Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Việt Nam diễn nghĩa (Tập V - Kỳ 5)

PGS TS Cao Văn Liên | Thứ Tư, 29/07/2020 09:23 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tiếp Tập V " NỘI CHIẾN TRỊNH – NGUYỄN VÀ NHÀ TÂY SƠN" trong bộ Tiểu thuyết Lịch sử "Việt Nam Diễn Nghĩa" của PGS TS Cao Văn Liên do NXB Hồng Đức- Hà Nội ấn hành năm 2020.

Tranh minh họa: Phủ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Nguồn: Internet.

Kỳ 5

II

Mùa hè năm 1627, ánh nắng chói chang rải xuống kinh thành Thăng Long, rải xuống hoàng thành và phía Đông của hoàng thành là phủ chúa Trịnh mọc lên từ sau năm 1623. Phủ chúa cũ thời Trịnh Tùng đã bị Trịnh Xuân đốt cháy rụi khi Xuân không được làm thế tử. Trịnh Tráng sau khi nối ngôi chúa đã xây dựng phủ mới thật nguy nga tráng lệ. Đây là một tòa thành xây bằng gạch hình chữ nhật mà chiều ngang kéo dài từ hồ Tây ra đến bến Tây Long khoảng 6 dặm, chiều dài từ bờ đê sông Hồng nơi có cung Tây Long kéo dài xuống giáp hồ Bảy Mẫu. Trong thành dưới bóng mát của nhiều cây cổ thụ xanh tươi là cung điện lầu son, gác tía, nơi ở và nơi làm việc của gia đình nhà chúa. Phía Tây của thành có cửa chính gọi là Diên Đức Môn thông ra con đường rộng lát đá đối diện với cửa của hoàng thành, nơi ở của triều đình vua Lê. Qua chính môn là cửa Cáp Môn là phủ Tiết chế, từ phủ Tiết chế đi vào Đại điện có sân điện rộng lớn. Chính giữa có thiên gác hai tầng bày nghi trượng, vũ khí, nghi vệ phô bày uy vũ của nhà chúa. Phía sau là nhà Trung Đường, Nghị Sự Đường, Tĩnh Đường. Nội cung còn có lầu Ngũ phượng, là nơi ở của các tuyên phi. Các hành lang nối các cung điện là những dãy nhà nhỏ dài uốn lượn lớp ngói lưu ly, có bao lơn vòng kiểu cách rất đẹp. Sau nội cung là thái miếu, dinh thự dành cho người nhà chúa có nhiều cửa mở thoáng đãng, các cửa đó đồ sộ, chạm trổ cầu kỳ, chất liệu bằng gỗ lim. Tất cả đều lộng lấy xa hoa, sơn son thếp vàng. Trên đường đi trồng nhiều cây hoa lá, nhiều chòi tháp nhỏ, nhiều ao. Vườn ngự uyển sau cung có nhiều hồ lớn như hồ Tả Vọng (hồ Gươm) ở phía Nam, phía dưới là hồ Hữu Vọng (Đông phủ). Chung quanh phủ chúa và ven hồ có nhiều nguyệt đài như tả vọng đình trên hồ Tả Vọng. Quanh bờ hồ trồng nhiều cây cảnh kỳ lạ thu thập từ muôn phương về. Đường đi uốn lượn quanh co, có núi non bộ. Bên hồ có nhiều thạch kiều (cầu đá) với những rặng liễu xanh xõa tóc đung đưa theo gió. Trong vườn có nhiều chim thú kỳ lạ hót véo von. Nổi tiếng trong phủ chúa là hồ Long Trì. Phủ chúa là cảnh thần tiên nơi trần thế.

Ven bờ sông Hồng quanh phủ chúa là các trại thủy binh. Ngoài thành có xây chuồng voi, có kho thuốc súng, bãi duyệt binh, kho súng ống và kho đạn thần công. Bãi duyệt binh còn là nơi tế cờ và nơi thi đấu võ, thi múa đèn. Tổng cộng trong phủ chúa có khoảng 52 cung điện, lâu đài, phủ.

Một ngày mùa hè năm 1627, chúa Trịnh Tráng đang thiết triều ở Nghị Sự Đường. Tham gia gồm tất cả các quan văn võ của phủ chúa như Thế tử Trịnh Tạc, Trịnh Toàn, Trịnh Căn, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến, Nguyễn Khắc Liệt, Lê Văn Hiểu… Chúa Trịnh Tráng nói:


-Hiện nay chúng ta ngoài dồn sức tiêu diệt tàn dư của nhà Mạc ở Cao Bằng, còn phải lưu ý đến sự bất phục tùng của họ Nguyễn Phúc ở Thuận Hóa. Từ năm 1600 khi Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng trốn vào Nam đến nay, trấn thủ Thuận Hóa không nộp thuế, không ra Thăng Long nghe chỉ dụ hàng năm theo quy định. Vừa rồi ta có sai người mang sắc chỉ của hoàng thượng Lê Thần Tông vào Phước Yên đòi Nguyễn Phúc Nguyên hoặc con trai trưởng phải đem thuế ra Thăng Long nộp và nghe phủ dụ, đến nay chưa có hồi âm.

Trịnh Tráng vừa dứt lời thì có quan nội thị vào báo:

-Dạ ,bẩm chúa công, có tùy tướng của Nguyễn Phúc Nguyên từ Thuận Hóa ra muốn xin vào gặp.

Trịnh Tráng nói:

-Cho vào ngay.

-Dạ.

Một lát sau nội thị dẫn tùy tướng của Nguyễn Phúc Nguyên vào. Người đó nói:

-Kính chào chúa công. Chúa công thiên tuế, thiên thiên tuế. Thần là Văn Khuông, thừa lệnh trấn thủ Thuận Hóa ra gặp chúa công.

-Miễn lễ, đứng dậy trình bày đi. Trấn thủ Thuận Hóa Nguyễn Phúc Nguyên hay con ông ta  có ra Thăng Long theo sắc chỉ không?

 Văn Khuông đáp:

-Dạ bẩm chúa công, trấn thủ Thuận Hóa sai mạt tướng ra thu xếp trước rồi Người sẽ ra sau. Đây là món lễ mọn của chúa công tôi dâng chúa công trước để tạ tội ạ.

-Trịnh Tráng nói:

-Đưa lên đây.

Nội thị bê một mâm đồng xếp đầy vàng bạc châu báu đặt lên bàn chúa Trịnh. Trịnh Tráng hỏi Văn Khuông:

-Nguyễn Phúc Nguyên bao giờ thì ra được?

-Dạ, chúa công tôi hiện đã xuất phát, khoảng 10 ngày nữa thì ra đến nơi ạ.

Trịnh Tráng nói:

-Người đâu.

-Dạ, bẩm chúa công.

-Đem Văn khuông về quán dịch nghỉ ngơi ăn uống.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

-Đa tạ chúa công.

Khi Văn khuông đi rồi, Trịnh Tráng bảo quan nội thị.

-Cất vàng bạc và mâm đi.

-Dạ, tuân lệnh chúa công.

Trịnh Tráng tiếp tục nghị sự triều chính, canh giờ sau quan nội thị tay cầm phong thư, tay cầm chiếc mâm đồng đã vỡ vào và tâu:

-Bẩm chúa công, thần nhỡ tay đánh rơi mâm thì mâm bị vỡ, hóa ra là chiếc mâm có hai đáy, bên trong chứa đựng lá thư này ạ.

Cả triều đình nhà Trịnh ngạc nhiên:

-Hả, đựng thư trong mâm hai đáy?

-Sao lại có kiểu ngoại giao kỳ lạ như vậy?

Trịnh Tráng nói:

-Đưa thư lên đây.
-Dạ.

Trịnh Tráng bóc thư ra, bên trong chỉ có một bài thơ ngắn:

“Mẫu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương dịch”.

 Trịnh Tráng đọc đi đọc lại bài thơ ba lần không hiểu bài thơ này nói gì, liền bảo quan nội thị:

-Ta đọc không hiểu. Quan nội thị đọc to và chậm xem có ai hiểu gì không.

-Dạ.

Quan nội thị đọc to chậm ba lần. Trịnh Tráng hỏi:

-Có ai hiểu bài thơ viết gì không xin chỉ giáo.

Bá quan văn võ ngồi im phăng phắc. Thái Bảo Diễm Quận Công Lê Bật Tứ đứng dậy tâu:

-Dạ bẩm chúa công, đây là bài thơ của Đào Duy Từ viết hộ Nguyễn Phúc Nguyên ạ.

Bá quan văn võ ồ lên:

-Hả, Đào Duy Từ tự ví mình là Ngọa Long tiên sinh, tài học cao rộng, kiến thức uyên bác mọi lĩnh vực lừng danh thiên hạ, nay đã vào theo Nguyễn Phúc Nguyên rồi ư?

Trịnh Tráng sốt ruột hỏi:

-Đào Duy Từ viết gì vậy?

-Dạ, bẩm chúa công, câu đầu bắt đầu từ chữ mâu, bỏ một nét phẩy thành ra chữ dư, dư có nghĩa là ta. Câu thứ hai bắt đầu từ chữ mịch, mịch bỏ chữ kiến thành ra là chữ bất tức là không. Câu thứ ba bắt đầu từ chữ ái, ái bỏ chữ tâm thành ra là chữ thụ hay là nhận. Câu cuối là chữ lai ghép với chữ lực thành ra chữ sắc. Toàn bộ bài thơ này có nghĩa là ta không nhận sắc. Nói rõ hơn Nguyễn Phúc Nguyên viết là ta không nhận sắc.

(Còn nữa)

CVL

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}