật thảm hại, nhưng tàn quân phản động của nhà Nguyễn chưa hết. Giai cấp phong kiến nhà Nguyễn mặc dù đã bị lật đổ, bị đập nát tơi bời nhưng không bao giờ từ bỏ âm mưu phản công lại, mong khôi phục lại địa vị thống trị đã mất. Sau khi đại quân Tây Sơn  rút khỏi Gia Định được một tháng thì Chu Văn Tiếp, một tướng nhà Nguyễn trốn ở vùng núi Lương Sơn lại ra hoạt động, tập hợp tướng sĩ đang tan tác khắp nơi và phản công chiếm lại Gia Định. Tướng Tây Sơn Đỗ Nhân Trập phải mở đường máu chạy về Quy Nhơn. Chu Văn Tiếp cho người đón Nguyễn Ánh trốn ở đảo Phú Quốc về. Bọn cố đạo Bá Đa Lộc cũng lục tục về theo. Để đối phó với cuộc tiến công sắp tới của quân đội Tây Sơn, Nguyễn Ánh ra sức tăng cường lực lượng phòng thủ Gia Định, sai đóng chiến thuyền gấp rút khôi phục lại thủy quân. Tuy vậy, do thất bại của hai lần trước, lần này lực lượng của Nguyễn Ánh yếu đi nhiều và so với quân đội Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã mất ưu thế. Vì vậy Ánh phải tập trung toàn bộ thủy quân, lục quân về phòng thủ Gia Định. Ở phía Nam sông Gia Định, Ánh bố trí đồn Thảo Câu do tướng Dương Công Trừng đóng giữ. Phía Bắc sông có đồn Giác Ngư do tướng Tôn Thất Mẫn chỉ huy. Giữa hai đồn được nối với nhau bằng một chiếc cầu phao qua sông. Trong lòng sông Ánh sai cắm đầy cọc vót nhọn. Trên sông lúc nào cũng dàn sẵn hơn 100 chiến thuyền làm lực lượng cơ động tác chiến do tướng Chu Văn Tiếp chỉ huy. Đặc biệt ở phía ngoài, Nguyễn Ánh bố trí một con rồng cỏ và nhiều bè hỏa công để đốt cháy thủy quân Nguyễn Huệ. Như vậy so với những năm trước, lần này Nguyễn Ánh mất tính tích cực tương đối, chuyển sang phòng ngự đơn thuần. Dù vậy, Nguyễn Ánh đã cố gắng tìm ra cách phòng thủ mới để đối phó với cuộc tấn công của Tây Sơn. Địa thế phòng ngự có lợi cho quân Nguyễn, khu vực phòng ngự rất hẹp, lại tăng binh lực chiến thuyền, công sự, kết hợp giữa bộ binh và thủy binh để tác chiến phòng thủ. Nguyễn Ánh tổ chức phòng thủ ở đoạn sông hẹp nhằm hạn chế sự cơ động của thủy quân Tây Sơn, khiến Tây Sơn không sử dụng được nhiều chiến thuyền đột kích.  Nguyễn Ánh đặt hy vọng rất nhiều ở kỹ thuật đánh hỏa công có thể phá tan được thủy quân Nguyễn Huệ.

Sự cố gắng tuyệt vọng không cứu cho Nguyễn Ánh khỏi thất bại lần thứ hai. Tháng hai năm Quý Mão (1783) thủy quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi ngược dòng tiến vào Gia Định. Nguyễn Huệ đã nắm chắc được kế hoạch phòng thủ và kế hoạch đánh hỏa công của quân Nguyễn để công phá. Ngày 20 tháng 3 năm 1873, vào lúc nước thủy triều dâng lên, gió thuận chiều từ biển thổi vào rất mạnh, Nguyễn Huệ cho hai đội chiến thuyền tấn công vào phòng tuyến Gia Định. Đội chiến thuyền thứ nhất do tướng Nguyễn Văn Kim chỉ huy đánh đồn Giác Ngư ở phía Bắc sông Gia Định, đội chiến thuyền thứ hai do đô đốc Lê Văn Kế chỉ huy đánh vào đồn Thảo Câu ở bờ Nam. Nguyễn Huệ chỉ huy đại đội chiến thuyền tiến vào sau. Thủy quân Tây Sơn rầm rộ tiến đánh, cờ đỏ rợp trời, chiến thuyền như bay trên mặt nước. Một đội chiến thuyền  quân Nguyễn do tướng Lưu Thú Thăng chỉ huy ra nghênh chiến rồi bỏ chạy đã dụ thủy quân Tây Sơn vào khu vực đánh hỏa công để tiêu diệt. Âm mưu của Nguyễn Ánh và các tướng lĩnh nhà Nguyễn không thể thắng được tài dùng binh của Nguyễn Huệ, một nhà quân sự thiên tài biết lợi dụng triệt để yếu tố thiên thời, địa lợi để diệt địch. Chiến thuyền Tây Sơn xuất phát vào lúc nước triều lên, gió thuận chiều và càng tiến gió càng thổi mạnh, sóng dâng càng cao. Được chiều gió, chiến thuyền Tây Sơn ào ạt đánh thẳng vào khu vực hỏa công của địch rất mãnh liệt. Giám quan Tô, tướng điều khiển hỏa công của quân Nguyễn hốt hoảng theo kế hoạch đã định vội vàng hạ lệnh phóng hỏa công hòng đốt phá chiến thuyền Tây Sơn để ngăn chặn bước tiến. Nhưng ngược chiều gió, các bè hỏa công cháy rừng rực lại trôi về đốt phá chiến thuyền quân Nguyễn rất dữ dội, không tài nào dập tắt được. Đại đội chiến thuyền Nguyễn Huệ vừa tới. Thủy quân Tây Sơn tập trung hỏa lực trên chiến thuyền bắn mạnh vào chiến thuyền quân Nguyễn. Bị bè hỏa công đốt phá, lại bị đạn của thủy quân Tây Sơn bắn phá dữ dội, thủy quân của Nguyễn Ánh tan vỡ tháo chạy hỗn loạn. Quân Tây Sơn tràn vào đánh hai đồn Thảo Câu và Giác Ngư. Tướng giữ đồn Thảo Câu là Tôn Thất Mẫn vội đem quân chạy qua cầu phao định rút rào thành Gia Định, nhưng tướng Tây Sơn Lê Văn Kế chặt gãy cầu. Mẫn và toàn bộ quân Nguyễn rơi xuống nước chết. Tại đồn Giác Ngư, tướng Nguyễn là Dương Công Trừng bị bắt sống, toàn bộ tướng sĩ đều đầu hàng. Cánh quân của Chu Văn Tiếp bị quân Tây Sơn truy kích đánh bại hoàn toàn. Chu Văn Tiếp phải chạy sang Xiêm. Phòng tuyến Gia Định hoàn toàn bị phá vỡ, Nguyễn Ánh vội bỏ Gia Định cùng 100 quân chạy về Ba Dòng. Tại đây Nguyễn Ánh tổ chức lại quân đội chống lại quân Tây Sơn ở Đồng Tuyên. Nguyễn Huệ đã dùng lực lượng bộ binh và tượng binh phối hợp tấn công tiêu diệt toàn bộ quân Nguyễn. Nguyễn Ánh phải chạy ra đảo Phú Quốc. Lực lượng quân sự của Nguyễn Ánh hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn.

     Khác với những lần trước, lần này thủy quân Tây Sơn phải tác chiến sâu vào phòng tuyến Gia Định và trên một khu vực hẹp, địa thế có lợi cho đối phương làm cho thủy quân Tây Sơn khó cơ động, không tập trung được nhiều chiến thuyền. Một khó khăn lớn trong khi đánh vào phòng tuyến Gia Định là kẻ thù đã chuẩn bị những bè hỏa công, con rồng cỏ để đốt phá chiến thuyền Tây Sơn. Đánh hỏa công là lối đánh rất lợi hại của thủy quân Việt Nam được dùng phổ biến ở thế kỷ 17-18 đã làm cho các sĩ quan phương Tây phải khiếp sợ. Trong một địa hình như vậy, khi đại bộ phận chiến thuyền Tây Sơn dồn vào tác chiến thì có nguy cơ bị tiêu diệt. Khó khăn lớn càng làm nổi bật tinh thần chiến đấu dũng cảm của thủy quân Tây Sơn và tài chỉ huy của Nguyễn Huệ. Để cho thủy quân Tây Sơn dễ cơ động mà vẫn tập trung được ưu thế binh lực đột kích, Nguyễn Huệ cử hai đội chiến thuyền đi tiên phong, còn đại đội chiến thuyền do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến theo sau. Cách tiến công như vậy làm cho thủy quân Tây Sơn tạo được những mũi nhọn đột kích mà vẫn bảo đảm được sức mạnh tấn công và đề phòng được hỏa công của địch có thể đốt cháy toàn bộ binh thuyền. Để phá kế hoạch hỏa công của địch, Nguyễn Huệ đã triệt để lợi dụng sức gió và  thủy triều. Tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của thủy quân Tây Sơn vẫn là nhân tố quyết định thắng lợi của trận thủy chiến, nhưng yếu tố thiên nhiên rất quan trọng trong cuộc chiến đấu này và hai mặt đó hầu như có mối quan hệ khăng khít với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên những thắng lợi rực rỡ. Bằng tinh thần dũng cảm, thủy quân Tây Sơn không lợi dụng sức gió mà tấn công thì dù có thắng lợi được, thiệt hại cũng không phải là nhỏ, thậm chí bị tiêu diệt khi thủy quân Nguyễn thực hiện được kế hoạch đánh hỏa công. Lợi dụng được chiều gió nhưng không có tinh thần dũng cảm để giết giặc, không dám xông vào khu vực hỏa công đáng sợ của quân Nguyễn thì lại càng thất bại. Tinh thần dũng cảm, táo bạo cộng với mưu trí tài tình lợi dụng sức gió và sức nước đã làm cho thủy quân Tây Sơn chiến thắng oanh liệt, đánh tan thủy quân Nguyễn, làm cho vũ khí của quân Nguyễn lại quay ra thiêu đốt chính chiến thuyền quân Nguyễn. Thành công của danh tướng Nguyễn Huệ và của thủy quân Tây Sơn trong trận thủy chiến này, ngoài việc tổ chức đội hình chiến đấu thích hợp với địa hình còn là ở chỗ tấn công gan dạ và lợi dụng đước sức gió. Đặc biệt trong trận tấn công này sau khi phá tan thủy quân địch, thủy quân Tây Sơn đã tập trung pháo từ  chiến thuyền bắn lên các vị trí của địch trên bộ, phối hợp với bộ binh tác chiến hạ các cứ điểm. Thành công nữa trong trận thủy chiến này là chiến thuật hợp đồng của pháo binh thủy quân với bộ binh. Đó là bước phát triển mới trong nghệ thuật tác chiến của quân đội Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã hoàn thành việc đặt cơ sở cho chiến thuật tác chiến cận đại cho quân đội bách chiến bách thắng của ông.

(Còn nữa)

CVL

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}